“Bố mới 7 tuổi đã phải đẩy xe hàng đi hết làng này sang làng khác.” “Cả nhà ngủ chung 1 phòng.” “Bây giờ ai hiểu được thế là thế nào! Bọn trẻ con biết gì!”

Mấy câu này mà đặt vào phần bình luận của nhóm “con ghét bố mẹ” thì chắc chẳng ai thấy lạ. Nhưng người nói lại là ông Hermann Kafka, 1 người buôn bán ở Praha, nói với con trai từ hơn 100 năm trước. Cậu con trai nghe mãi rồi ngồi gõ máy chữ 45 trang thư trả lời bố, cậu ấy là Franz Kafka, người viết Hóa thân.

I - LÁ THƯ 45 TRANG

Tháng 11/1919, Kafka 36 tuổi, viết thư cho bố. Thư mở đầu bằng câu “Gần đây bố có hỏi con vì sao con bảo là con sợ bố”. Kafka viết rằng như mọi lần, con không biết trả lời ra sao, 1 phần vì chính nỗi sợ ấy, 1 phần vì muốn giải thích thì phải kể nhiều chuyện quá, nói miệng không xuể.

Rồi ông ghi lại cách bố nhìn chuyện này, ghi kỹ đến mức đọc lên cứ như ông Hermann đang nói. Bố làm lụng vất vả cả đời, hy sinh tất cả cho các con, nhất là cho con, nhờ thế con được sống sung túc, muốn học gì thì học, chẳng phải lo đến miếng ăn. Bố không đòi con biết ơn (vì bố biết “lòng biết ơn của con cái” là thế nào rồi), chỉ mong con tỏ ra có chút tình cảm, vậy mà con lúc nào cũng trốn bố, trốn vào phòng, vào sách, vào đám bạn dở hơi, chưa nói chuyện thật lòng với bố bao giờ. Gom lại thì bố trách con lạnh nhạt, xa cách, vô ơn.

Kafka trả lời rằng con cũng tin bố hoàn toàn không có lỗi gì trong chuyện 2 bố con xa nhau, khổ nỗi con cũng hoàn toàn không có lỗi. Ông còn viết rằng con chưa bao giờ nghi ngờ lòng tốt của bố đối với con.

II - CHUYỆN KHOAI TÂY

Xin thưa, ông Hermann vất vả thật, chẳng ai cãi. Mấy câu ở đầu bài là Kafka ghi lại trong thư, kèm thêm vài câu nữa, “Có khoai tây mà ăn là mừng lắm rồi”, “Mấy năm liền chân bố lở loét vì không đủ áo ấm”. Ông bảo bố kể những chuyện ấy là để trách con, kể nhiều đến mức chúng đã hằn thành rãnh trong óc ông. Bạn đọc nhóm kia sẽ thấy bố mẹ của các bạn trẻ cũng nói y như thế, chỉ khác là khoai tây thì thay bằng khoai lang.

Kafka viết rằng những chuyện ấy kể ra đáng lẽ dạy con được nhiều, giúp con chịu được khổ như bố từng chịu. Ngặt cái ông Hermann chẳng muốn con khổ như mình thật. Đứa con nào muốn rời nhà đi tự lập như bố ngày xưa thì ông gọi là vô ơn, hoang phí, ngỗ ngược, phản bội, điên rồ. Em gái Kafka là Ottla bỏ phố về quê trông coi 1 trang trại, làm đúng thứ việc nặng nhọc bố vẫn kể, ông Hermann cũng chẳng vui gì.

III - ĐÊM Ở HÀNH LANG

Trong thư có 1 chuyện hồi Kafka còn rất nhỏ, chuyện duy nhất của mấy năm đầu đời ông còn nhớ được. 1 đêm ông cứ rên rỉ đòi nước, ông tự nhận chắc gì đã khát, phần để chọc tức, phần cho vui. Dọa dẫm mấy lần không ăn thua, ông Hermann lôi con ra khỏi giường, bế ra pavlatche (tiếng Séc, tức cái hành lang dài chạy quanh sân trong của mấy ngôi nhà cổ ở Praha), để con đứng đó 1 mình 1 lúc trong bộ đồ ngủ, cửa đóng lại.

Kafka không bảo bố làm thế là sai, có khi đêm ấy chẳng còn cách nào khác cho yên. Sau đó ông ngoan hẳn nhưng ông viết rằng từ đấy ông bị tổn thương ở bên trong. Nhiều năm sau ông vẫn ám ảnh mãi 1 ý nghĩ: người đàn ông khổng lồ ấy, bố mình, người phán xử cuối cùng, có thể chẳng vì lý do gì mà đến lôi mình ra khỏi giường giữa đêm, bế ra hành lang, tức là với bố, mình chẳng là cái gì cả.

Ông cũng thừa nhận là bố hầu như chưa bao giờ đánh ông thật. Có điều tiếng quát, khuôn mặt đỏ lên, cái cảnh bố vội tháo dây đeo quần rồi vắt sẵn lên lưng ghế, với ông còn khổ hơn bị đánh. Ông ví như người bị đưa ra pháp trường, treo cổ thật thì chết là xong, còn bị dắt qua đủ các bước rồi đến lúc thòng lọng lủng lẳng trước mặt mới được tha thì có khi phải khổ suốt đời. Mỗi lần được tha như thế, ông chỉ thấy mình có lỗi về mọi phía, mắc nợ bố.

Câu bố hay nói nhất là “Không được cãi 1 lời!”, kèm theo cánh tay giơ lên. Kafka viết rằng vì thế ông nói năng ấp úng, rồi im hẳn, lúc đầu có khi vì bướng, về sau vì đứng trước bố ông không nghĩ nổi, không nói nổi. Ông Hermann trách con chưa bao giờ nói chuyện thật lòng với bố, Kafka trả lời lời trách ấy bằng chính đoạn này.

IV - NGƯỜI GHÉT LẠI LÀ BỐ

Thư cũng có chữ ghét nhưng người ghét trong thư lại là bố. Kafka viết rằng những lúc bình thường bố chỉ thấy ghét Ottla, chính bố từng thú nhận với ông là bố nghĩ con bé cố tình làm bố khổ. Còn về mình, Kafka viết 1 ý ngược đời: giá mà cách bố dạy khiến con bướng lên, ác cảm, thậm chí ghét bố, thì có khi con lại đứng được trên đôi chân mình, ngặt nỗi mẹ đã lấy sự dịu dàng xóa đi hết.

Viết gần hết thư, Kafka tự viết hộ bố 1 đoạn trả lời, viết rất gắt. Trong đoạn ấy ông Hermann bảo con làm ra vẻ tha lỗi cho bố, thực ra là ngầm đổ hết lỗi lên bố. Con đánh nhau với bố theo kiểu loài sâu bọ, vừa đốt vừa hút máu người ta mà sống. Con không sống nổi đời mình nên bắt bố phải chịu thay, con giả dối, khúm núm, ăn bám, ngay cả lá thư này cũng là con đang bám vào bố mà sống.

Rồi Kafka đáp rằng cả đoạn cãi ấy là con viết, bố có nói đâu, nỗi ngờ vực bố dành cho người ngoài cũng không bằng nỗi ngờ vực con dành cho chính mình, mà cái ấy cũng do bố gieo vào con. Ông thừa nhận đoạn cãi ấy có phần đúng. Ông bảo đời sống đâu có khớp vào nhau gọn gàng như chứng cứ trong 1 lá thư, có sửa thêm như thế rồi thì có lẽ đã đủ gần sự thật để 2 bố con yên lòng hơn 1 chút, sống và chết nhẹ nhàng hơn.

V - LÁ THƯ KHÔNG ĐẾN TAY BỐ

Kafka đưa thư cho mẹ, nhờ mẹ chuyển cho bố. Theo lời Max Brod (bạn thân của ông), bà mẹ không chuyển mà trả lại thư cho con, có lẽ bà biết có đưa thì cũng chẳng thay đổi được gì.

Đầu tháng 7/1920, Kafka gửi lá thư cho Milena Jesenská, người phụ nữ ông đang yêu, dặn cô giữ cho cẩn thận vì biết đâu 1 ngày nào đó ông vẫn muốn đưa cho bố, cũng đừng cho ai khác đọc. Ông dặn thêm cô đọc thì nhớ đây là thư của 1 tay luật sư, đầy mánh khóe nhà nghề (Kafka học luật, đi làm ở 1 cơ quan bảo hiểm). 1 tháng sau, ông gọi nó là lá thư tồi và chẳng cần thiết.

Về sau lá thư ấy được in thành sách, theo những gì còn lại thì ông Hermann chưa từng đọc. Mấy đứa trẻ trong nhóm kia thì viết cho bố mẹ mà đăng lên cho người lạ đọc.

VI - TẤM BIA CHUNG

Kafka mất tháng 6/1924, lúc 40 tuổi, chưa lấy vợ, cả đời vẫn là con của bố mẹ. Người ta đưa ông về Praha chôn ở khu mộ của gia đình, mấy năm sau bố mẹ ông cũng nằm xuống đó. Bây giờ trên tấm bia chung, tên Kafka khắc ngay phía trên tên bố.