Ngày 25/8/2026, cái tên Trà cave xuất hiện lại trên báo, lần này không nằm trong bộ phim Phía trước là bầu trời. Diễn viên Kiều Thanh bị Công an Hà Nội khởi tố và bắt tạm giam trong 1 đường dây gồm 82 bị can, tội danh của bà là mua bán trái phép chất ma túy. Đây mới là kết quả điều tra ban đầu, vụ án chưa truy tố, chưa xét xử, hành vi cụ thể còn phải chờ kết luận tố tụng và phán quyết của tòa. Mình cũng chưa thấy tài liệu chính thức nào đủ chắc để nói bà bị bắt quả tang đang dùng heroin hay đá, nên không gắn 2 thứ đó cho bà. Có điều cái tên Trà cave làm mình nghĩ tới 1 chuyện đã kéo dài hơn 100 năm: ma túy đổi hình liên tục, từ cái bàn đèn phải bày giữa nhà, sang gói bạch phiến giấu trong áo, rồi thành mấy hợp chất chỉ cần 1 căn phòng là làm ra được.

Nhiều người nghĩ heroin đã thuộc về thập niên 1990, 2000, thời của kim tiêm, xóm liều và những người vật vã ngoài đường. Bây giờ tin tức đầy đá, ke, kẹo, nước vui, pod chill nên heroin trông như đồ cổ. Vậy mà năm 2024, lực lượng chức năng Việt Nam vẫn thu giữ 683 kg heroin, tăng hơn 42% so với năm trước. Lượng thu giữ tăng không có nghĩa số người nghiện heroin tăng theo đúng chừng đó, nó cho thấy các đường dây vận chuyển và trung chuyển vẫn chạy rất dữ, chất này chưa hề biến mất như ta tưởng. Chất cũ chưa mất thì Tam Giác Vàng lại bơm ra lượng methamphetamine chưa từng thấy. Riêng năm 2024, khu vực Đông Á và Đông Nam Á thu giữ tới 236 tấn meth, 94% dồn ở Đông Nam Á, mà đó mới là phần bị bắt, hàng lọt qua các ngả còn lớn hơn nhiều.

I - NĂM 1919, MA TÚY CÒN KÊU LOẢNG XOẢNG TRONG TÚI ÁO

Tháng 7/1919, tạp chí Nam Phong đăng truyện ngắn Bác nghiện của 1 người ký tên Điếu-hoàng Vũ Miễn-Nam. Điếu-hoàng nghĩa là vua bàn đèn, cái bút danh đã tự giễu ngay từ đầu. Nhân vật Mỗ-sinh là con quan Đốc-học, đỗ Tú-tài, đi học Hậu-bổ để tập sự làm quan, nhà giàu, đường công danh mở sẵn. Anh không sa vào bàn đèn vì đói khổ hay bị ai dí dao vào cổ, anh đi hát với đám bạn rồi bị khích bằng mấy câu mà hơn 100 năm sau vẫn nghe thấy trong phòng bay: “thỉnh-thoảng hút chơi một vài điếu, bao giờ cho nghiện được”, rồi “làm trai không biết mùi thuốc phiện cũng hèn”, rồi “thuốc phiện hút một điếu thì quê, nếu đi chơi với người Hà-nội mà thế thì người ta cười”.

Mỗ-sinh hút để khỏi bị chê quê, sau đó theo bạn chui vào mấy ổ “bàn đèn gạo” (vài người góp mấy hào mua thuốc rồi nằm hút chung). Hôm nào không hút thì nhức đầu, sổ mũi, trong người khó chịu, vậy mà anh vẫn bảo vợ là mình chỉ hút chơi. Được bổ về tỉnh làm quan, anh đem nguyên cái bàn đèn về nhà, vợ can ngăn thì gạt đi, đúng 1 năm sau bị quan trên biết là nghiện và thải hồi. Chưa đầy 3 năm, ruộng vườn ông cha để lại chui hết vào lọ, vợ con rau cháo, quần áo anh rách như tổ đỉa. Có cảnh Mỗ-sinh khoác cái áo tây vàng có 2 túi cực to để giấu xe, lọ, tiêm, móc (bộ đồ nghề hút thuốc phiện), lúc chắp tay vái quan huyện thì cả đống đồ nghề trong áo va vào nhau kêu loảng xoảng, lính tráng đứng cạnh phì cười. Cuối truyện, ông huyện mắng anh 1 câu “càng con nhà phú-quí càng dễ hư”, anh hứa chừa, về nhà được 2 tháng vẫn hút vô độ rồi mắc bệnh chết. Tác giả kết bằng đúng 1 dòng: “thế là xong một đời, thế là tan một nhà. Thương thay!”.

Hút thuốc phiện thời ấy cồng kềnh kinh khủng. Phải có bàn, có đèn, có ống, có lọ, có tiêm, có móc, có thuốc và 1 chỗ đủ kín để nằm cả buổi. Người nghiện có thể giấu chuyện mình hút, nhưng rất khó giấu nguyên cái bàn đèn. Làm ra thuốc phiện còn nặng nề hơn: phải có đất, có giống, có người trồng, đợi mùa, thuê người cạo mủ, rồi mới tới chỗ chế biến và tuyến vận chuyển. Bù lại, muốn chặn nguồn thì nhà nước còn nhìn thấy cánh đồng mà đốt, thấy đoàn xe mà khám xét, thấy tiệm hút mà đóng cửa.

Nhưng trong cái cây ấy có những chất tách ra được, cô lại được và đưa vào người nhanh hơn nhiều. Năm 1803, 1804, nhà hóa học Đức Friedrich Serturner tách được morphine khỏi thuốc phiện. Lần đầu tiên con người lấy được phần mạnh nhất của cây rồi cô thành 1 chất riêng, nhờ đó bác sĩ đo được liều, khỏi phải cho bệnh nhân uống thứ nhựa lúc đậm lúc nhạt. Năm 1874, 1 người Anh tổng hợp ra diacetylmorphine nhưng bỏ dở. Đến năm 1897, hãng Bayer làm lại chất này, năm sau tung ra thị trường dưới cái tên Heroin, quảng cáo như thuốc ho, là thứ thay thế morphine mà họ bảo là ít gây nghiện hơn.

Morphine với heroin ra đời từ phòng thí nghiệm dược, lúc người ta tìm cách lấy phần mạnh của cây thuốc phiện rồi biến nó thành thuốc dễ đo, dễ giữ, dễ bán. Lúc ấy chưa có luật cấm nào, nên bảo cấm thuốc phiện mới đẻ ra morphine, cấm morphine mới đẻ ra heroin là sai từ gốc. Nhưng khi mấy chất cô đặc ấy bước sang chợ đen, chúng có 1 lợi thế mà cục nhựa thuốc phiện không bao giờ có: lượng nhỏ hơn mà tác dụng mạnh hơn, dễ giấu hơn, lời hơn trên cùng 1 chuyến hàng.

II - LUẬT NĂM 1971 VẪN ĐANG ĐỢI CÁI BÀN ĐÈN

Ngày 2/7/1971, báo Chính Luận đăng bài Cần sạ, có tội không? của Nguyễn-Cần. Tác giả tả heroin trắng giống xà bông bột, người ta đặt lên miếng sắt tây hơ cho bay hơi rồi hít, hoặc hòa vào nước chích thẳng vào mạch. Bài viết bảo heroin mạnh gấp 6 lần morphine (đây là hiểu biết dược lý trên báo năm 1971, không nên bê nguyên con số ấy vào y học bây giờ). Lạ hơn là phần nói về luật. Theo bài báo, Dụ số 60 ban hành năm 1955 chỉ nói tới “thuốc phiện để hút”, trong khi morphine và heroin đã chuyển sang hít, sang chích, ở dạng bột tinh chế.

Theo Nguyễn-Cần, hậu quả là có vụ tòa phải tha, có vụ phải quay lại 1 sắc lệnh cũ từ năm 1919 với hình phạt nhẹ hơn nhiều, vì văn bản năm 1955 không hề nhắc tới mấy biến chất mới của á phiện. Chất đã đổi từ nhựa đen sang bột trắng, từ bàn đèn sang miếng sắt tây với kim tiêm, còn điều luật vẫn đứng đợi 1 người nằm hút thuốc phiện theo lối cũ. Từ 1955 tới 1971 chỉ có 16 năm, vậy mà đủ để 1 loại ma túy đổi hình nhanh hơn luật. Trong mấy năm bạch phiến bùng lên dữ dội nhất, kẻ buôn và người dùng heroin ở Sài Gòn có thể bị bắt mà tòa vẫn khó phạt cho đúng tội.

Cũng năm 1971, tuần báo trào phúng Con Ong viết rằng phần đông người Việt khi đó vẫn hút thuốc phiện đen bằng nồi ống dọc trên đèn dầu lạc, còn bạch phiến hít với chích là hàng mới, đi theo chân lính Mỹ. Tờ báo mỉa mai rằng người Mỹ là giống dân ghét ma túy nhất thế giới mà quân đội Mỹ ở Việt Nam lại có tỷ lệ lính nghiện cao nhất thế giới. Phạt không xuể, họ mở 1 chiến dịch tên Amnesty (ân xá), kêu binh sĩ nghiện ra trình diện để được chữa mà không bị phạt. Cùng lúc có tin chưa chính thức rằng quân nhân Việt Nam nào nghiện thì cho giải ngũ, và Con Ong nhìn ra chỗ hở ngay: giữa lúc miền Nam đang bắt lính, cái lệnh đuổi người nghiện ra khỏi quân đội thành 1 cánh cửa cho thanh niên trốn quân dịch.

Trong bài còn có mấy trò trốn lính có sẵn từ trước, tự chặt ngón tay, giả điên, nhịn ăn cho thiếu ký, cấy vi trùng vào người, và chích ma túy để chạy giấy miễn dịch. Tác giả đặt luôn cái giá cạnh cái lợi: chỉ cần hút thuốc phiện vài điếu mỗi ngày liên tiếp từ 15 tới 30 ngày là nghiện. Con số ấy chỉ là nhận định trên 1 tờ báo trào phúng, không phải kết quả thí nghiệm. Nhưng chuyện tờ báo nói tới thì có thật: cơn nghiện mà được gắn thêm 1 công dụng, ở đây là trốn lính, thì sẽ có thêm người sẵn sàng đi mua.

5 tháng sau, Con Ong đăng 1 phiên tòa giả tưởng tên Vành móng lợn, nhại chuyên mục tòa án Vành móng ngựa. Bị cáo được tả “chẳng khác gì bộ xương” đang thở hồn ha hồn hển, xử nửa chừng thì lên cơn, luật sư xin tòa cho thân chủ 1 mũi, mấy vị bồi thẩm với ông ủy viên chánh phủ móc lọ xái bông đưa cho hắn chích để đủ tỉnh mà hầu tòa tiếp. Tới lượt luận tội, ông ủy viên mở lời: “nhân danh một người đã từng buôn lậu bạch phiến, tôi yêu cầu Tòa nên có một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo”. Đây là văn châm biếm, không phải biên bản phiên xử thật. Nhưng 1 câu đùa như vậy mà độc giả năm 1971 bật cười được thì chuyện bạch phiến phải quen tới mức ai đọc cũng biết nó đang nhại cái gì.

III - TỪ 140 GÓI GIẤY TỚI 2 TẤN HÀNG VÀ 1 CHIẾC TRỰC THĂNG

Ngày 31/5/1973, Chính Luận viết ma túy đã lan “từ chú bình dân, giữ xe, bán hàng đến giới sinh viên học sinh, văn nghệ sĩ, ký giả và chức dịch”. Cùng trang 6 hôm ấy là 1 chương tiểu thuyết Giấc mộng Á phiện của Mai Thảo. 1 bên phóng sự xã hội, 1 bên tiểu thuyết, nằm cạnh nhau, vì ma túy lúc ấy không còn chỉ là chuyện của mục tin hình sự nữa.

Tới tháng 12/1973 thì có cả thị trường chữa nghiện. 1 phòng mạch ở số 91B đường Nguyễn Văn Thoại, khu Ngã tư Bảy Hiền, đăng quảng cáo giải độc ma túy, hứa nhẹ nhàng, không vật vã, hồi phục trong 15 ngày, người ở xa còn được tạm trú miễn phí. Đây là quảng cáo thương mại, không phải phác đồ đã được thử nghiệm hay được Bộ Y tế nào bảo chứng. Nhưng số gia đình cần tìm chỗ chữa phải đông lắm thì 1 phòng mạch mới bỏ tiền mua quảng cáo trên báo. Báo Sài Gòn hồi ấy đăng không ít lá thư của các bà mẹ có con nghiện gửi tòa soạn, nỗi tuyệt vọng ấy đủ lớn để nuôi cả 1 dịch vụ cắt cơn cấp tốc.

Tháng 4/1974, Tòa án Mặt trận Biệt khu Thủ đô và Quân khu 3 xử 7 người trong 1 vụ bán bạch phiến. Nhà chức trách khám căn nhà số 165 đường Bùi Hữu Nghĩa, Gia Định, thu 140 gói giấy đựng bạch phiến và 36.000 đồng tiền bán hàng. Báo ghi người mua là thanh niên, sinh viên, học sinh trong Đô Thành. Trong 7 người bị tuyên từ 5 tới 7 năm khổ sai có 2 cảnh sát viên, tức là ngay trong lực lượng lẽ ra đi bắt hàng đã có người nhúng tay bán hàng. Tháng 8 cùng năm, 12 người trong 1 ổ buôn khác chia nhau 61 năm khổ sai, tang vật khoảng 350 gram bạch phiến. Đầu năm 1975, báo đặt cạnh nhau 2 vụ: 1 người bán bạch phiến quanh khu phần mộ Trương Vĩnh Ký trên đường Trần Hưng Đạo bị 10 năm khổ sai, 1 quân nhân mang hàng thuê trên đường Nguyễn Minh Chiếu bị 5 năm cấm cố. Tới lúc ấy hàng đã có nguồn, có người chia gói, có người đứng bán, có người mang thuê, có điểm giao và có sẵn lớp khách trẻ.

Rồi số báo ngày 19/3/1975 đưa mọi thứ ra khỏi con phố. Trang 3 Chính Luận chạy tiêu đề lớn về 1 phiên xử ở Tòa án Mặt trận: buôn lậu ma túy 2 tấn quốc tế, có trực thăng chuyển vận, người nhái vớt hàng. Theo tường thuật của báo, vụ án có 20 bị cáo, gồm 9 người Thái Lan và 11 người Việt Nam, hàng đi từ Thái Lan về vùng biển Côn Sơn, thả xuống nước cho người nhái lặn vớt rồi có trực thăng tiếp ứng. Đây là cách báo chí thời chiến ghi lại 1 phiên tòa, chưa phải kết luận điều tra được kiểm chứng độc lập, nhưng quy mô báo ghi lại đã lớn hơn hẳn mấy vụ trước. Năm 1919, Mỗ-sinh còn ôm xe, lọ, tiêm, móc trong 2 túi áo, đi tới đâu kêu loảng xoảng tới đó. Năm 1975, đường dây đã có hàng tấn, nhiều quốc tịch, có tàu, người nhái với trực thăng.

Tức là từ hồi chưa ai nói tới chữ chuỗi cung ứng, dân buôn đã biết chở nhanh hơn, chia việc nhỏ hơn và đẩy người cầm hàng ra xa người có tiền.

IV - 1 VIÊN THUỐC HỢP PHÁP ĐẨY NGƯỜI DÙNG RA CHỢ ĐEN

Năm 1996, hãng Purdue Pharma đưa OxyContin ra thị trường Mỹ. Oxycodone vốn là opioid dùng trong y khoa, còn OxyContin được làm theo dạng nhả thuốc kéo dài để giảm đau nhiều giờ. Công ty tiếp thị nó rất mạnh tới bác sĩ, đúng lúc ngành y Mỹ đang bị thúc phải điều trị đau tích cực hơn. Hàng triệu đơn được kê, hàng triệu viên nằm trong tủ thuốc gia đình, rồi 1 bộ phận người bệnh và người dùng sai mục đích dần lệ thuộc opioid.

Viên OxyContin đời đầu có thể bị nghiền ra để phá cơ chế nhả chậm, khi đó lượng oxycodone lẽ ra dành cho cả ngày đổ vào người trong vài phút. Tháng 8/2010, trước tình trạng lạm dụng và quá liều, hãng tung ra công thức mới khó nghiền, khó hòa tan hơn. Nhiều bang cũng siết kê đơn, đóng mấy phòng khám bán đơn dễ dãi và lập hệ thống theo dõi thuốc kiểm soát. Nhưng viên thuốc đổi công thức thì hàng trăm nghìn người đã lệ thuộc đâu có tự nhiên hết lệ thuộc theo. Cơn vã đâu có biết hôm nay hãng vừa sửa viên thuốc, hay nhà chức trách vừa đóng thêm bao nhiêu phòng khám.

Mấy nhà kinh tế học ở Mỹ về sau đo thử chuyện này. Họ so các bang theo mức lạm dụng OxyContin trước năm 2010, thấy nơi nào từng lạm dụng nhiều hơn thì sau khi thuốc đổi công thức, tử vong do heroin tăng nhanh hơn. Các khảo sát dựa trên đơn thuốc và phỏng vấn người dùng cũng ra cùng 1 hướng: người ta rời viên thuốc để mò sang thị trường heroin. Đây là bằng chứng khá sát với quan hệ nhân quả trong cả chuyện chặn chất cũ rồi người dùng đổi sang chất khác.

Nhưng OxyContin không phải lý do duy nhất của dịch heroin. Heroin từ Mexico lúc đó cũng đang tràn sang, mấy thuốc giảm đau khác vẫn còn, các chương trình giám sát đơn và chiến dịch đóng phòng khám cùng diễn ra 1 lúc. Việc siết OxyContin đã góp phần đẩy 1 bộ phận người lệ thuộc sang heroin, chứ 1 viên thuốc đổi công thức không thể 1 mình tạo ra cả 1 đại dịch. Ngoài đường, heroin thắng viên thuốc vì rẻ hơn và cho đúng tác dụng opioid mà cơ thể đang đòi. Sau đó tới lượt fentanyl thắng heroin, bằng 1 phép tính lời lỗ còn tàn nhẫn hơn.

V - FENTANYL KHÔNG CẦN 1 CÁNH ĐỒNG

Fentanyl do bác sĩ Paul Janssen tổng hợp khoảng năm 1959, 1960. Nó được dùng hợp pháp trong gây mê và giảm đau vì rất mạnh, lên nhanh, hợp với những ca bác sĩ cần định liều chính xác và theo dõi bệnh nhân từng phút. Cũng như morphine với heroin, fentanyl ra đời trong y học rồi mới trôi ra thị trường bất hợp pháp.

Heroin vẫn phải bắt đầu từ cây thuốc phiện. Mà cây thì phải đợi mùa, phải thuê người cạo mủ, mất mùa là đứt hàng, rồi hàng còn phải đi qua vùng núi, biên giới, cảng biển. 1 đợt phá ruộng hay 1 trận đánh nhau tranh địa bàn cũng đủ làm nguồn hàng đứt quãng. Fentanyl bỏ được gần hết mấy thứ đó. Nó là opioid tổng hợp, làm ra được quanh năm từ hóa chất trong phòng lab, không cần nắng mưa, không cần người cạo mủ.

Dân buôn tính lời lỗ rất nhanh. Theo ước tính của viện RAND được Wall Street Journal dẫn lại, tiền chất để làm ra 1 kg fentanyl có thể chỉ tốn khoảng 200 USD hoặc thấp hơn, trong khi riêng phần thuốc phiện cho 1 kg heroin đã khoảng 6.000 USD. Đây là tiền nguyên liệu ước tính chứ không phải tổng chi phí của cả 2 món, nhưng chênh lệch ấy đủ để kẻ buôn thấy mỏ vàng. Fentanyl lại có hiệu lực dược lý ước khoảng 50 lần heroin (tùy cách so và đường dùng), nên 1 lượng nhỏ đã chứa cực nhiều liều. Cùng 1 lần vượt biên, cùng 1 chiếc xe, cùng nguy cơ bị bắt, kẻ buôn mang được nhiều liều hơn với khối lượng nhỏ hơn.

Người dùng lúc đầu đâu có đồng loạt đòi mua fentanyl. Các nghiên cứu về thị trường opioid Mỹ cho thấy phần lớn là người bán tự thay hàng. Họ pha fentanyl vào heroin cho mạnh, dập thành viên oxycodone hay Xanax giả, về sau còn trộn cả vào cocaine và ma túy đá. Người mua tưởng mình đang dùng món quen, trong khi gói bột hay viên thuốc đã có 1 thành phần khác hẳn. Với heroin, người dùng còn nhớ được lượng mình từng chịu nổi, còn với fentanyl pha không đều thì trí nhớ ấy vô dụng: 2 viên cùng màu, cùng dấu dập, mua cùng 1 mối vẫn có thể chứa lượng fentanyl khác nhau. Ngay cả đứa bán lẻ cũng chưa chắc biết trong lô hàng có gì, vì nó nhận viên đã dập sẵn từ mắt xích phía trên.

VI - RỒI NITAZENE BƯỚC RA TỪ KHO THUỐC CŨ

Nitazene nghe như 1 phát minh mới nhưng nhóm chất này đã được hãng dược Thụy Sĩ CIBA nghiên cứu từ cuối thập niên 1950. Mục tiêu ban đầu vẫn là thuốc giảm đau, nhưng chúng không bao giờ được duyệt dùng rộng rãi vì quá mạnh, dễ làm suy hô hấp và nguy cơ lệ thuộc quá cao. Nằm im trong tài liệu dược học mấy chục năm, tới khoảng năm 2019 chúng xuất hiện lại trên thị trường bất hợp pháp.

Tháng 11/2023, trung tâm Dublin ghi nhận 57 ca quá liều trong 5 ngày, phần lớn là người vô gia cư tưởng mình đang dùng heroin. Cơ quan giám định Ireland xác nhận trong nguồn hàng có 1 loại nitazene. Tháng sau, Cork ghi thêm 20 ca trong 6 ngày. Tổng cộng 77 ca mà không ai chết trong 2 đợt này, phần lớn nhờ cảnh báo phát ra nhanh và naloxone được dùng kịp. Ở bang New South Wales của Úc, cơ quan y tế từng cảnh báo mấy viên màu đỏ cam mang logo Red Bull, bán như thuốc lắc, xét nghiệm ra nitazene và không có chút MDMA nào. Mấy viên oxycodone giả cũng vậy. Người mua tưởng mình đang cắn kẹo hay uống thuốc giảm đau, cơ thể không có chút dung nạp opioid nào, rồi bất ngờ nhận vào 1 chất có thể làm nhịp thở tụt rất nhanh.

Nhóm nitazene có nhiều biến thể, độ mạnh chênh nhau rất xa, có chất yếu hơn fentanyl, có chất mạnh hơn, nên mấy câu kiểu “mọi nitazene mạnh gấp trăm lần fentanyl” là sai. Cái độc của nó là không ai biết bao nhiêu thì chết, người tiêm khác người hít, uống thêm ngụm rượu vào là gục luôn. Từ năm 2018, Mỹ siết chặt các chất họ hàng của fentanyl, năm 2019 Trung Quốc cấm cả nhóm, và nitazene ló ra đúng quãng đó. Chuyện này rất khớp với ý chặn 1 nhóm chất thì kẻ làm hàng sẽ đi lục 1 kho hóa học khác. Nhưng dữ liệu hiện giờ mới cho thấy thứ tự thời gian và động cơ tiền bạc, chưa đủ để chứng minh lệnh cấm fentanyl trực tiếp làm nitazene tràn ra.

Tháng 9/2025, The Economist đăng 1 bài xã luận tên Nitazenes: another failure of drug prohibition. Bài này không lên bìa như vài nơi kể lại, bìa số báo tuần ấy nói chuyện khác. Mà ngay cả tiêu đề của The Economist cũng phải đọc kèm bằng chứng, vì “thất bại của cấm đoán” là 1 lập trường chính sách, đâu phải cứ nằm trên 1 tờ báo lớn là thành kết luận khoa học.

VII - QUY LUẬT SẮT THẬT RA KHÔNG SẮT LẮM

Năm 1986, Richard Cowan viết trên tờ National Review rằng thực thi càng gắt thì ma túy càng đậm đặc, ông coi đó là quy luật sắt của cấm đoán. Về sau Cowan lãnh đạo NORML (tổ chức vận động hợp pháp hóa cần sa ở Mỹ), nên đây vốn là lập luận của 1 nhà hoạt động có quan điểm rõ ràng, không phải phát hiện trung lập từ thí nghiệm nào.

Phần lõi kinh tế của nó thì dễ hiểu. Buôn 1 kg hàng yếu với 1 kg hàng mạnh mà cùng chịu 1 nguy cơ bị bắt thì kẻ buôn chọn loại cho nhiều liều, nhiều tiền hơn. Chở 1 xe bia với 1 xe rượu mạnh qua cùng 1 cái chốt thì rủi ro như nhau, mà xe rượu mạnh chứa được nhiều cồn hơn. Thời Mỹ cấm rượu, dân buôn bỏ bia cồng kềnh để buôn rượu mạnh, tỷ trọng rượu mạnh tăng hẳn lên, tới khi bỏ lệnh cấm thì người ta lại quay về bia với rượu vang nhẹ. Đoạn sử ấy khá khớp với lời Cowan.

Nhưng ngay thời cấm rượu, tổng lượng cồn người Mỹ uống trong giai đoạn đầu lại giảm mạnh. Tức là cấm đoán có thể vừa làm giảm mức tiêu thụ chung, vừa đẩy phần hàng còn lại sang loại đậm hơn. Chỉ lôi mỗi chai whisky ra để bảo lệnh cấm thất bại là bỏ mất nửa dữ liệu. Mấy giáo sư nghiên cứu chính sách ma túy ở Mỹ cũng cãi chữ “sắt” này. Độ mạnh của cần sa vẫn tăng ở nhiều nơi ngay sau khi hợp pháp hóa, rượu vang hợp pháp vẫn tăng nồng độ, các hãng thuốc lá hợp pháp mất hàng chục năm tối ưu lượng nicotine và cách đưa nicotine vào phổi. Lòng tham và tiến bộ kỹ thuật tự nó đã đẩy độ mạnh lên, chẳng cần cảnh sát đứng ngoài cửa.

Ngay trong thị trường fentanyl, dân buôn cũng không nén mọi thứ tới mức tinh khiết tối đa. Có người đo thử mấy viên giả nặng khoảng 120 mg mà chỉ chứa trung bình chừng 2 mg fentanyl, phần còn lại là chất độn. Nếu tiết kiệm từng gram khi vận chuyển là mục tiêu duy nhất thì cartel đã chẳng mất công chở cả đống bột độn qua biên giới, nhưng họ vẫn cần viên thuốc có hình quen, dễ chia liều, dễ bán và đỡ làm khách chết ngay sau khi mua. Có chỗ thị trường còn đi ngược hẳn: dân buôn trộn xylazine (thuốc an thần thú y rẻ tiền, không phải opioid mạnh) vào fentanyl, gây loét da với hoại tử mô, chỉ vì nó rẻ và kéo dài cơn phê.

Có người đề nghị, nếu vẫn muốn giữ cách nói ấy, thì đổi thành quy luật đồng, mềm hơn sắt, và cách nói này gần với dữ liệu hơn. Cấm đoán tạo áp lực thật lên khối lượng, khả năng giấu hàng và tiền lời trên mỗi chuyến, nhưng nó không điều khiển được hết. Còn có công nghệ hóa học, nguồn tiền chất, thị hiếu người dùng, khả năng sản xuất và cách đóng gói. Mà morphine, heroin, fentanyl với nitazene đều được chế ra trong nghiên cứu dược hợp pháp. Chất mới ra đời từ phòng thí nghiệm, luật cấm chỉ ép dân buôn chọn món nào dễ mang đi hơn khi món cũ bị làm khó.

VIII - TRẤN ÁP CÓ TÁC DỤNG, NHƯNG CƠN VÃ KHÔNG BIẾT SỢ BẢN ÁN

Các đường dây buôn bán thì phải đánh, chuyện đó không có gì để cãi. Mỗi lô hàng bị chặn làm nguồn cung hụt đi, đẩy giá lên, phá mạng lưới phân phối và làm 1 đứa 17 tuổi tò mò khó mua hơn. Đứa chưa từng thử mà phải đi tìm mối, trả giá cao, chịu nguy cơ bị bắt thì còn có cơ dừng lại. Đánh án cứu được những đứa như vậy.

Nhưng với người đã dính opioid, 15 năm tù ở tương lai không đọ nổi với cơn vã đang chạy trong người ngay lúc này. OxyContin bị làm khó nghiền thì họ tìm heroin, heroin lẫn fentanyl thì họ vẫn dùng vì cơ thể đang đòi opioid, bắt người bán ở con phố cũ thì họ mua của mối mới, mà mối mới nhiều khi còn không biết trong gói có gì. 1 nghiên cứu ở hạt Marion, bang Indiana thấy sau mấy vụ cảnh sát thu giữ opioid, nguy cơ quá liều quanh khu vực đó lại tăng trong vài tuần, vì người dùng mất mối quen, chuyển sang mối lạ và đụng phải lô hàng có độ mạnh khác. Kết quả ấy không có nghĩa cảnh sát nên để yên cho người ta bán ma túy. Nó chỉ cho thấy 1 đợt đánh vào nguồn cung cần đi kèm cảnh báo quá liều, naloxone và chỗ điều trị ngay tại khu vực vừa bị xáo trộn.

Dublin với Cork có 77 ca quá liều nitazene mà không ai chết, vì cảnh báo phát nhanh, người xung quanh có naloxone và y tế phản ứng kịp. Naloxone không chữa cơn nghiện, nó đẩy opioid khỏi thụ thể lúc nạn nhân đang ngừng thở để kéo thêm thời gian chờ xe cấp cứu. Methadone với buprenorphine cũng không phải trò thay nghiện này bằng nghiện khác như nhiều người nói. Đây là thuốc điều trị, giúp ổn định hệ opioid, dịu cơn vã, giảm chuyện đi tìm hàng ngoài đường và giảm nguy cơ chết. Người đã dính rồi mà không được uống thuốc duy trì thì lại mò ra đường tìm mối khác, mà ngoài đường bây giờ có cả fentanyl lẫn nitazene.

IX - VIỆT NAM CHƯA CÓ KHỦNG HOẢNG FENTANYL, NHƯNG CÔNG XƯỞNG HÓA HỌC ĐÃ Ở RẤT GẦN

Tính tới cuối tháng 8/2026, mình chưa tìm thấy dữ liệu pháp y hay cảnh báo chính thức nào đủ chắc để nói fentanyl hay nitazene đã tràn vào thị trường bán lẻ Việt Nam như ở Mỹ, Anh, Úc. Không thể nhìn 77 ca ở Ireland rồi viết rằng người dùng Việt Nam đang mua phải nitazene, cũng không thể lấy khủng hoảng fentanyl ở Bắc Mỹ làm tương lai chắc chắn của mình. Việt Nam đang đi 1 hướng khác: methamphetamine, thuốc lắc, ketamine và đủ thứ hỗn hợp tổng hợp ngày càng chiếm phần lớn thị trường, nhất là trong nhóm trẻ. Tam Giác Vàng từng gắn với cánh đồng thuốc phiện và các xưởng heroin, nay thành trung tâm làm meth công nghiệp, bơm hàng trăm tấn viên và tinh thể ra Đông Nam Á.

Meth không phải heroin thế hệ sau, cũng không thể đặt 2 chất lên 1 cái thước rồi bảo đá mạnh hơn heroin bao nhiêu lần. Heroin là opioid, đánh vào hệ opioid, có thể làm người ta ngừng thở. Meth là chất kích thích, đẩy dopamine lên, gây mất ngủ nhiều ngày, hại tim mạch, gây hoang tưởng và loạn thần. Cái đổi ở đây là cách sản xuất và cách tới tay người mua: từ cây trồng sang hóa chất, từ bàn đèn sang cóng thủy tinh, viên nén, bột, nước và tinh dầu. Tên hàng cũng được làm cho nhẹ đi, thuốc lắc thành kẹo, ketamine thành ke, hỗn hợp nhiều chất thành nước vui, thuốc gây mê pha vào tinh dầu thành pod chill. 1 đứa nhỏ nghe chữ heroin thì sợ vì đã thấy kim tiêm và người nghiện trên áp phích, còn nghe kẹo, nghe nước vui, nghe chill thì nó tưởng mình đang mua 1 món giải trí.

Năm 1971, luật gặp khó vì Dụ số 60 vẫn nói tới thuốc phiện để hút trong khi bạch phiến đã chuyển sang hít và chích. Hơn 50 năm sau, cuộc đuổi bắt vẫn na ná như vậy: cơ quan chức năng thêm 1 chất vào danh mục thì phòng lab đổi sang chất khác, hoặc lôi 1 thứ thuốc y khoa chưa ai để ý ra pha vào sản phẩm mới. Tên thương mại đổi nhanh hơn tên hóa học, mà tên hóa học lại đổi nhanh hơn cả việc giám định, làm luật và chuẩn bị que thử. Nhưng bảo chặn chất A là chắc chắn đẻ ra chất B thì vẫn dễ dãi quá. Ma túy tổng hợp bùng lên ở Đông Nam Á còn vì Myanmar bất ổn, tiền chất dễ kiếm, lab công nghiệp cho sản lượng khủng, meth rẻ, đường dây có sẵn và khách trẻ thích viên nén hơn kim tiêm. Truy quét chỉ là 1 phần áp lực lên thị trường, không phải bàn tay duy nhất làm mọi chất mới hiện ra.

Trong vụ Kiều Thanh, cơ quan điều tra cáo buộc bà mua bán trái phép chất ma túy. Nếu cáo buộc được chứng minh thì hành vi mua bán phải chịu trách nhiệm đúng theo pháp luật. Nhưng bắt được 82 người vẫn chưa trả lời được vì sao nguồn khách cứ có người mới, vì sao người dùng có thể trôi sang bán lẻ để nuôi cơn nghiện của chính mình, và vì sao chất này vừa bị chặn thì 1 món khác đã có mặt trên Telegram, trong căn hộ, trong quán bar hay trong cái pod nằm ở cặp học sinh. Bắt 82 người thì dễ, kéo 1 đứa không chui vào phòng bay nữa thì khó hơn nhiều, vì ngay từ điếu thuốc đầu tiên nó đã không nghĩ mình sẽ đi tù.

X - TỪ CÁI BÀN ĐÈN TỚI PHONG BÌ BƯU ĐIỆN

Năm 1919, Mỗ-sinh muốn hút phải rước cả bàn đèn về nhà, đồ nghề nhiều tới mức nhét trong 2 túi áo vẫn va vào nhau kêu loảng xoảng. Năm 1971, bạch phiến trắng như xà bông bột nằm gọn trên 1 miếng sắt tây hoặc trong ống chích, còn bộ luật viết cho thuốc phiện đen bắt đầu hụt hơi. Năm 1974, 140 gói giấy được bán cho học sinh, sinh viên trong thành phố. Năm 1975, 2 tấn hàng đi từ Thái Lan về Côn Sơn bằng tàu, trực thăng và người nhái. Tới fentanyl thì không cần cánh đồng thuốc phiện nữa, tới nitazene thì 1 nhóm dược chất bị vứt xó từ thập niên 1950 được lôi ra dùng lại, đổi vài chi tiết trong cấu trúc là có thêm 1 biến thể mới chưa kịp có tên trong luật.

Sau hơn 100 năm, lời rủ rê vẫn gần y câu của mấy người bạn Mỗ-sinh, thử vài điếu thì làm sao mà nghiện được, chỉ có món hàng trong tay người rủ là đã khác. Trước đây buôn hàng phải ôm cả bao tải, sau ép lại thành cục bột, giờ có lúc nhét vừa 1 phong bì bưu điện là xong. Cái áo tây 2 túi cực to của Mỗ-sinh mà đem ra dùng hôm nay thì có khi chứa đủ số liều mà chính anh cũng không đếm nổi.