Tháng 12/2024, Han Kang đứng ở Stockholm đọc bài giảng nhận giải Nobel Văn Học. Gần cuối bài, bà nhắc tới người chị chỉ sống trên đời có 2 tiếng đồng hồ, với người mẹ trẻ cứ van con “đừng chết, xin con đừng chết” cho tới phút cuối [1]. Người chị ấy mất trước khi Han Kang ra đời mấy năm, 2 chị em chưa gặp nhau lần nào, chị cũng chưa kịp có cái tên. Vậy mà Han Kang tin rằng nếu chị sống qua được mấy tiếng đầu đời thì bà đã không có mặt trên đời, nên bà đem đời mình cho chị mượn [2], [4].

1 đứa bé sống có 2 tiếng thì để lại được gì mà đứa em mang theo hơn 50 năm, tới tận bục Nobel?

I - CHUYỆN MẸ KỂ TỪ BÉ

Hồi mới cưới, bố mẹ Han Kang ở 1 căn nhà biệt lập dưới quê, gần trường tiểu học nơi bố dạy. Đầu mùa đông năm ấy, sương giá vừa xuống lần đầu, mẹ đang mang thai 7 tháng thì vỡ ối. Nhà không có ai. Cái điện thoại duy nhất của làng đặt ở tiệm tạp hóa cạnh bến xe buýt, đi bộ mất 20 phút, còn bố thì 6 tiếng nữa mới đi dạy về [2].

Bà mẹ 22 tuổi bò vào bếp đun nước luộc cái kéo. Cơn đau cứ dồn tới, bà vẫn lục hộp kim chỉ tìm mảnh vải trắng, khâu vội 1 cái áo sơ sinh, nước mắt chảy ròng ròng. Đẻ xong, bà tự cắt dây rốn, mặc áo cho con rồi ôm con vào lòng, miệng lẩm nhẩm mãi 1 câu: “đừng chết, xin con đừng chết” [2].

1 tiếng sau, đứa bé mở mắt nhìn mẹ. Thêm 1 tiếng nữa thì bé mất. Bà mẹ nằm nghiêng trên sàn bếp ôm cái xác nhỏ xíu vào ngực, thấy cái lạnh giá ngấm dần từ da thịt vào tới xương. Sáng hôm sau, ông bố 25 tuổi vác xẻng lên núi chôn con [2].

Năm sau mẹ lại đẻ non, lần này là con trai, chưa mở mắt lần nào đã mất. 3 năm sau Han Kang ra đời, 4 năm sau nữa là cậu em trai [2]. Những gì Han Kang biết về người chị đều qua lời mẹ, mà mẹ thì kể đi kể lại suốt mấy chục năm.

Trong lời mẹ, đứa bé “trắng như cái bánh gạo hình trăng khuyết”. Mãi tới năm 6 tuổi, lần đầu phụ mẹ nặn bánh gạo cho Tết Trung Thu, nhìn mấy cái bánh trắng tinh chưa hấp, Han Kang mới hiểu mẹ muốn nói gì [2]. Có lần 1 đài phát thanh hỏi bà hồi nhỏ có chuyện gì làm bà thấy buồn không. Bà nghĩ ngay tới cái chết ấy, rồi viết: “tôi đã sinh ra và lớn lên ở đúng chỗ của cái chết ấy” [2]. Có đoạn bà viết như đang nói với người chị: “cuộc đời này chỉ cần 1 trong 2 chúng ta sống. Nếu chị sống qua được mấy tiếng đầu ấy thì giờ em đã không có mặt” [2].

II - CĂN NHÀ Ở GWANGJU

Tháng 1/1980, Han Kang 9 tuổi, cả nhà rời Gwangju lên Seoul, khoảng 4 tháng trước khi quân đội bắn vào dân ở thành phố này [1]. Bố bán căn hanok (nhà kiểu cổ của Hàn Quốc, các phòng quây quanh 1 cái sân) cho 1 gia đình có cậu con út học ngay trường cấp 2 bố đang dạy [3]. Tháng 5/1980, cậu bé ấy chết ở Gwangju, mới 15 tuổi. Cả cậu bạn thuê gian nhà ngang trong căn nhà ấy cũng không về nữa [3].

Han Kang nghe lỏm người lớn nói chuyện trong bữa cơm. Bà nhớ cứ sắp nhắc tới tên cậu bé là cả nhà lại hạ giọng, im phăng phắc 1 lúc, nói sang chuyện khác được 1 lát rồi lại quay về chuyện cậu [3].

Năm 12 tuổi, bà thấy trên giá sách 1 cuốn sách ảnh về Gwangju cắm ngược gáy, đợi lúc không có người lớn ở đó mới lén giở ra xem. Toàn ảnh người bị đánh bằng dùi cui, bị đâm lê, bị bắn [1]. Sách do người sống sót và gia đình người chết in lén rồi chuyền tay nhau, vì báo chí hồi ấy bị bịt miệng hết [1]. Chính quyền quân sự còn bảo cả vụ là âm mưu của cộng sản, do gián điệp Bắc Triều Tiên giật dây [3]. Nghĩa là bắn dân xong thì quay sang bảo chính dân là gián điệp.

Năm 20 tuổi, bà 1 mình lên nghĩa trang Mangwol-dong tìm mộ cậu, chẳng biết cậu họ gì, chỉ biết tên là Dong-ho và mất năm 15 tuổi [3]. Vậy là lại thêm 1 đứa trẻ chết ở đúng chỗ bà vừa đi khỏi. Cậu ngủ trong mấy căn phòng bà từng ngủ hồi bé, rồi không bao giờ được lớn. Hơn 30 năm sau, bà viết Human Acts (bản tiếng Việt tên là Bản Chất Của Người), cuốn tiểu thuyết về Gwangju, nhân vật chính là cậu Dong-ho 15 tuổi [3].

III - CHO CHỊ MƯỢN ĐÔI MẮT

Han Kang có lần sang Warsaw ở 4 tháng [4]. Thành phố này bị san phẳng trong Thế Chiến 2, về sau người ta xây lại theo ảnh chụp ngày trước, nên trong phố chẳng có gì quá 70 tuổi [2]. Đi giữa 1 thành phố từng bị xóa sổ rồi xây lại, bà bắt đầu hình dung người chị cũng được sống lại, đi dạo ở đó [4].

Trong 1 bài phỏng vấn năm 2020, bà nói: “tôi như đang cho chị mượn đôi mắt và các giác quan của tôi” [4]. Bà muốn chỉ cho chị xem toàn thứ sạch sẽ, trước khi chị kịp thấy những gì tàn nhẫn, bẩn thỉu [2]. Ở Stockholm, bà nói bà viết The White Book (bản tiếng Việt tên là Trắng) vì muốn “cho chị mượn đời mình 1 thời gian ngắn” [1]. Lúc viết Human Acts, bà cũng thấy y như vậy, như đang cho người chết mượn mắt mình [4].

Chị chưa có tên, bà đặt cho chị tên Seol-yeong, nghĩa là Bông Tuyết [4]. Mọi người ở quê chắc còn nhớ, nhà nào từng mất con thì đứa sau hay bị đặt tên xấu, Cún, Tí, Đực, cho ma quỷ không để ý mà dễ nuôi. Ấy vậy mà bà lại chọn cho đứa đã mất 1 cái tên trắng muốt như thế.

Cũng ở Warsaw, bà đọc lời kể của 1 người đàn ông sinh ra ở đây, được 1 cặp vợ chồng người Bỉ nhận nuôi. Từ khi biết nhớ, ông vẫn thấy linh hồn người anh trai chết năm 6 tuổi trong khu ghetto (khu người Do Thái bị nhốt riêng) ở bên mình. Thỉnh thoảng giọng đứa bé lại vọng tới, bằng 1 thứ tiếng ông không biết, nên mãi ông mới nhận ra đó là anh mình [2].

Đọc xong, Han Kang mất ngủ mấy đêm. Bà nghĩ nếu người chị có tìm đến thì bà cũng chẳng nhận ra, vì chị chưa từng học nói. Cả đời chị chỉ được nghe đúng 1 câu: “đừng chết” [2].

Đứa con sinh ra sau 1 đứa đã mất thường nghe mẹ kể về đứa kia từ hồi chưa biết gì. Lớn lên biết nghĩ, nó tự tính ra: chị mất thì mình mới được sinh ra. Tính ra như thế thì dễ thấy mình như mắc nợ, cứ phải sống sao cho xứng cả phần người kia. Han Kang cũng tính ra đúng như thế, rồi bà đem đời mình cho chị mượn. Bà viết là nhìn bằng mắt chị thì cái gì cũng khác, đến bước chân cũng khác [2].

Bà bảo những tháng đi bộ ở Warsaw ấy bà không thấy buồn chút nào, ngược lại còn thấy được an ủi, như đang cầu nguyện [4]. Mình tin bà nhưng chỉ tin 1 nửa thôi. Gần cuối sách bà vẫn viết: giá như chị đừng ngừng thở, để chị được sống cả cuộc đời này thay em, còn em thì không bao giờ ra đời [2]. Người hết day dứt rồi thì chắc chả ai viết câu ấy.

Trang chia tay trong The White Book, bà viết lên tờ giấy trắng câu mẹ lẩm nhẩm trên sàn bếp năm nào, câu duy nhất người chị được nghe. Bà bảo không có lời chia tay nào hay hơn câu ấy, rồi viết thêm 2 chữ của riêng mình: “đừng chết. Sống đi” [2].

Nguồn:

[1] - Light and Thread, bài giảng Nobel của Han Kang, Viện Hàn Lâm Thụy Điển, Stockholm, ngày 7/12/2024. [2] - The White Book - Han Kang, Deborah Smith dịch sang tiếng Anh. [3] - Human Acts - Han Kang, Deborah Smith dịch sang tiếng Anh, phần kết và lời người dịch. [4] - Han Kang on Death, the Color White, and Her Writing Influences - Krys Lee phỏng vấn, tạp chí Electric Literature, ngày 17/8/2020.