Ở khu điều dưỡng thương binh tâm thần kinh Nghệ An, có những bác cựu binh trước khi ngủ cứ áp tai vào cái radio nghe chương trình nhắn tìm đồng đội, nghe hết rồi mới gói ghém hành lý cho thật cẩn thận, để sẵn đó. Gói để nghe tiếng máy bay là chạy được ngay. Chiến tranh kết thúc 50 năm rồi. Chuyện này do đạo diễn Đoàn Hồng Lê kể lại trên VTV, sau chuyến bà tới đó làm phim tài liệu.
Đêm ở trại không yên được. Báo chí viết về khu này ghi lại tiếng hét xung phong có thể vang lên bất cứ lúc nào, và theo lời giám đốc trung tâm thì lúc các bác lên cơn, phải 4 thanh niên khỏe mạnh mới giữ yên nổi để tiêm thuốc.
I - NGÀY 27/7
Tên đầy đủ của ngày này là ngày Thương binh Liệt sĩ. Liệt sĩ là người nằm lại, thương binh là người trở về. Theo báo cáo của Bộ Nội vụ tại hội nghị gặp mặt người có công tháng 7 năm 2025, cả nước đã xác nhận hơn 9,2 triệu người có công, trong đó hơn 1,2 triệu liệt sĩ và hơn 650 nghìn thương binh cùng người hưởng chính sách như thương binh.
Mỗi dịp 27 tháng 7, phần lớn bài vở dồn vào nửa thứ nhất: chuyện đi tìm hài cốt, những ngôi mộ chưa có tên, mẹ già chờ con mấy chục năm. Nửa thứ 2 thì ít hơn. Mà trong nửa thứ 2 lại có 1 nhóm gần như không ai nhắc, là những người về nguyên vẹn thân thể nhưng mang theo 1 thứ thương tật không ai cấp giấy được, vì nó nằm trong đầu.
II - TRONG CÁC TRẠI ĐIỀU DƯỠNG
Trong ký ức của nhiều bác ở trại Nghệ An gần như chỉ còn lại những trận đánh. Chỗ khác cũng vậy.
Đài truyền hình Thái Bình có phóng sự về trung tâm điều dưỡng người có công của tỉnh, nơi nuôi gần 70 người, trong đó 38 thương bệnh binh nặng với tỷ lệ thương tật từ 81% trở lên. 1 y sĩ ở đó cho biết lúc ký ức chiến tranh vọng về thì mỗi người 1 kiểu. Người thì la hét ra lệnh xung phong. Người thì đột ngột đứng chào cờ rồi hát vang bài Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Có bác nửa đêm bật dậy khóc thương cho đồng đội vừa mới hy sinh, khóc như chuyện vừa xảy ra hồi chiều. Có bác cứ lặng lẽ ra sau nhà vệ sinh mà khóc 1 mình.
Báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh viết về khu tâm thần thuộc trung tâm điều dưỡng thương binh Long Đất: mỗi cơn kích động có khi kéo dài vài ngày, nhân viên phải huy động mấy người mới khống chế được, và chuyện nhân viên bị thương binh đánh là chuyện thường. Có chị hộ lý làm ở đó 31 năm, quê Ninh Bình, quen rồi lấy 1 anh thương binh, tới khi chồng chuyển vào đây điều dưỡng thì chị theo vào làm hộ lý luôn.
Mấy trại này là chỗ tập trung những ca nặng nhất, những người mà gia đình không tự chăm sóc nổi. Nhưng phần lớn người mang vết thương kiểu đó thì không vào trại. Họ ở ngay trong nhà mình.
III - NGƯỜI Ở NHÀ
Báo Tuổi Trẻ có loạt bài về các nhà báo chiến trường, trong đó 1 bà vợ nhớ lại về chồng: “có thời gian về nhà, đang ngủ ông chồm dậy la lên xuống hầm”. Ông không phải bệnh nhân của trại nào, không có hồ sơ bệnh án nào, ông chỉ là 1 người đàn ông thỉnh thoảng bật dậy giữa đêm trong nhà mình.
Chính đạo diễn Đoàn Hồng Lê ở đầu bài cũng có cha là phóng viên chiến trường Khu V, về nhà từ năm 1968, mà 50 năm sau vẫn còn ác mộng thấy mình đang đi thì gặp máy bay đổ lính xuống càn.
Đây mới là dạng phổ biến. Không lên cơn, không phải trói, không ai bảo là bệnh. Chỉ là ông bố đêm nào cũng thức, nghe tiếng động lớn là giật nảy người, đang yên đang lành thì cáu, rồi lại ngồi im cả buổi. Con cái lớn lên bên cạnh, thấy vậy mà không hiểu vì sao. Hồi đó người ta nói ông ấy bị ảnh hưởng chiến tranh, ông ấy khó tính, ông ấy hay giật mình, chỉ có vậy thôi.
IV - TRONG VĂN HỌC
Khái niệm rối loạn stress sau sang chấn được đưa vào bảng phân loại bệnh của Hội Tâm thần học Mỹ năm 1980, phần lớn nhờ sức ép từ chính phong trào cựu binh Mỹ trở về từ Việt Nam. Ngành y của mình dùng bảng phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới và tiếp cận khái niệm này khá muộn. Tới giờ, đọc tài liệu y khoa trong nước vẫn thấy chỗ mô tả nó như hội chứng của cựu binh Mỹ sau chiến tranh Việt Nam, tức là chuyện của phía bên kia, chưa hẳn là chuyện của mình.
Văn học thì có rất nhiều tác phẩm viết về sang chấn tâm lý ở cựu chiến binh. Bảo Ninh viết Nỗi buồn chiến tranh năm 1987, in 1990, và giới nghiên cứu trong nước sau này đọc nó như 1 cuốn tiểu thuyết chấn thương, có người dùng thẳng chữ đó.
Cả 1 dòng văn học sau 1975 đầy những người lính về tới nhà rồi mà không sống nổi với đời thường. Đọc liền mạch thì thấy đi thấy lại đúng mấy trạng thái mà bây giờ ngành tâm thần liệt ra thành tiêu chuẩn chẩn đoán: mất ngủ, ác mộng lặp lại, ký ức ập về giữa ban ngày, dễ nổi cáu, xa cách với người thân, day dứt vì mình còn sống mà đồng đội thì không.
V - CHU LAI VÀ NGƯỜI LÍNH SỐNG BẰNG DĨ VÃNG
Chu Lai từng là lính đặc công, viết Ăn mày dĩ vãng năm 1991. Nhân vật Hai Hùng là cựu đặc công vùng ven Sài Gòn, thời chiến là tay đánh giặc có hạng, thời bình sống lay lắt, không vợ không con, trong túi không có gì, chỉ có cái quá khứ trong lòng. Cả cuốn sách là hành trình 1 người đi đào lại dĩ vãng của chính mình, và cái tên sách đã nói toạc ra: đi ăn mày cái đã qua.
Chu Lai không tả 1 người lính thất bại vì kém cỏi. Hai Hùng không kém, anh cực giỏi, giỏi tới mức sống sót qua mấy năm ở vùng ven, chỗ mà tỷ lệ chết cao khủng khiếp. Ngặt cái giỏi đó không dùng được ở đâu nữa. Bao nhiêu năm rừng rú, cái phản xạ nghe tiếng động là nằm sấp xuống, khả năng đọc địa hình trong đêm, sự lì lợm chịu đói chịu khát, tất cả trở thành vô dụng khi về thành phố xin việc. Người ta hay tưởng người lính khó hòa nhập là do tâm lý yếu. Đọc Chu Lai thì mình thấy ngược lại, họ khó hòa nhập vì bộ kỹ năng đã giữ cho họ sống sót bỗng nhiên thành thứ bỏ đi trong thời bình.
Hai Hùng không tìm về quá khứ vì quá khứ đẹp, chỗ này mình thấy khớp với tâm lý học bây giờ. Quá khứ của anh ta toàn máu và người chết. Anh ta tìm về vì đó là quãng duy nhất anh ta còn thấy mình là ai đó, còn có chỗ để sống, còn được đồng đội cần. Càng quay về thì càng xa rời hiện tại. Càng xa rời thì lại càng phải bám vào quá khứ để khỏi thấy mình lạc lõng, trống rỗng, cái vòng luẩn quẩn cứ thế siết chặt dần.
Mô típ này lặp ở nhiều cuốn khác của ông: Phố, Vòng tròn bội bạc, Ba lần và một lần… Người lính trong sách Chu Lai hay tự tách khỏi đám đông, ngồi 1 mình, uống 1 mình, và chỉ tìm về với những người còn hiểu mình, tức là đồng đội cũ. Ăn mày dĩ vãng cùng Phố được xét tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2015, nên đây không phải cái nhìn bên lề, nó được thừa nhận hẳn hoi.
Đọc Chu Lai xong thì thấy cái làm Hai Hùng trống rỗng chán chường không phải viên đạn nào. Anh lành lặn, khỏe mạnh, đi lại được, nói năng bình thường, chỉ là không sống được. Với 1 bộ hồ sơ thương tật thì con người đó hoàn toàn bình thường.
VI - NGUYỄN MINH CHÂU VÀ NGUYỄN HUY THIỆP, MỖI NGƯỜI 1 MẢNH KHÁC
Nguyễn Minh Châu viết Cỏ lau năm 1989, chuyện người lính tên Lực trở về sau bao nhiêu năm, nhà đã coi anh như đã chết, vợ đã có cuộc đời khác. Trong truyện có 1 chi tiết giới nghiên cứu hay dẫn: tác giả tả 1 hiệu ảnh mọc lên ở vùng hôm qua còn dày đặc bom đạn, và con người ta phải mất công lắm mới tìm lại được khuôn mặt của mình. Người lính về, đứng trước chính khuôn mặt mình mà thấy lạ lẫm.
Nguyễn Huy Thiệp thì cho ra Tướng về hưu năm 1987. Ông tướng Thuấn cả đời trận mạc, về hưu, ngồi trong căn nhà của con trai giữa lúc gia đình đang xoay xở làm ăn theo lối mới, tính toán từng đồng. Cả cái hệ giá trị ông sống mấy chục năm, đồng đội, kỷ luật, chia nhau từng miếng, sang tới căn nhà này thì không ai xài nữa. Cuối cùng ông xin trở lại đơn vị cũ và chết ở đó.
Ba nhà văn tả 3 mảnh của cùng 1 chuyện. Chu Lai tả người bám vào quá khứ để còn thấy mình có giá. Nguyễn Minh Châu tả người về tới nơi rồi mà không nhận ra chính mình. Nguyễn Huy Thiệp tả người không tìm được chỗ đặt chân trong đời sống mới. Cả 3 viết trước khi ngành y trong nước có khái niệm nào để mô tả mấy trạng thái đó.
VII - KHÔNG CHỈ CÓ CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ
Phần lớn những gì mình đọc được về chuyện này là từ kháng chiến chống Mỹ. Còn 2 cuộc chiến nữa mà lớp lính trở về gần như không được nhắc tới, là biên giới Tây Nam với chiến trường Campuchia kéo dài cả chục năm, và biên giới phía Bắc năm 1979.
Sương Nguyệt Minh từng là lính tình nguyện ở Campuchia cuối những năm 1970, viết Miền hoang năm 2014, chuyện 1 người lính Việt lạc rừng cùng tàn quân Pôn Pốt. Ông thừa nhận cuốn sách bắt nguồn từ chính nỗi ám ảnh của mình về những ngày lạc rừng đói khát.
Bên hồi ký thì có Chuyện lính Tây Nam của Trung Sỹ, Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn, Rừng khộp mùa thay lá của Nguyễn Vũ Điền. Ký ức chiến tranh của Vương Khả Sơn thì viết về 4 năm trận mạc chống Mỹ, in đi in lại tới hơn 5 vạn cuốn, và tác giả sau này dành hơn 10 năm đi tìm mộ đồng đội. Điểm chung của mấy cuốn này là họ không giấu nỗi sợ, chỗ nào sợ thì viết là sợ, khác hẳn giọng quen thuộc trên báo.
Lớp lính Campuchia về nước vào đúng lúc cả nước lo cơm áo thời bao cấp, không lễ đón, không mấy ai hỏi han. Nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của riêng nhóm này tới giờ gần như bằng không, không tìm được 1 khảo sát định lượng nào.
VIII - CHUYỆN GIẤY TỜ
Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020 chia 2 diện chính. Thương binh là người bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% trở lên, chữ dùng trong luật là bị thương, có chỗ đòi rõ phải để lại thương tích thực thể. Bệnh binh là người mắc bệnh với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên. Ngưỡng của bệnh gấp gần 3 lần ngưỡng của vết thương.
Sang chấn tâm lý về bản chất là bệnh chứ không phải vết thương, nên nếu đi thì phải đi cửa bệnh binh với ngưỡng 61%, 1 mức mà rối loạn stress sau sang chấn đơn thuần rất khó đạt tới.
Vậy còn giám định?
Thông tư 22 năm 2019 có phần riêng cho di chứng rối loạn tâm thần và hành vi, nhưng ngay cái tên của nó đã ghi rõ đó là di chứng sau chấn thương, vết thương sọ não. Muốn dùng tới danh mục này thì phải có 1 tổn thương thật ở não làm điểm tựa. Không có tổn thương não thì không dùng vào đâu được.
Cửa thứ 3 là chất độc hóa học. Danh mục bệnh liên quan phơi nhiễm, quy định tại thông tư liên tịch số 20 năm 2016 rồi được kế thừa trong nghị định 131 năm 2021, có mục các rối loạn tâm thần. Nghe thì có vẻ được, mở ra xem thì chỉ có 8 rối loạn, tất cả đều thuộc loại thực tổn, tức là có nguyên nhân sinh học ở não. Tâm thần phân liệt bị loại. Rối loạn stress sau sang chấn cũng không có trong danh sách đó.
Trong cả Pháp lệnh, chỗ duy nhất nhắc thẳng chữ tâm thần là khoản phụ cấp đặc biệt dành cho người có tỷ lệ từ 81% trở lên mà bị tâm thần nặng tới mức không tự lo được sinh hoạt. Tức là tâm thần chỉ được nhắc ở mức nặng nhất, gắn với 1 tỷ lệ thương tật đã rất cao, chứ không đứng riêng thành 1 chẩn đoán.
Nghĩa là theo mình hiểu thì vết thương trong đầu muốn được ghi nhận phải có 1 vết thương ngoài thân đi kèm. Đứng 1 mình thì nó không vào được phần nào cả. Mấy bác đang ở trại Nghệ An hay Thái Bình được hưởng chế độ vì tỷ lệ thương tật của họ đã rất cao rồi, còn ông bố giật mình giữa đêm ở nhà, ở quê thì không.
Dĩ nhiên ý mình không phải ai đó cố tình bỏ quên. Khung pháp lý của mình được xây từ những năm mà cả thế giới chưa có khái niệm rối loạn stress sau sang chấn, còn ngành tâm thần trong nước thì chịu ảnh hưởng của trường phái Liên Xô cũ, vốn nặng về bệnh thực tổn và loạn thần nặng, xếp các rối loạn liên quan sang chấn xuống hàng thứ yếu. Luật viết theo cái hiểu biết hồi đó, sửa lần gần nhất là 2020, mà mục này thì vẫn chưa đụng tới.
IX - THAM KHẢO THÊM BÊN NGOÀI
Bên Mỹ, toàn bộ rối loạn tâm thần được xếp hạng bằng 1 công thức chung, 6 mức từ 0 tới 100%, và cái được đo là mức suy giảm khả năng làm việc với giao tiếp xã hội chứ không phải mức tổn thương thực thể. Người chẩn đoán nhẹ mà mất khả năng lao động vẫn được xếp cao hơn người chẩn đoán nặng mà vẫn đi làm bình thường.
Năm 2010 họ sửa thêm. Trước đó cựu binh phải chứng minh được sự kiện sang chấn đã xảy ra bằng giấy tờ đơn vị. Từ 2010, nếu sang chấn liên quan tới nỗi sợ trước hoạt động thù địch và có bác sĩ tâm thần của cơ quan cựu binh xác nhận, thì lời khai của chính người lính là đủ.
Bằng con số thì theo báo cáo thường niên của cơ quan phụ trách quyền lợi cựu chiến binh Mỹ năm 2024, hiện có hơn 1,58 triệu cựu binh được công nhận khuyết tật do rối loạn stress sau sang chấn, chiếm khoảng 56% tổng số khuyết tật tâm thần được công nhận. Bên mình thì mình tìm chưa thấy thống kê công khai nào tách riêng nhóm bệnh lý tâm thần, vì hệ thống thống kê theo nhóm chính sách chứ không theo mã bệnh.
Khác biệt cơ bản nằm ở chỗ 2 bên trả cho cái gì. Mình trả cho tổn thương cơ thể và ghi công đóng góp, nên đòi 1 tổn hại nhìn thấy được, đo đếm được. Mỹ trả cho phần năng lực lao động và giao tiếp bị mất, nên nguyên nhân hữu hình hay không cũng không quan trọng. Thêm nữa, phong trào cựu binh Mỹ những năm 1970 là 1 lực lượng chính trị có tổ chức, chính họ đẩy được khái niệm này vào bảng phân loại bệnh năm 1980 rồi vào quy định trợ cấp. Bên mình không có nhóm vận động tương đương, và trong cách nghĩ chung thì sự chịu đựng của người lính hay được coi là phẩm chất chứ không phải 1 tổn thương cần bồi thường.
X - NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Nửa thế kỷ sau chiến tranh, mình gần như chưa có 1 khảo sát lớn nào của chính mình về sang chấn tâm lý ở cựu binh Việt Nam.
Nghiên cứu dân số lớn nhất chạm tới chuyện này là khảo sát Sức khỏe và Lão hóa Việt Nam năm 2018, trên hơn 2.400 người cao tuổi ở 4 huyện thuộc đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Khảo sát đó do Đại học Utah của Mỹ chủ trì, phối hợp Đại học Y Hà Nội, tiền tài trợ từ viện y tế quốc gia của Mỹ. Mẫu là người già sống sót sau chiến tranh nói chung, khoảng 2/3 từng tham gia hoạt động quân sự dưới dạng nào đó, phần còn lại là dân thường, nên nó không phải nghiên cứu về cựu binh thuần túy.
Kết quả là hơn 30% từng mất người thân trong chiến tranh, hơn 51% từng chứng kiến người chết hoặc bị thương, khoảng 35% từng sống trong cảnh thiếu ăn và sợ bị thương, bị chết. Về biểu hiện thì than phiền hay gặp nhất là mệt mỏi, hơn 68%, rồi tới rối loạn tiêu hóa, gần 39%. Ý nghĩ tự sát trong tháng qua gặp ở 9,5%.
Nghiên cứu tiền thân năm 2014 trên hơn 400 người thấy phơi nhiễm sang chấn chiến tranh gắn rõ với sức khỏe thể chất kém và các triệu chứng cơ thể, mà lại không gắn rõ với triệu chứng trầm cảm. Nhóm tác giả nêu giả thuyết người Việt biểu đạt đau khổ tâm lý theo lối khác, thiên về than phiền cơ thể, ít nói thẳng chuyện trong lòng. Đau đầu, mất ngủ, ăn không tiêu, người mệt rã, đó mới là cách nhiều ông bác nói về cái đau của mình. Mà mấy thang đo nhập từ nước ngoài lại hỏi thẳng vào cảm xúc, nên hỏi không ra.
Ngoài khảo sát đó, phía Việt Nam chỉ có nghiên cứu nhỏ lẻ, có 1 bài đăng tạp chí tâm lý học năm 2012 phỏng vấn sâu 27 cựu chiến binh, ghi nhận đa số có triệu chứng sang chấn và giảm dần theo thời gian. Mình không tìm được luận án hay bài báo lâm sàng nào của các viện quân y hay bệnh viện lớn đo tỷ lệ này trên 1 mẫu cựu binh cỡ lớn.
Cho nên mấy con số hay được dẫn trên mạng, 15%, 30%, mấy trăm nghìn người, đều là số của cựu binh Mỹ, không đem áp cho cựu binh mình được. Số của mình thì tới giờ vẫn chưa ai nghiên cứu.
XI - ĐỜI CON
Có bằng chứng khá vững rằng người lính mang sang chấn thì vợ con chịu ảnh hưởng. Nghiên cứu ở Croatia trên 56 người vợ của cựu binh có sang chấn thấy 22 người mang triệu chứng gần giống chồng dù bản thân không ra trận. 1 tổng hợp đăng trên tạp chí Journal of Traumatic Stress năm 2014 gom 42 nghiên cứu về cha mẹ có triệu chứng sang chấn và con cái, cho ra mức liên hệ trung bình. Còn ở Israel, giáo sư Zahava Solomon theo dõi hơn 100 cựu tù binh chiến tranh Yom Kippur suốt mấy chục năm, thấy 30 năm sau chiến tranh vẫn còn hơn 23% đạt tiêu chuẩn bệnh, so với gần 4% ở nhóm đối chứng, tức là thời gian không tự chữa được.
Cái ảnh hưởng truyền đi gần như hoàn toàn qua chuyện sống chung. Người cha tê liệt cảm xúc thì ít ôm ấp, ít đáp lại con. Người cha dễ nổi cáu thì cả nhà thành nơi phải dè chừng. Có nghiên cứu ở Campuchia chỉ ra 1 đường rất cụ thể: đứa con phải làm chỗ dựa tinh thần cho cha mẹ từ khi còn nhỏ, và chính cái đó dẫn tới lo âu ở đứa trẻ chứ không phải bản thân ký ức của người mẹ.
Nhưng mình thấy bằng chứng cho chuyện di truyền còn rất yếu. Nghiên cứu được dẫn nhiều nhất chỉ có 32 người sống sót và 22 người con, nhóm đối chứng còn nhỏ hơn. Ở người thì không tách được đâu là ảnh hưởng lúc còn trong bụng mẹ, đâu là ảnh hưởng của việc được nuôi dạy thế nào, đâu là gene bình thường. Nói cái đau nằm trong máu nghe rất kêu, nhưng khoa học chưa cho phép nói vậy.
Nghiên cứu theo dõi 23 năm trên cộng đồng người Việt tị nạn ở Na Uy thấy tuy khoảng 30% gia đình có cha hoặc mẹ đạt ngưỡng bệnh lý, chỉ khoảng 4% con cái là ca có khả năng mắc. Nhóm tác giả kết luận thẳng rằng không thể coi con của người tị nạn nói chung là nhóm nguy cơ. Loạt tổng hợp trên hàng nghìn con cháu người sống sót Holocaust cũng cho kết quả tương tự, các tổn thương từng được báo cáo chỉ thấy ở nhóm đã đi tìm điều trị, còn mẫu cộng đồng thì không khác nhóm bình thường.
Ảnh hưởng lên đời con là có thật, đong đếm được, nhưng phần lớn con cái vẫn lớn lên bình thường, lành lặn. Cái đó cũng là 1 phát hiện khoa học chứ không phải câu an ủi cho đủ bộ.
Ngày 27 tháng 7 tri ân cả 2 nửa, mà hoa với hương thì gần như chỉ tới được nửa thứ nhất. Trong trại ở Nghệ An, tối hôm đó cũng như mọi tối, mấy bác vẫn gói hành lý để sẵn.