Chuyên án VN10 vừa đưa 227 bị cáo ra tòa. Từ 4 cái vali ở sân bay, công an lần ra hơn 500 nhánh ở 36 tỉnh thành, khởi tố hàng nghìn bị can. Đây là 1 chiến công rất lớn.
Đọc tin, chắc nhiều người sẽ hỏi: đánh mãi, bắt mãi, án tử hình cũng tuyên rồi, sao cái ngành này vẫn sống? Mình tìm câu trả lời trong mấy cuốn sách về kinh tế học tội phạm.
I - 1 TÚI HÀNG, 2 MỨC GIÁ
Trong sách Drug Use and Abuse, Howard Abadinsky có 1 ví dụ: 700 g heroin mua ở Băng Cốc (Thái Lan) giá khoảng 7.500 đến 9.500 USD. Cũng đúng cái túi đó, mang sang Mỹ bán được 60.000 đến 70.000 USD. Không chế biến thêm gì, không thêm nguyên liệu nào, chỉ khác mỗi chỗ đứng.
Vậy khoản chênh gần 8 lần đó là tiền gì?
Tiền hàng thì chẳng đáng là bao. Nông dân trồng coca hay thuốc phiện chỉ nhận được khoảng 1 đến 2% giá bán lẻ cuối cùng, có ước tính cho thấy tới 85% giá trị của cocaine được tạo ra sau khi hàng đã vào tới nước tiêu thụ. Tiền vận chuyển cũng vậy, gửi 1 kg hàng qua bưu điện chỉ tốn vài chục USD.
Khoản chênh ấy là tiền trả cho rủi ro: rủi ro bị bắt, bị ra tòa, bị tịch thu, bị đối thủ thanh toán (bị băng khác ra tay). Hàng cấm thì mỗi mét đường nó đi qua đều phải có người dám đánh đổi 1 thứ gì đó.
2 nhà kinh tế Caulkins và Reuter từng chia nhỏ 1 USD mà người mua cocaine ở Mỹ bỏ ra vào khoảng năm 1990, xem nó đi đâu. Tiền mua cocaine tại Colombia chiếm 1%, bù cho rủi ro tù tội chiếm 23,6%, bù cho rủi ro bị giết hoặc bị thương chiếm 33%. Tóm lại, người mua chủ yếu đang trả tiền cho chuyện có người dám ngồi tù và dám chết thay mình.
II - AI CHỊU CÁI RỦI RO ĐÓ
4 nữ tiếp viên trong vụ VN10 nhận 6,5 euro mỗi kg, gần 170.000 đồng. 1 đường dây thuốc lắc từ Hà Lan sang Mỹ trả 200 USD cho người xách 30.000 đến 45.000 viên, lô đó bán lẻ được từ vài trăm nghìn tới hơn 1 triệu USD. Ở biên giới Mexico, 1 chuyến xách hàng qua được trả 500 peso, khoảng 35 USD. Ai càng ở gần kiện hàng thì càng được ít tiền.
Còn người bị cáo buộc cầm đầu đường dây VN10 thì sống ở nước ngoài, dùng nhiều tên giả, giao dịch bằng tài khoản đứng tên con trai, không chạm vào kiện hàng nào.
Nghiên cứu của Reuter và cộng sự về những người bán lẻ ở Washington kết luận họ đang đổi rủi ro lấy tiền, mà rủi ro thì rất cao còn tiền thì mỏng như sợi chỉ.
Biết vậy sao vẫn có người cố đâm đầu vào?
III - VÌ SAO ÁN TỬ KHÔNG DỌA ĐƯỢC HỌ
Chắc mọi người cũng từng nghĩ cứ phạt thật nặng là không ai dám làm. Cách nghĩ ấy ngầm cho rằng người kia tỉnh táo, ngồi tính toán như 1 người bình thường, cân đong đo đếm cái được cái mất rồi mới quyết.
Mark Kleiman, người nghiên cứu chính sách ma túy lâu năm, viết đại ý rằng loại tội phạm hay bị bắt và bị phạt thì thu hút những người liều lĩnh, bốc đồng, chứ không thu hút những người hành xử theo kiểu tính toán lợi ích cho bản thân.
Petry và Bickel còn đi xa hơn. 2 ông đặt tên bài nghiên cứu của mình là tầm nhìn thời gian bị rút ngắn và sự vô cảm với hậu quả tương lai ở người nghiện heroin. Mình tạm hiểu đó là chiết khấu tương lai. Nói cho dễ hiểu, trong đầu mỗi người có 1 cái tỷ giá quy đổi giữa hôm nay và mai sau. Với người bình thường, 10 triệu của năm sau vẫn lớn hơn rất nhiều so với 1 triệu hôm nay, còn với người nghiện thì 20 giây sung sướng ngay bây giờ là tất cả, nặng hơn cả sức khỏe, gia đình, tự do của 10, 20 năm tới.
Nên khi tòa tuyên 1 mức án 15 năm, người bình thường thấy đó là khoảng thời gian khủng khiếp. Còn trong đầu người ở đáy xã hội, 15 năm ấy gần như chẳng còn ý nghĩa gì, nó đã bị “chiết khấu” về gần bằng 0 từ lâu rồi.
Về mặt kinh tế, Mark Thornton chỉ ra chính việc ma túy đắt đỏ đã bào mòn thu nhập thật của người nghiện tới mức bần cùng. Mà 1 người đã chẳng còn gì thì cái giá phải trả cho việc phạm tội cũng rẻ đi theo, ông ta có gì đâu mà mất.
Gộp cả 3 lại thì ra 1 kiểu người: bốc đồng sẵn, không nhìn xa được quá vài ngày tới, hoàn cảnh chẳng còn gì để mất. Mức án nào cũng khó làm kiểu người ấy sợ mà chùn bước.
Án nặng vẫn rất cần, có điều nó làm 1 kiểu người khác chùn bước: kẻ tổ chức, kẻ cầm đầu, những người thật sự có ngồi tính toán, có tài sản để mất, có tương lai để giữ. Với những người đó thì răn đe có tác dụng rất tốt. Chính vì vậy mấy ông trùm mới phải trốn ra nước ngoài, phải đổi tên, phải nhờ con trai đứng tên tài khoản.
IV - BẮT NGƯỜI NÀY LẠI MỌC RA NGƯỜI KHÁC
Robert DuPont, cựu giám đốc Viện Quốc gia về Lạm dụng Ma túy của Mỹ, kể lại lời 1 người nghiện nói với ông. Đại ý là phần lớn người bán lẻ không tự coi mình là dân buôn ma túy. Trong đầu họ, thằng bán cho họ mới là dân buôn, còn khách của họ thì họ coi là bạn.
Vì giá bị đẩy lên quá cao, người nghiện cạn tiền rất nhanh. Cách dễ nhất để có tiền dùng tiếp là mua nhiều 1 chút rồi bán lại cho mấy người quen. Họ không thấy mình làm gì sai lắm, vì họ đâu có buôn, họ chỉ đang xoay cho đủ phần của mình.
Đứng ngoài nhìn vào thì cái thị trường này đang tự đẻ ra nhân lực cho chính nó, chẳng cần tuyển ai từ bên ngoài. Mỗi người nghiện mới là 1 người bán lẻ tiềm năng.
Mark Moore còn chỉ ra ma túy lây lan qua bạn bè và qua mấy nhóm nhỏ trong khu phố, mà những nhóm ấy thì người ngoài rất khó lọt vào.
V - VỤ NÀY BẮT ĐƯỢC ĐÔNG NHƯ VẬY LÀ NHỜ ĐÂU
Con số bị can của chuyên án VN10 lớn tới vậy cũng có lý do của nó.
Đường dây này không vận hành theo kiểu 1 ông trùm ngồi giữa, dưới có mấy chục đàn em. Nó chạy thành hàng trăm nhánh và phân nhánh, mỗi nhánh vài ba người, nhánh này không biết nhánh kia. Cáo trạng mô tả họ cố tình lập ra nhiều lớp trung gian để che cho người tổ chức, ai bị bắt cũng chỉ khai được đúng cái mắt xích ngay cạnh mình.
Khốn nỗi chính cái cấu trúc rộng ấy lại thành điểm yếu. Đường dây bán tới tận người dùng cuối, bắt 1 người dùng thì ra người bán lẻ, bắt người bán lẻ thì ra đầu mối, cứ thế lần ngược lên. Công an đánh theo kiểu lần theo dòng chảy của ma túy, mà mạng lưới này thì sống nhờ chính dòng chảy ấy.
Thêm vào đó, họ liên lạc qua Telegram, Viber cho kín đáo nhưng tiền thì vẫn phải chuyển khoản, mà tài khoản ngân hàng thì lần ra được hết. Ở giai đoạn đầu, công an Thành phố Hồ Chí Minh đã chứng minh được khoảng 3.000 tài khoản giao dịch tới 22.000 tỷ đồng, sau này con số lên hơn 29.000 tỷ.
Riêng người bị cáo buộc cầm đầu thì không thừa nhận gì cả. Cơ quan điều tra phải dùng giám định giọng nói, nhận dạng, cộng với lời khai của cả chuỗi bên dưới mới quy được trách nhiệm.
VI - CHẲNG LẼ TRẤN ÁP LÀ VÔ ÍCH
Xin thưa là không. Có bằng chứng thật cho thấy đánh mạnh vào nguồn cung là có tác dụng.
Năm 2001, Úc trải qua 1 đợt khan hiếm heroin sau khi lực lượng chức năng đánh sập được mấy đường dây chính. Độ tinh khiết trên đường phố tụt mạnh, giá tăng gấp mấy lần. Lúc đó nhiều chuyên gia lo người nghiện sẽ đi cướp giật nhiều hơn để có tiền mua. Kết quả lại ngược hẳn: số ca chết vì quá liều giảm mạnh, tội phạm cũng giảm chứ không tăng.
Xa hơn nữa, các nhà nghiên cứu ghi nhận mức tiêu thụ thuốc phiện ở Trung Quốc sụt rất mạnh sau các đợt trấn áp giai đoạn 1906 đến 1911 và 1950 đến 1953. Ở Mỹ, việc kiểm soát tiền chất hóa học cũng có hiệu quả đo được, giá ma túy đá tăng vọt đúng vào những thời điểm ban hành quy định mới.
Trấn áp có tác dụng thật, ngặt cái tác dụng ấy rơi vào chỗ khác với chỗ mình hay nghĩ.
VII - CÁI GIÁ CAO ẤY BẢO VỆ AI
Mark Moore bảo vệ việc duy trì lệnh cấm bằng 1 lý do rất cụ thể. Cấm đoán đẩy giá ma túy lên cao. Giá cao gần như chẳng tác dụng gì với người đang nghiện, vì họ nghiện rồi, họ sẽ xoay bằng mọi cách. Nhưng nó có tác dụng rất lớn với 1 nhóm khác là những người chưa từng dùng, ông dùng chữ not-yet users cho nhóm này.
1 đứa 17 tuổi đang tò mò, nếu thứ đó rẻ và dễ như mua 1 gói kẹo thì nó thử. Nếu thứ đó đắt, khó kiếm, phải quen biết, phải chấp nhận rủi ro pháp lý, thì phần lớn tụi nó sẽ dừng lại.
Mỗi đường dây bị đánh sập, mỗi tụ điểm bị dẹp, mỗi lần giá bị đẩy lên và hàng khó kiếm hơn, có thể chẳng cứu được người đã nghiện nhưng giúp được rất nhiều cho những đứa chưa từng thử.
Chuyên án VN10 chặt đứt hàng trăm mắt xích, người được bảo vệ nhiều nhất là những ai chưa từng dính vào. Với người đã nghiện thì ma túy vẫn bòn rút tới đồng tiền cuối cùng, rồi đẩy họ mua thêm 1 chút để bán lại cho bạn bè, người thân, thế là thị trường có thêm 1 mắt xích mới để tự nuôi chính nó.