Người mẫu An Tây khai rằng “đang dọn dẹp căn hộ thì cô nhặt được 1 túi ni lông màu hồng. Bên trong có 1 gói ketamine và 2 gói nước vui. Cô bảo mình không dùng 2 loại đó nên đem cho bạn”. Đọc lời khai này chắc ai cũng bật cười, dọn nhà mà nhặt được ma túy.
Mình để ý 3 người nổi tiếng bị khởi tố hôm 14 tháng 11 năm 2024 là ca sĩ Chi Dân, người mẫu An Tây và Nguyễn Đỗ Trúc Phương đều dính tới cùng 1 chất. An Tây bị cáo buộc chịu trách nhiệm về 13,7g ke, bên cạnh 0,11g ma túy đá và 0,75g cần sa. Trúc Phương bị cáo buộc 138g ke, cộng 487g dạng hỗn hợp. Chi Dân bị cáo buộc rủ nhóm bạn dùng ketamine và thuốc lắc. Ngay cả nước vui, thứ nghe như nước trái cây, theo giám định của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy cũng chứa 5 đến 7,5% ke.
Cả vụ án VN10 cũng khởi đầu bằng rất nhiều ke. Tháng 3 năm 2023, hải quan Tân Sơn Nhất phát hiện gần 3kg ke (cùng 8kg MDMA) giấu trong 157 tuýp kem đánh răng của 4 nữ tiếp viên hàng không.
Báo chí thường gọi chung tất cả là ma túy. Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, Luật 86/2025 xếp ke vào cùng nhóm với heroin, cocaine và ma túy đá. Ngưỡng xử lý hình sự tụt từ 1g xuống 0,1g (chỉ 1/10g, đâu đó chừng 2 hạt gạo). Trước đó ke bị gộp vào nhóm chất ma túy khác ở thể rắn và các đường dây khai thác đúng kẽ hở ấy bằng cách chia nhỏ liều.
I - NGÔN NGỮ PHÒNG BAY
Ke là ketamine. Chắc nhiều bạn từng nghe mấy chữ dân trong nghề hay nói như “xào ke”, “kẻ ke” (chia thành từng đường, mỗi đường 1 lần dùng). Trong phòng người ta hay bảo nhau kẻ mỏng thôi, kẻ dày quá, kẻ cho tao 1 đường nữa, nghe cứ như đang bàn chuyện vẽ vời.
Cắn kẹo là dùng thuốc lắc. “Bay” là cả buổi đó. “Hàng” là chỉ chung các chất, ai đang cầm hàng thì là chủ xị.
Trên báo có lời 1 người từng chơi ở Hải Phòng. Anh ta bảo cắn kẹo chỉ là khởi động, vào bay rồi thì phải có ke mới trụ được lâu. Ke nặng đô hơn lắc, dùng lắc xong mà làm vài đường ke thì lắc tan ngay. Nói chung trong phòng bay, ke thường đi cùng những chất khác.
II - NHỮNG CUỐN SÁCH VIẾT VỀ KE
Ke có 1 điểm mà các chất khác không có: người ta viết sách về nó khá nhiều, trong số đó có 3 người tự thí nghiệm lên chính mình rồi kể lại tường tận.
John Lilly là nhà nghiên cứu thần kinh học, người phát minh ra bể cách ly cảm giác. Ông tự tiêm ke để cắt cơn đau nửa đầu, gọi đùa nó là Vitamin K. Theo tự truyện của chính ông, sau đó ông tăng lên tiêm mỗi giờ 1 lần, 20 tiếng mỗi ngày, ròng rã nhiều tuần. Giai đoạn ấy ông tin mình đã bắt được liên lạc với 1 thực thể ngoài vũ trụ, có lần còn gọi điện thẳng tới Nhà Trắng để cảnh báo về 1 âm mưu hạt nhân của người ngoài hành tinh.
Marcia Moore là tác giả sách về yoga. Bà viết chung với chồng, 1 bác sĩ, cuốn Journeys into the Bright World, trong đó bà mô tả trải nghiệm với ke bằng thứ ngôn ngữ gần như của người hành hương. Bà nghiện nặng. Đêm 14 tháng 1 năm 1979 bà mất tích. 2 năm sau người ta tìm thấy bộ xương của bà trong 1 khu rừng ở Washington, kết luận là bà tự tiêm hết chỗ thuốc mang theo rồi chết vì lạnh.
Người thứ 3 là D.M. Turner, tác giả 1 cuốn cẩm nang được đọc rất rộng trong giới, có hẳn 1 chương về ke. Tháng 1 năm 1997, người ta tìm thấy ông chết đuối trong bồn tắm ở San Francisco, khi ấy ông 34 tuổi, cạnh bồn có 1 chai ketamine. Trong chính cuốn sách của mình, ông đã viết ra lời cảnh báo: dùng ke thường xuyên có thể lôi cuốn người ta như 1 lối trốn chạy, vì cái trạng thái không còn sợ hãi, tách rời khỏi cơ thể ấy đạt được quá dễ dàng. Ông còn liệt kê từng thứ ông tự thấy ở mình: tham vọng giảm đi, những nỗi sợ sinh tử lành mạnh cũng giảm và ông ngại đối mặt trực tiếp với việc khó.
Ông nhìn thấy hết, viết ra hết rồi cho xuất bản thành sách để người khác đọc. Rồi ông vẫn chết trong bồn tắm.
III - KE LÀM GÌ TRONG ĐẦU NGƯỜI DÙNG
Ke khác đá. Người dùng đá thấy mình như siêu nhân, năng lượng dồi dào, còn ke thì tách người ta ra khỏi chính mình, kiểu như phân thân. Về mặt kỹ thuật, nó là thuốc gây mê tách rời. Ở liều dưới mức gây mê, người dùng vẫn tỉnh nhưng ý thức bị ngắt khỏi cơ thể và khỏi mọi thứ xung quanh. 1 tài liệu mô tả trạng thái đó là có ở đó mà không ở đó, là chính mình mà không phải chính mình.
Karl Jansen, người viết cả 1 cuốn sách về ketamine, đưa ra cách lý giải thế này: sự lệ thuộc ketamine đôi khi phản ánh 1 khao khát được bao bọc, 1 sự trở về tử cung hoặc theo cách nói của những người thiên về huyền học là quay ngược xa hơn nữa về nguồn cội.
Ra đời thường mà nói thì uống rượu thấy dễ chịu hơn, dùng đá thấy mình khỏe hơn, 2 thứ đó đều thêm vào cho người ta 1 cảm giác. Ke thì làm ngược lại, nó tắt bớt đi: tắt cảm giác về cơ thể, tắt cảm giác về căn phòng mình đang ngồi, nặng hơn nữa thì tắt luôn cảm giác mình là ai.
Nên với 1 người đang mang chuyện gì đó nặng nề mà không tâm sự được với ai, ke hấp dẫn ở chỗ trong mấy giờ đồng hồ ấy, không còn ai ở đó để mà chịu đựng nữa. Chuyện thì vẫn nguyên đấy, chỉ là người mang nó tạm thời vắng mặt.
IV - ẢNH HƯỞNG TỚI CƠ THỂ RA SAO
Ke đào thải qua nước tiểu và trên đường ra nó đốt niêm mạc bàng quang: viêm, rồi loét, rồi xơ. Bàng quang co lại, dung tích nhỏ dần. 1 khảo sát trên 1.285 người dùng cho thấy hơn 1/4 có triệu chứng đường tiết niệu. Nghiên cứu ở Đài Loan ghi nhận thời gian trung bình từ lúc bắt đầu dùng tới lúc có triệu chứng là chừng 2 năm.
Bác sĩ Ben Cheung ở Hồng Kông mô tả những ca nặng nhất là người trẻ phải đi tiểu 15 phút 1 lần, không đi nổi 1 chuyến xe buýt mà không phải xuống giữa đường tìm nhà vệ sinh. Bên Đức có 1 thanh niên 25 tuổi phải cắt bỏ bàng quang.
Đi kèm là những cơn đau quặn bụng mà dân chơi bên Anh gọi là K-cramps. 1 nghiên cứu năm 2025 trên 274 người ghi nhận 56% từng bị.
Mà ke vốn là thuốc giảm đau. Bác sĩ Mohammed Belal bên Anh nói dùng lâu thì bàng quang viêm rất nặng, người ta đau dữ dội rồi lại dùng thêm ke vì nó dập được cơn đau, thành ra 1 vòng luẩn quẩn làm bệnh nặng lên rất nhanh.
Jack Curran ở Essex kể lại lần đầu bị chuột rút, anh đau đến vã mồ hôi và gào lên, thề không bao giờ đụng vào nữa. Cơn đau vừa dứt, vài giờ sau anh lại dùng tiếp.
Bên Anh còn mấy người khác công khai kể chuyện của mình. Nathan, 34 tuổi, ở Kent, sau 7 năm dùng ke, mô tả cảm giác đi tiểu như tiểu ra mảnh thủy tinh. George, 27 tuổi, bắt đầu dùng từ năm 17 tuổi, phải bỏ việc vì cứ 5, 10 phút lại phải vào nhà vệ sinh. Barney Casserly, 21 tuổi, mỗi đêm dậy 20 lần, nói với mẹ rằng nếu đây là cuộc sống thì con không muốn nữa. Barney đã mất.
Cậu biết vì sao mình phải dậy 20 lần mỗi đêm. Cậu vẫn dùng tiếp cho tới lúc mất.
V - VÌ SAO BIẾT SỢ MÀ VẪN KẺ TIẾP
Với ma túy đá, các nghiên cứu về khả năng tự nhận thức cho thấy người dùng bị suy giảm chính khả năng nhìn ra vấn đề của mình. Họ chối bay chối biến, mà chối như thế cũng là 1 triệu chứng, chẳng liên quan gì tới tính cách.
Ke thì khác. 1 nghiên cứu phỏng vấn 90 người dùng cho thấy 57% người dùng thường xuyên đã tự lo rằng mình nghiện, ở nhóm đã cai con số là 60%. Nghiên cứu năm 2025 trên 274 người nghiện ke ghi nhận 60% đã gặp trục trặc ở bàng quang hoặc mũi, 71% có cơn thèm, mà chỉ 56% từng đi tìm cách chữa. Có người trong nghiên cứu gọi ke là heroin của cả 1 thế hệ. Ở 1 nghiên cứu khác trên 30 người dùng hằng ngày, 28 người từng cố bỏ và thất bại, cả 28 người đều nêu cùng 1 lý do là cơn thèm.
Nghĩa là họ biết, biết khá sớm là đằng khác. Họ thấy bàng quang mình đang nát dần, họ đau đến mức gào lên, họ tự hứa lần này là lần cuối, rồi họ vẫn kẻ tiếp 1 đường.
Đọc tới đây mình lại nhớ tới D.M. Turner. Bao nhiêu năm nay chúng ta làm tuyên truyền chống ma túy theo 1 giả định: cho người ta xem đủ ảnh ghê rợn, kể đủ hậu quả thì người ta sẽ tránh. Tranh cổ động dán khắp trường học, khẩu hiệu “hãy nói không”.
Nếu giả định đó đúng thì Turner phải là người an toàn nhất trong số những người dùng ke. Ông chả những biết ke làm gì với mình, ông còn ngồi phân tích ra từng món một: tham vọng giảm thế nào, sợ hãi giảm ra sao, mình ngại việc khó từ lúc nào. Ông viết ra, cho xuất bản thành sách, bán cho người khác đọc để họ tránh.
Rồi ông chết trong bồn tắm, cạnh 1 chai ke. Ông đâu có thiếu thông tin, ông có nhiều thông tin và kinh nghiệm hơn bất kỳ ai đang đọc bài này.
VI - VĂN HÓA PHÒNG BAY
Ke bùng lên ở Hồng Kông cuối thập niên 1990. Đến năm 2002, trong số người dùng ma túy dưới 21 tuổi được báo cáo, 59% dùng ke, nhiều hơn cả thuốc lắc. Đến 2009 con số ấy gần 84%.
Vì sao lại là Hồng Kông và vì sao đúng lúc đó?
1 phần vì tiền: khoảng năm 2007 đến 2009, giá mỗi gam ke nguyên chất ở đây chỉ chừng 144 đô la Hồng Kông, rẻ hơn hẳn lắc và đá. 1 phần vì nguồn: Trung Quốc và Ấn Độ là 2 nước sản xuất ke y tế lớn nhất thế giới, hàng chảy ra chợ đen ngay từ các nhà máy ấy.
Phần nữa là sau năm 1997, chính quyền siết các bữa tiệc ngoài trời, giới kinh doanh liền quay xe: họ biến quán karaoke và nhà hàng sẵn có thành hộp đêm khép kín. Cuốn Drugs and Culture còn ghi nhiều thanh niên lao động Hồng Kông sang tận Thâm Quyến hát karaoke và dùng ke, vì bên đó rẻ hơn, lại có cảm giác thoát khỏi mắt cảnh sát.
Cuộc chơi chuyển từ ngoài trời vào trong phòng, cửa phòng đóng lại, bên trong là 1 nhóm quen nhau. Ở nước mình, theo cáo trạng, tối 15 tháng 3 năm 2024, Trúc Phương tổ chức sinh nhật cho 1 người bạn tại nhà riêng ở Thủ Đức, chuẩn bị sẵn bóng cười cùng ke và mấy thứ khác cho cả nhóm.
Hồng Kông ngày trước dẹp tiệc ngoài trời thì cuộc chơi dạt vào phòng karaoke. Ở ta thì nó vào thẳng nhà riêng, mà phòng karaoke chắc cũng khối.
Thuốc lắc đi ra từ văn hóa tiệc nhạc điện tử (rave) của phương Tây, mang theo cả 1 mớ ý niệm về cộng đồng, về tâm linh, về lối sống khác. Ke thì chả mang theo gì, nó chỉ cần 1 căn phòng và 1 cái đĩa.
VII - NHỮNG CHUYẾN HÀNG
Tháng 3 năm 2025, công an triệt phá 1 xưởng ở xã Vĩnh Lương, Nha Trang, thu 1,4 tấn ketamine thành phẩm cùng gần 80 tấn hóa chất. Người cầm đầu mang quốc tịch Đài Loan, sang Việt Nam từ 2021 với vỏ bọc kinh doanh cá cảnh. Trung tướng Nguyễn Văn Viện nói đó là công xưởng ma túy tổng hợp lớn nhất từng bị triệt phá ở nước ta.
1,4 tấn ở 1 xưởng, cộng với gần 3kg đi qua 1 chuyến bay, cộng với 52,5 tấn mà cả khu vực Đông và Đông Nam Á thu giữ riêng trong năm 2025, theo UNODC. Chỗ hàng ấy đi đâu thì có người dùng ở đó. Những người đó đang ở quanh đây, chỉ là chưa ai trong số họ xuất hiện trên trang báo nào, cho tới ngày bị bắt.
Ketamine được 1 nhà hóa học Mỹ tên Calvin Stevens tổng hợp năm 1962 để thay cho PCP. Từ 1970 nó thành thuốc gây mê phổ biến nhất trên chiến trường Việt Nam, vì nó không làm suy hô hấp và tiêm bắp là ngấm. Người lính có thể tự tay tiêm cho đồng đội bị thương ngay tại chỗ, không sợ người kia tắt thở trước khi trực thăng tới.
Lính Mỹ gọi nó là buddy drug (thuốc đồng đội). 64 năm sau, nó vẫn được chuyền tay giữa bạn bè trong 1 căn phòng đóng cửa, người này kẻ cho người kia 1 đường, vẫn là thứ người ta đưa cho bạn mình, chỉ khác là bây giờ đưa xong thì cả 2 cùng đi tù.
Ngày trước người ta tiêm nó cho 1 người đang bị thương để người đó khỏi chết. Bây giờ người ta đưa nó cho 1 người đang bất ổn để người đó khỏi phải nghĩ, khỏi phải có mặt, khỏi phải đối diện với nỗi đau của mình.
Chồng của Marcia Moore, sau khi vợ mất, có nói 1 câu về cuốn sách 2 vợ chồng từng viết chung. Ông bảo ông đã nói với bà rằng nó là 1 kẻ dụ dỗ chứ không phải 1 nữ thần. Bà không tin ông.