Gọi điện về quê, mẹ cầm máy thì kể cả buổi, nào đau lưng, mất ngủ, nào con nhà bác bên cạnh sắp cưới vợ. Đến lượt bố thì chỉ 1 câu: “bố vẫn khỏe, không sao đâu”, rồi “thôi, đưa máy cho mẹ”. Ông chồng đi làm về, mặt nặng như chì, vợ hỏi có chuyện gì thì “có gì đâu”, rồi ra ban công đứng hút thuốc hoặc gọi mấy ông bạn đi nhậu, nhậu về lăn ra ngủ. Thằng con trai 5 tuổi ngã trầy đầu gối, khóc ầm lên, thể nào cũng có người bảo: con trai không được khóc, khóc là con gái đấy.

Thế rồi có nhà phải đến lúc ông bố nằm viện mới biết ông mất ngủ cả năm nay, có nhà mãi tới khi chủ nợ tìm đến cửa mới biết ông làm ăn thua lỗ từ đời nào.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đàn ông chết vì tự sát nhiều gấp 2 đến 4 lần đàn bà. Năm 2021, trên toàn thế giới, cứ 100.000 đàn ông thì có 12,3 người chết vì tự sát, đàn bà là 5,6 người [1]. Thomas Joiner, nhà tâm lý học Mỹ chuyên nghiên cứu tự sát, đưa thêm 1 con số: người tìm cách tự sát thì đàn bà nhiều gấp 3 đàn ông, còn người chết thật thì đàn ông nhiều gấp 4 đàn bà [2]. Nghĩa là đàn bà kêu nhiều hơn, mà đàn ông ít kêu lại chết nhiều hơn.

Vậy xin hỏi, sao đàn ông càng tỏ ra cứng lại càng không nói được mình buồn?

I - NHỮNG LÁ THƯ NĂM 1928

Nói tới đàn ông cứng thì khó ai qua được Ernest Hemingway, nhà văn Mỹ được giải Nobel văn chương năm 1954. Ông lái xe cứu thương ở mặt trận Ý thời Thế chiến 1 rồi bị thương nặng, đi săn thú lớn ở châu Phi, mê đấu bò, làm phóng viên ở nội chiến Tây Ban Nha, đi săn tàu ngầm Đức ở vùng biển Caribe [3]. Năm 1954, phóng viên Robert Manning tới nhà ông ở Cuba, ghi lại rằng trên người ông lúc ấy có 1 bên thận bị rách, sọ bị nứt, 3 đốt sống bị dập và nứt, bỏng nặng sau vụ rơi máy bay ở Uganda, lại thêm nửa tá vết thương ở đầu, hơn 200 vết mảnh đạn, 1 xương bánh chè bị bắn vỡ, vết thương ở bàn chân, bàn tay, ở háng [4]. Người ta coi ông là hình mẫu của đàn ông đích thực.

Ngày 6/12/1928, bố ông, bác sĩ Clarence Hemingway, tự sát ở nhà tại Oak Park, ngoại ô Chicago. Hôm sau báo Chicago Tribune đưa tin, viết rằng khẩu súng ông dùng là khẩu súng lục mà cụ Anson, bố ông, đã đeo suốt những năm chỉ huy quân lính trong Nội chiến Mỹ [5]. Ông bố bị đau thắt ngực, bị tiểu đường, đau tới mức mất ngủ, lại dồn hết tiền tiết kiệm lẫn gia tài cụ Anson để lại vào đất đai ở Florida rồi mất trắng [5]. Mấy tháng trước đó, ông viết thư hỏi con trai có đi chơi núi Smoky với bố được không, viết “bố đã rất muốn đi”, rồi ít hôm sau lại viết rằng bố sẵn lòng bỏ chuyến ấy [5].

Theo lời Hemingway, tối thứ 2 tuần ấy, trên chuyến tàu đi New York, ông viết cho bố 1 lá thư dài, “bảo bố đừng lo, cứ giữ vững tinh thần, nhất là đừng lo chuyện tiền nong vì con lúc nào cũng xoay được tiền từ nhà xuất bản”. Thư về tới nhà hôm thứ 5, “20 phút sau khi bố tôi đi lên gác” và tự sát [5]. Lúc nhận điện báo, ông đang ngồi tàu từ New York về Florida với thằng con trai 5 tuổi. Ông gửi con cho người phục vụ toa giường nằm trông nom, đánh điện vay tiền nhà văn Scott Fitzgerald mua vé, rồi đổi tàu đi Chicago [6].

Trong 2 tuần sau đó, bà Eleanor Chase, 1 nhà văn vừa gửi tặng ông cuốn tiểu thuyết, nhận được bức điện: “ở ga mới biết bố tôi mất hôm thứ 5 nên không nhận được sách nhưng cảm ơn chị đã gửi” [5]. Thư cho Fitzgerald thì cảm ơn khoản 100 đô, hứa về tới nhà sẽ trả, chen vào giữa 1 dòng: “bố tôi tự sát, chắc anh đọc báo rồi”, cuối thư thêm: “tôi quý bố tôi lắm, giờ thấy tệ quá, lại đang ốm, không viết thư nổi, chỉ muốn cảm ơn anh” [5].

Thư cho Maxwell Perkins, người biên tập sách của ông, thì viết: “tôi biết việc của tôi lúc này là đừng lo nghĩ gì mà làm việc, viết cho xong cuốn sách để lấy tiền giúp nhà”, rồi “anh không cần viết thư chia buồn đâu”, rồi kê ra 1 lượt: tiền bảo hiểm 25.000 đô, nợ thế chấp nhà 15.000 đô, mấy mảnh đất vô giá trị ở Michigan, Florida năm nào cũng phải đóng thuế, mẹ với 2 đứa em, 1 đứa 12, 1 đứa 16 tuổi, còn ở nhà [5].

Bạn ông là họa sĩ Henry Strater viết thư hỏi thăm, ông trả lời: “viết về bố tôi thì chả ích gì, việc ấy để tôi lo”, rồi đùa luôn: “làm ơn đừng có tự sát, cũng đừng mổ đẻ gì sất cho tới khi lão Hem viết xong cuốn sách này. Cũng đừng có tiêu sạch tiền. Tôi báo trước, chưa xong cuốn này thì tôi chưa nuôi thêm ai được đâu” [5].

Bạn đọc lại mấy lá thư ấy sẽ thấy chuyện bố mất chỉ chiếm 1, 2 dòng trong mỗi lá, kẹp giữa khoản vay 100 đô, cuốn tiểu thuyết được tặng, món nợ thế chấp. Ông kể rất kỹ những việc phải làm, lo đám tang, tính tiền, viết cho xong sách. Còn ông thấy thế nào thì gói trong đúng 1 chữ “tệ”, rồi đổ cho cảm cúm.

24 năm sau, năm 1952, ông mới viết cho Charles Scribner con, ông chủ nhà xuất bản: “tôi nhớ là tôi đã không để cái chết của bố động gì tới mình cho tới khi sửa xong bản thảo Giã từ vũ khí. Xong việc rồi nó mới ùa vào”. Cuốn tiểu thuyết viết sau đó, ông bảo, viết bằng 1 trái tim đã bị đốt (chữ ông dùng là cauterized, như bác sĩ đốt vết thương cho cầm máu) và ông mừng là mình đủ khôn để không cho xuất bản nó [6].

II - NICK VÀ BỐ

Trong tập truyện ngắn In Our Time, xuất bản năm 1925, 3 năm trước khi bố mất, Hemingway có truyện Indian Camp (Trại người da đỏ). Cậu bé Nick theo bố là bác sĩ chèo thuyền sang trại người da đỏ bên kia hồ. Có 1 chị chuyển dạ 2 ngày rồi mà không đẻ được, kêu la suốt. Nick hỏi bố có thuốc gì cho chị ấy thôi kêu không. Bố trả lời: “không, bố không có thuốc mê. Nhưng tiếng kêu của chị ấy không quan trọng. Bố mặc kệ, không để tai tới, vì nó không quan trọng” [7].

Kêu thì vẫn kêu, ông vẫn nghe rõ, chỉ là ông tập cho mình coi như không nghe thấy. Ông mổ lấy đứa bé bằng 1 con dao nhíp, khâu bằng sợi cước câu cá, xong việc thì hớn hở như cầu thủ trong phòng thay đồ sau trận bóng.

Suốt từ đầu, người chồng nằm ở giường tầng trên, chân bị rìu bổ vào từ 3 hôm trước, mặt quay vào tường, không nói 1 lời. Ông bác sĩ còn bảo “mấy vụ này người khổ nhất thường là ông bố”, rồi khen: “phải nói là anh này chịu trận giỏi, chả kêu ca tiếng nào”. Đến lúc kéo chăn ra, ông mới thấy người chồng đã tự sát từ lúc nào [7].

Trên đường về, Nick hỏi bố sao chú ấy lại tự sát, bố bảo: “bố không biết, Nick. Chắc chú ấy không chịu nổi”. Nick hỏi đàn ông có nhiều người tự sát không, bố bảo “không nhiều lắm”. Hỏi đàn bà thì sao, bố bảo “hầu như không bao giờ”. Truyện kết bằng chuyện Nick ngồi đuôi thuyền, bố chèo, mặt trời vừa lên, cậu “tin chắc là mình sẽ không bao giờ chết” [7].

Ông bố trong truyện dạy con rằng tiếng kêu đau thì không cần để tai tới, rồi quay sang khen người không kêu là chịu đựng giỏi. Ông bác sĩ giỏi nghề thế mà không biết người đàn ông nằm cách mình 1 sải tay đang muốn chết, vì anh ta im lặng, mà im lặng thì ông cho là tốt.

Năm 1933, bố mất được hơn 4 năm, Hemingway viết truyện Fathers and Sons (Cha và con). Nick giờ 38 tuổi, lái xe qua miền nam nước Mỹ, thằng con ngủ ở ghế bên, nhìn đồng ruộng thì nhớ bố. Cái Nick nhớ đầu tiên là đôi mắt, bố nhìn xa như đại bàng, đếm được cả đàn cừu bên kia hồ. Rồi Nick nghĩ: bố là người rất đa cảm, “và như phần đông những người đa cảm, ông vừa tàn nhẫn vừa bị người ta đối xử tệ bạc”, ông “chết trong 1 cái bẫy mà ông chỉ góp tay giăng 1 ít” [7].

Có lần bố bắt Nick mặc bộ đồ lót cũ của bố. Nick ghét mùi người bố, cởi ra giấu dưới tảng đá ngoài suối rồi bảo là làm mất, thế là bị bố quất roi vì tội nói dối. Sau trận đòn, Nick ngồi trong nhà kho củi, cửa mở, khẩu súng săn đã lên đạn, nhìn sang bố đang ngồi đọc báo ngoài hiên, nghĩ: “mình có thể cho ông ấy xuống địa ngục. Mình có thể giết ông ấy”. Rồi Nick hết bực tức, thấy hơi buồn nôn vì đó lại là khẩu súng bố cho. “Từ năm 15 tuổi, cậu không còn chia sẻ gì với bố nữa” [7].

Nick nhớ cả gương mặt bố lúc nằm trong quan tài, người khâm liệm sửa sang rất khéo, Nick còn khen ông ta. Nhưng gương mặt cuối cùng ấy đâu phải do người khâm liệm làm ra, “gương mặt ấy đã tự thành hình từ rất lâu”, “thành hình nhanh trong 3 năm cuối”. Nick nghĩ: “nếu viết ra thì cậu sẽ trút được nó đi. Cậu đã trút được nhiều thứ bằng cách viết ra. Nhưng vẫn còn sớm quá”, vì “vẫn còn nhiều người sống quá” [7].

Thằng con tỉnh dậy, hỏi ông nội thế nào. Nick bảo: “khó tả lắm. Ông là thợ săn, câu cá giỏi, có đôi mắt tuyệt vời”. Thằng bé hỏi sao nhà mình chưa bao giờ đi viếng mộ ông, Nick bảo nhà mình ở xa quá. Thằng bé hỏi bao giờ con được cầm súng đi săn 1 mình, Nick bảo 12 tuổi, nếu bố thấy con cẩn thận [7].

Hồi bé, bố Nick chỉ cho con 3 viên đạn 1 ngày, bảo thế mới học được cách săn. Nick ngồi cạnh con trai mà nghĩ 1 mình suốt cả quãng đường. Đàn ông nhà này cho nhau súng, cho nhau đạn, dạy nhau cách câu cá. Còn con hỏi ông nội là người thế nào thì Nick chỉ bảo “khó tả lắm”, chuyện ông chết ra sao thì không nhắc tới 1 chữ.

III - KHẨU SÚNG CỦA ÔNG NỘI

Năm 1940, Hemingway cho ra mắt tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai (For Whom the Bell Tolls). Robert Jordan, giảng viên tiếng Tây Ban Nha người Mỹ, sang Tây Ban Nha theo du kích đi phá cầu. Đêm trước trận phá cầu, Jordan nằm nhớ ông nội.

Ông nội đi lính 4 năm trong Nội chiến Mỹ, có 1 khẩu súng lục cất trong ngăn kéo, lau dầu sạch bóng. Hồi bé Jordan hỏi ông đã giết ai bằng khẩu súng ấy chưa, ông bảo “rồi”. Hỏi khi nào, ông bảo trong Nội chiến và cả sau đó nữa. Jordan xin ông kể, ông bảo: “ông không muốn nói về chuyện ấy, cháu ạ” [8].

Về sau, bố Jordan tự sát bằng chính khẩu súng ấy. Đám tang xong, nhân viên điều tra trả lại khẩu súng, bảo chắc cậu muốn giữ, vì bố cậu quý nó lắm. Hôm sau Jordan cưỡi ngựa lên núi, tới 1 cái hồ người ta bảo sâu tới 800 bộ (gần 250 mét), trèo ra 1 tảng đá, thấy mặt mình dưới nước, tay cầm khẩu súng, rồi thả nó xuống, nhìn nó chìm dần cho tới khi mất hút. Thằng bạn đi cùng tên Chub bảo: “tớ biết sao cậu làm thế”. Jordan đáp: “thế thì mình khỏi phải nói chuyện ấy”. Từ đó 2 đứa không bao giờ nhắc lại [8].

Thì đấy, 3 đời đàn ông, ông nội không kể, bố không nói, đến lượt cháu thì ném khẩu súng xuống hồ rồi cũng không nói.

Jordan nghĩ về bố thế này: “tôi sẽ không bao giờ quên lần đầu tiên biết ông ấy là đồ hèn, tôi thấy buồn nôn thế nào”, “ông ấy chỉ là 1 kẻ hèn, mà đó là cái vận rủi nhất 1 người đàn ông có thể gặp. Vì nếu ông không hèn thì ông đã đứng lên chống lại người đàn bà ấy, không để bà ta bắt nạt” (người đàn bà ấy là mẹ Jordan). Rồi Jordan nghĩ tiếp: “ai cũng có quyền làm việc ấy. Nhưng đó không phải việc tốt. Tôi hiểu nhưng tôi không tán thành”, “phải mải lo cho bản thân lắm mới làm được 1 việc như thế” [8]. Cuối truyện, Jordan gãy chân, nằm 1 mình chờ quân địch tới, đau quá, nghĩ: “tôi không muốn làm cái việc mà bố tôi đã làm” [8].

Ngoài đời, Hemingway cũng nghĩ y như Jordan. Năm 1949, ông viết cho ông chủ nhà xuất bản là Charles Scribner: “tôi ghét bà ấy tận xương tủy, bà ấy cũng ghét tôi. Bà ấy đã ép bố tôi tự sát” [6]. Năm 1954, ngồi với Manning, ông nhắc tới 1 nhà văn trẻ vừa chết, rồi tự dưng nói: “anh biết đấy, bố tôi tự sát”. Cả 2 im lặng. Manning hỏi ông có nghĩ việc ấy cần can đảm không. Ông lắc đầu: “không. Ai cũng có quyền nhưng trong đó có 1 phần ích kỷ, 1 phần coi thường người khác”. Nói xong ông cầm 1 xấp sách đưa cho Manning, bảo đọc trước khi tắt đèn đi ngủ, rồi không nhắc thêm nữa [4].

Có lần ông viết cho 1 ông tướng là bạn cũ: “ai muốn diễn thuyết về nỗi buồn? Ai muốn ba hoa chuyện bố mình tự sát, hay chuyện mẹ mình cướp phần gia tài của mình? Byron thì may ra, tôi thì không” [4].

Muốn hiểu vì sao bố chết, Hemingway chỉ nghĩ ra được 2 lối, bố hèn hoặc mẹ ép. Đi lối nào thì cũng chẳng ai phải nhắc tới chuyện bố buồn. Ông bố đau ngực, mất ngủ hàng tháng, mất sạch tiền, chính Hemingway đã kê ra cho Perkins từng khoản một. Nhận rằng bố buồn tới mức ấy, tức là nhận rằng 1 người đàn ông, lại là người sinh ra mình, có thể buồn tới mức ấy. Mình nghĩ gọi bố là đồ hèn thì Hemingway thấy dễ chịu hơn, vì ông thì đâu có hèn.

Tháng 1/1936, trong thư cho mẹ vợ, ông kể mình mất ngủ suốt 3 tuần, 2 giờ sáng dậy ra nhà nhỏ ngồi viết tới sáng: “trước giờ tôi chưa bao giờ bị cái chứng u uất thật sự, giờ bị 1 lần thì cũng mừng, để biết người ta phải chịu những gì. Nó làm tôi bao dung hơn với chuyện đã xảy ra với bố tôi”. Có điều ngay câu sau ông giải thích là tại ít vận động, đầu óc với thân thể cũng như cái máy, thiếu dầu mỡ thì sinh hỏng hóc, rồi chốt: “dù sao giờ tôi khỏe rồi” [6].

IV - ÔNG GIÀ VÀ THẰNG BÉ

Thomas Joiner, nhà tâm lý học mình nhắc ở đầu bài, cũng có bố tự sát, năm 1990. Lần cuối Joiner gặp bố là chuyến đi biển của cả nhà, 2 bố con đi câu cá, nói chuyện giải bóng rổ NBA, chuyện 1 vụ mua bán cổ phiếu bố vừa làm ăn được, bố rất tự hào. 6 tuần sau thì bố mất, không nói lời từ biệt với vợ con [2].

Theo Joiner, chỉ muốn chết thôi thì chưa đủ. Người ta còn phải hết sợ cái đau, cái chết, mà cái sợ ấy mất dần qua nhiều năm quen với thương tích, máu me, bạo lực. Đàn ông có nhiều dịp hơn đàn bà để quen với những thứ ấy, nên đàn ông chết nhiều hơn. Bác sĩ ngày nào cũng thấy đau đớn, thương tích, lại rành thuốc men, nên tỉ lệ tự sát cũng cao hơn hẳn người khác, bác sĩ nam cao gấp 1,5 đến 3 lần đàn ông nói chung. Nhà có súng cũng vậy, người trong nhà nhìn mãi thành quen, thành không sợ [2].

Soi vào nhà Hemingway thì thấy đủ cả: bố là bác sĩ, trong nhà có khẩu súng lục của ông nội từ thời Nội chiến, bố cho con khẩu súng săn đầu tiên, mỗi ngày 3 viên đạn. Lớn lên con đi săn, đi đấu bò, ra trận, mang hơn 200 vết mảnh đạn trên người. Hemingway tập cho mình cứng từ bé, cứng để khỏi phải kêu, mà càng tập thì ông càng quen với đau đớn, với máu me, tới lúc chẳng còn sợ cái chết nữa.

Năm 1952, Hemingway cho ra mắt Ông già và biển cả, cuốn được giải Pulitzer năm sau đó. Ông già Santiago 84 ngày không câu được con cá nào, 40 ngày đầu còn có thằng bé Manolin đi cùng, sau thì bố mẹ thằng bé bắt nó sang thuyền khác [9]. Ra khơi 1 mình, ông già nói to 1 mình. Ông không nhớ mình bắt đầu nói 1 mình từ bao giờ, chắc là từ khi thằng bé đi. “Nếu người khác nghe thấy mình nói 1 mình thì họ tưởng mình điên”, ông nói to. Rồi cứ chốc chốc ông lại nói: “giá mà có thằng bé ở đây” [9].

Câu nổi tiếng nhất cuốn sách, “con người sinh ra không phải để thua. Người ta có thể bị hủy diệt chứ không thể bị khuất phục”, cũng là câu ông già nói 1 mình giữa biển, chả ai nghe [9]. Về tới làng, con cá bị cá mập ăn chỉ còn bộ xương, ông nằm ngủ trong lều. Thằng bé sang, thấy đôi tay ông thì khóc, đi lấy cà phê cũng vừa đi vừa khóc, “nó không cần biết người ta thấy nó khóc”. Ông già tỉnh dậy, câu đầu tiên ông nói với thằng bé là: “chúng nó hạ ông rồi, Manolin. Hạ thật rồi” [9].

Đàn ông mình hay đăng câu “có thể bị hủy diệt chứ không thể bị khuất phục” lên trang cá nhân. Mà câu ấy ông già nói 1 mình giữa biển. Câu ông nhận mình thua thì ông chỉ nói với thằng bé, người duy nhất ông không phải tỏ ra cứng.

Hemingway thì không có thằng bé nào như thế. Đầu năm 1961, ông nằm viện ở Rochester, bang Minnesota, ra viện được ít lâu thì tháng 3 ông viết cho con trai là Patrick: “ở đây mọi chuyện không ổn, chuyện ở nhà bên Cuba cũng không ổn, bố thấy không được khỏe nhưng gửi lá thư này đi có khi bố thấy đỡ hơn”. Mấy tuần sau, ông 2 lần đòi tự sát, gia đình phải đưa ông trở lại bệnh viện [6].

Ngày 15/6/1961, nằm trong viện, ông viết thư cho Fritz, con trai 9 tuổi của bác sĩ George Saviers, người chữa bệnh cho ông, thằng bé cũng đang nằm viện vì bệnh tim: “bác mong 2 bác cháu sớm về lại Idaho, rồi cùng nhau đem chuyện nằm viện ra đùa”. Cuối thư ông viết thêm: “bác thấy khỏe lắm, vui vẻ với mọi chuyện, mong sớm gặp cả nhà” [6].

17 ngày sau, sáng 2/7/1961, ông tự sát ở nhà mình tại Ketchum, Idaho [6].

Nguồn:

[1] - Ba hiểu lầm về tự tử cần được xóa bỏ - Nguyễn Trung Hiếu, báo Nhân Dân, ngày 10/10/2025. [2] - Why People Die by Suicide - Thomas Joiner, 2005, lời mở đầu Losing My Dad, chương 1 và chương 2. [3] - The Complete Short Stories of Ernest Hemingway, bản Finca Vigía, phần tiểu sử tác giả cuối sách. [4] - Conversations with Ernest Hemingway - Matthew J. Bruccoli biên soạn, lời giới thiệu và bài Hemingway in Cuba của Robert Manning. [5] - The Letters of Ernest Hemingway, tập 3, 1926-1929 - Rena Sanderson và cộng sự biên soạn, thư tháng 9 và tháng 12/1928 cùng phần chú thích. [6] - Ernest Hemingway: Selected Letters 1917-1961 - Carlos Baker biên soạn, thư gửi Fitzgerald ngày 9/12/1928, gửi bà Paul Pfeiffer ngày 26/1/1936, gửi Charles Scribner ngày 27/8/1949, gửi Charles Scribner con ngày 25/2/1952, gửi Patrick Hemingway ngày 22/3/1961, gửi Frederick Saviers ngày 15/6/1961 cùng phần chú thích và lời cuối sách. [7] - The Complete Short Stories of Ernest Hemingway, bản Finca Vigía, truyện Indian Camp và Fathers and Sons. [8] - For Whom the Bell Tolls - Ernest Hemingway, chương 30 và 43. [9] - The Old Man and the Sea - Ernest Hemingway.