Trưa 22/5/2026, hàng triệu người Việt ngồi chờ trang Facebook của Công an Thành phố Hồ Chí Minh, chờ xem nghệ sĩ, ca sĩ nào bị còng tay tiếp theo. Sau 12 giờ 30, thứ hiện lên chỉ là thông báo về 140 người bình thường, không có ca sĩ hay nghệ sĩ nào.

Thông báo ấy đăng trên trang chính thức của PC04 Công an Thành phố Hồ Chí Minh, về việc bắt 140 người trong chuyên án VA0126Đ. Chỉ trong 1 tiếng, trang tăng thêm 217.000 lượt theo dõi. Tuần đầu của chiến dịch 45 ngày đêm, thành phố xử lý 214 người. Tháng 10/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đặt mục tiêu thành phố không còn ma túy vào năm 2030.

Tiếp đó, Anh Ba Ngọc Sơn rồi Duy Mạnh chủ động đi xét nghiệm nước tiểu, công khai kết quả âm tính để chứng tỏ mình trong sạch, không dùng chất kích thích. Cư dân mạng hăng hái réo tên Tuấn Hưng, Lê Bảo Bình và nhiều nghệ sĩ khác cùng đi xét nghiệm.

I - BÃI BIỂN HỔ MÔN NĂM 1839

Ngày 3/6/1839, trên bãi biển Hổ Môn ở Quảng Đông, Trung Quốc, 500 công nhân bắt đầu 23 ngày tiêu hủy 20.283 hòm thuốc phiện, khoảng 1.400 tấn, dưới sự giám sát của khâm sai đại thần Lâm Tắc Từ (Lin Zexu). Họ trộn thuốc phiện với vôi và muối rồi đổ ra biển. Lâm Tắc Từ viết thư ngỏ gửi Nữ hoàng Victoria, lập luận rằng nếu không chặn được việc buôn thuốc phiện thì Trung Quốc sẽ chẳng còn binh lính mà cũng chẳng còn bạc.

Đây có thể coi là chiến dịch chống ma túy đầu tiên do nhà nước tiến hành trong lịch sử hiện đại. 187 năm sau, Thành phố Hồ Chí Minh mở chiến dịch 45 ngày đêm với quy mô và quyết tâm tương tự. Vậy trong gần 2 thế kỷ, ở hàng chục quốc gia, có bao nhiêu chiến dịch chống ma túy thật sự thắng?

Mình đọc các sách chuyên khảo về chính sách ma túy dẫn trong bài này, cộng thêm báo cáo của UNODC, WHO, ICC, Brookings, RAND Corporation. Nhân loại đã thử chặn ma túy bằng trấn áp bạo lực, bằng giáo dục cho sợ và bằng quản lý y tế. Trấn áp và dọa dẫm đều thất bại nặng nề, chỉ cách quản lý bằng y tế là có kết quả, mà đó lại là cách ít ai dám làm.

II - TRẤN ÁP BẰNG BẠO LỰC

Cách phổ biến nhất là trấn áp, cũng là cách có nhiều tài liệu ghi lại thất bại nhất. Nước chi cho nó nhiều tiền nhất là Mỹ. Năm 1971, Tổng thống Nixon tuyên bố ma túy là kẻ thù số 1. 55 năm sau, theo Center for American Progress, Mỹ đã chi tổng cộng 1.000 tỷ USD, chẳng khác gì đổ tiền ra biển. Ngân sách hiện vẫn là 44,5 tỷ USD mỗi năm, hơn 2/3 dành cho thực thi pháp luật, chỉ khoảng 3,6% cho điều trị cai nghiện.

Cuốn Overdose của Perrin chỉ ra rằng từ 1990 đến 2007, giá heroin tại Mỹ giảm 81%, cocaine giảm 80%, cần sa giảm 86%, trong khi độ tinh khiết lại tăng. Giá giảm tức là cung tăng, ma túy tràn ngập thị trường hơn bao giờ hết. Cuốn Lies, Damned Lies, and Drug War Statistics của Robinson và Scherlen phân tích các báo cáo của Cơ quan Kiểm soát Ma túy Mỹ rồi kết luận ngắn gọn: cơ quan này liên tục che giấu thất bại, cuộc chiến chống ma túy bằng bạo lực và pháp luật không đạt được mục tiêu nào.

Sau 55 năm, Mỹ có 2,3 triệu người trưởng thành bị giam giữ mỗi ngày, 1/2 số tù nhân liên bang là tội phạm ma túy. Trong cuốn The New Jim Crow, Michelle Alexander chứng minh hệ thống tư pháp về ma túy của Mỹ đã sinh ra 1 kiểu phân biệt chủng tộc mới: người da đen bị bắt vì ma túy với tỷ lệ gấp 3 đến 4 lần người da trắng, dù tỷ lệ sử dụng tương đương. Năm 2024, CDC ước tính có 80.391 ca tử vong vì quá liều, riêng fentanyl tổng hợp gây ra khoảng 48.000 ca.

Năm 2011, Ủy ban Toàn cầu về Chính sách Ma túy kết luận thẳng: cuộc chiến chống ma túy toàn cầu đã thất bại, để lại hậu quả tàn khốc cho cá nhân và xã hội. Năm 2023, Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc cũng đồng quan điểm.

Thái Lan thì ra tay nhanh hơn nhiều. Ngày 14/1/2003, Thủ tướng Thaksin Shinawatra tuyên chiến với ma túy. Trong 3 tháng đầu, theo Human Rights Watch, Amnesty và Open Society, có từ 2.275 đến 2.800 người bị giết, phần lớn không qua xét xử. Năm 2007, ủy ban điều tra độc lập của chính phủ quân sự kết luận có hơn 1.000 nạn nhân hoàn toàn không liên quan tới ma túy.

Bức thư Bộ Nội vụ Thái Lan gửi các tỉnh trưởng ngày 21/2/2003, được tờ Sunday Times của Anh có được năm 2008, ghi rõ 3 cách để giảm danh sách đối tượng theo dõi: bắt giữ, giết ngoài vòng tư pháp hoặc chết theo cách khác. Khi Liên Hợp Quốc chất vấn, Thaksin đáp 1 câu về sau thành nổi tiếng: “Liên Hợp Quốc không phải cha tôi”.

Ở Philippines, Rodrigo Duterte thắng cử năm 2016 với lời hứa giết hết tội phạm ma túy. Theo cảnh sát Philippines, tới tháng 5/2022 chiến dịch đã giết 6.252 người. Theo HRW, Amnesty và ICC, nếu tính cả các vụ giết người tự phát thì con số là từ 12.000 đến 30.000 người, chủ yếu là dân nghèo thành thị. Ngày 30/9/2016 tại Davao, Duterte phát biểu: “Hitler tàn sát 3 triệu người Do Thái, có 3 triệu người nghiện ma túy, tôi sẽ vui lòng giết hết họ”.

Hiệu quả ra sao? Tháng 1/2020, Phó tổng thống Leni Robredo dẫn dữ liệu chính thức: “bất chấp tất cả mạng sống Filipino bị giết và toàn bộ tiền chính phủ đã chi, chúng tôi chỉ thu giữ chưa đến 1% nguồn cung ma túy đá” (ở Philippines, ma túy đá có tên là shabu). Cơ quan Dangerous Drugs Board của Philippines cho biết tỷ lệ người dùng ma túy giảm từ 2,3% (2015) xuống 2,05% (2019), tức khoảng 130.000 người trong 4 năm. Đem 30.000 sinh mạng ra đổi lấy con số ấy thì cái giá quá đắt.

Tháng 3/2025, Duterte bị bắt tại sân bay Manila và bị giao cho Tòa án Hình sự Quốc tế ICC. Tháng 4/2026, ICC xác nhận cả 3 cáo buộc tội ác chống loài người, đưa Duterte ra xét xử.

Mexico thì tuyên chiến bằng quân đội. Ngày 11/12/2006, Tổng thống Felipe Calderón tuyên chiến với các băng đảng ma túy, triển khai 6.500 lính. Mỹ hỗ trợ 3,3 tỷ USD qua Sáng kiến Mérida (gói viện trợ an ninh của Mỹ cho Mexico), Mexico tự chi 46,6 tỷ USD. 20 năm sau, hơn 450.000 người chết, hơn 100.000 người mất tích theo số liệu chính thức. Các băng đảng lớn bị phá nhưng vỡ ra thành nhiều mảnh nhỏ, bạo lực hơn. Sản xuất fentanyl bùng nổ, Mexico giờ là nguồn fentanyl chính của Mỹ. Báo cáo GAO năm 2023 cho biết tỷ lệ giết người ở Mexico đã tăng hơn 3 lần.

Ở Colombia và Afghanistan thì thấy rõ hiệu ứng bóng bay. Từ năm 2000, Mỹ chi hơn 10 tỷ USD qua Plan Colombia (Kế hoạch Colombia). Cuốn Drug War Capitalism của Dawn Paley và cuốn Drugs, Oil, and War của Peter Dale Scott chỉ ra rằng Plan Colombia thực chất là chương trình quân sự hóa khu vực, khoác cái vỏ chống ma túy. Máy bay phun thuốc diệt cỏ glyphosate ồ ạt xuống các cánh rừng coca, gây thảm họa sinh thái và làm hỏng hoa màu của nông dân. Kết quả thế nào? Theo World Drug Report 2025 của UNODC, Colombia vẫn chiếm 67,3% diện tích trồng coca toàn cầu, sản xuất khoảng 70% lượng cocaine thế giới, diện tích trồng coca còn lập kỷ lục mới.

Cuốn The Politics of Heroin của Alfred McCoy chỉ ra rằng ở Afghanistan, dù các chiến dịch triệt phá thuốc phiện kéo dài 20 năm, sản lượng vẫn liên tục lập kỷ lục, thành nguồn tài trợ chính cho Taliban. Khi Taliban cấm trồng thuốc phiện từ tháng 4/2022, diện tích trồng giảm 96% chỉ sau 1 năm nhưng sản xuất ma túy đá tổng hợp quanh Afghanistan lại tăng 50% vào cuối năm 2024. Cấm 1 chất tự nhiên thì cả hệ thống chuyển sang chất tổng hợp, dễ giấu hơn.

Ngoại lệ duy nhất là Trung Quốc thời Mao Trạch Đông, giai đoạn 1949 đến 1952, mà cũng chẳng ai sao chép được. Khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, ước tính có 20 triệu người nghiện thuốc phiện, chiếm 10% dân số trưởng thành. Tới năm 1953, Trung Quốc tuyên bố sạch ma túy. Riêng năm 1952, theo South China Morning Post, có 82.000 vụ bắt, 35.000 án tù, 880 vụ hành quyết công khai. 10 triệu người phải vào cai nghiện bắt buộc. Trung Quốc sạch ma túy từ 1953 tới cuối thập niên 1970, đây là trường hợp thành công duy nhất ở quy mô lớn.

Vì sao Mao làm được? Vì cùng lúc ông có đủ mấy thứ: bộ máy toàn trị kiểm soát tới từng hộ, địa lý bị cô lập vì nơi sản xuất đã dời ra Tam giác Vàng (vùng giáp ranh Myanmar, Lào, Thái Lan), khung ý thức hệ rất mạnh, không có thiết chế nhân quyền nào hạn chế nhà nước và xã hội đồng thuận cao sau cách mạng. Thiếu 1 trong số đó là mô hình tan rã. Năm 1979 Trung Quốc mở cửa kinh tế, ma túy quay lại, hiện nước này có hơn 800.000 người nghiện đăng ký. Độ khắc nghiệt chỉ là 1 phần, cái Mao có là đủ cả 5 điều kiện ấy cùng lúc, thứ chẳng quốc gia hiện đại nào sao chép nổi.

Đặt 7 trường hợp ấy cạnh nhau thì thấy mấy điều cứ lặp đi lặp lại. Bóp nguồn cung mà không giảm được cầu thì sinh ra hiệu ứng bóng bay, bóp chỗ này phình chỗ khác. Tử hình hay bạo lực cực đoan chỉ dọa được trong ngắn hạn, sau 6 đến 12 tháng người nghiện và kẻ buôn lại xuất hiện, vì lợi nhuận biên vẫn thế. Quân sự hóa cuộc chiến chống ma túy phá vỡ pháp quyền nhanh hơn phá băng đảng. Cấm 1 chất tự nhiên thì hệ thống chuyển sang chất tổng hợp dễ giấu hơn. Riêng chuyện xóa hẳn thị trường ma túy thì chỉ làm được khi có đủ những điều kiện Mao từng có.

III - GIÁO DỤC BẰNG NỖI SỢ

Trấn áp không ăn thua thì chắc giáo dục phải có tác dụng chứ? Mọi người nghĩ vậy cũng tự nhiên thôi: giết người thì sai về đạo đức, còn dạy con cháu sợ ma túy thì hợp lý quá rồi. Tiếc là nhìn vào số liệu thì cũng không.

Năm 1983, sở cảnh sát Los Angeles phối hợp với hệ thống trường công khởi động chương trình D.A.R.E., viết tắt của Drug Abuse Resistance Education, tức Giáo dục chống lạm dụng ma túy. Cảnh sát mặc đồng phục vào lớp, dạy học sinh tiểu học và trung học cơ sở nói không với ma túy, nói không với rượu, nói không với áp lực bạn bè. Chương trình lan ra 75% trường học ở Mỹ và được nhân rộng sang 50 nước. Song song với đó, đệ nhất phu nhân Nancy Reagan phát động chiến dịch Just Say No, dội bom truyền hình bằng 1 thông điệp đơn giản: chỉ cần nói không với ma túy.

Cuốn Prevention of Substance Use của Sloboda và cộng sự cùng cuốn Substance Abuse của David E. Newton đã tổng kết hàng chục nghiên cứu tổng hợp về D.A.R.E. Kết luận chung là về lâu dài, chương trình hoàn toàn không ngăn được học sinh dùng ma túy. Tệ hơn, 1 số nghiên cứu còn thấy hiệu ứng ngược, trẻ tham gia D.A.R.E. đôi khi dùng ma túy nhiều hơn nhóm không tham gia.

Lý thuyết phản kháng của nhà tâm lý học Jack Brehm giải thích chuyện này: 1 người bị nghe quá nhiều câu đừng làm cái này cái kia thì não sẽ phản kháng để giữ quyền tự chọn của mình. Tuổi vị thành niên lại là lúc con người phản kháng mạnh nhất trong cả đời. Càng cấm càng tò mò, càng dọa càng muốn thử.

Đến cuối thập niên 90, các bang của Mỹ bắt đầu lặng lẽ cắt ngân sách D.A.R.E. vì không biện minh nổi kết quả. Ấy vậy mà chương trình vẫn sống ở nhiều địa phương, vì lý do chính trị chứ hiệu quả thì chẳng có.

Tinh vi hơn là chiến dịch The Meth Project, ra đời năm 2005 ở Montana rồi lan ra 7 bang của Mỹ và 1 số nước. Họ làm phim quảng cáo cực kỳ ghê rợn: người chơi đá rụng răng, da lở loét, mặt biến dạng, gia đình tan nát. Khẩu hiệu là not even once, nghĩa là đừng dùng dù chỉ 1 lần.

Nghiên cứu của Anderson năm 2010 đăng trên Journal of Health Economics cho thấy sau khi kiểm soát các biến số khác, hiệu quả thực tế của Meth Project gần như bằng 0. Các chuyên gia y tế cộng đồng còn chỉ ra 1 tác dụng phụ: chiến dịch khắc sâu sự kỳ thị, người nghiện đá bị nhìn như cặn bã. Thành ra khi 1 người nghiện đá muốn cai, họ không dám tìm tới chỗ điều trị vì sợ bị người khác nhận ra. Dọa càng mạnh thì người nghiện càng giấu mình, càng ngại tìm tới chỗ chữa, nhiều người chết trong bóng tối.

IV - QUẢN LÝ BẰNG Y TẾ

Thứ có tác dụng là 1 nhóm chính sách mà phần đông người Việt chưa nghe bao giờ: giảm thiểu tác hại, tiếng Anh là harm reduction. Ý tưởng của nó đơn giản thôi, nếu chưa xóa được ma túy thì ít ra cũng giảm bớt tác hại nó gây ra cho người dùng và cho cả xã hội.

Đầu thập niên 90, Thụy Sĩ rơi vào khủng hoảng heroin. Công viên Platzspitz ở Zurich thành chợ ma túy lộ thiên, mỗi ngày hàng nghìn người tiêm chích công khai, tỷ lệ HIV trong nhóm tiêm chích lên tới 30%, tội phạm tài sản tăng vọt. Chính phủ thử đủ cách trấn áp truyền thống mà không cứu được tình hình.

Năm 1994, Thụy Sĩ làm 1 việc mà phần lớn thế giới coi là điên rồ: mở các phòng khám để người nghiện nặng, người đã cai thất bại nhiều lần, được bác sĩ tiêm heroin sạch 1 cách hợp pháp 2 đến 3 lần mỗi ngày, có giám sát y tế. Chương trình tên là Heroin-Assisted Treatment, viết tắt là HAT, tức Điều trị có hỗ trợ heroin. Cuốn Drug War Heresies của MacCoun và Reuter cùng cuốn Injecting Illicit Drugs của Pates và cộng sự có ghi lại kết quả.

Sau 5 năm, tội phạm tài sản trong nhóm bệnh nhân giảm 60%, từ 70% bệnh nhân có tiền án xuống còn 10%. Sức khỏe thể chất và tâm thần cải thiện rõ. Tỷ lệ chết vì sốc thuốc trong nhóm này gần như về 0. Quan trọng nhất, chợ đen heroin ở Zurich mất đi lượng khách lớn nhất của nó và tự sụp, chẳng cần cảnh sát triệt phá. Sau 3 năm, 60% bệnh nhân HAT tự nguyện chuyển sang methadone hoặc cai hẳn, vì khi cuộc sống ổn định trở lại thì họ có động lực để bỏ.

Cuộc trưng cầu dân ý năm 2008 ở Thụy Sĩ có 68% dân ủng hộ giữ chương trình. Anh, Hà Lan, Đức, Canada lần lượt làm theo.

Đổi kim tiêm sạch thì còn đơn giản hơn: thay vì để người nghiện dùng chung kim bẩn, phát kim sạch miễn phí cho họ. Hà Lan đi đầu từ năm 1984. Cuốn Preventing HIV Transmission của Normand, Vlahov và Moses, do Viện Hàn lâm Y học Hoa Kỳ ấn hành, tổng kết bằng chứng: đổi kim tiêm làm giảm mạnh sự lây lan HIV và viêm gan C trong cộng đồng người nghiện. Trái với nỗi lo của giới bảo thủ, nó không hề khuyến khích hay làm tăng số người dùng ma túy. Năm 2004, WHO chính thức kết luận đổi kim tiêm là biện pháp y tế công cộng hiệu quả nhất từng được kiểm chứng để chống HIV trong nhóm tiêm chích.

Bồ Đào Nha thì đi xa hơn cả, phi hình sự hóa toàn diện. Năm 2001, nước này bỏ tội hình sự với việc sử dụng cá nhân mọi loại ma túy. Ai bị bắt với lượng dưới mức dùng trong 10 ngày thì không phải vào tù, họ được đưa tới 1 Ủy ban giảm thiểu nghiện ngập gồm bác sĩ và người làm công tác xã hội. Tiền trước đây dành cho cảnh sát và nhà tù được chuyển sang điều trị tâm lý, y tế, tái hòa nhập.

Vài năm sau, tử vong vì quá liều giảm từ khoảng 400 ca mỗi năm xuống 290 ca. Ca nhiễm HIV mới do dùng chung kim tiêm giảm từ gần 1.400 (năm 2000) xuống 400 (năm 2006). Mức sử dụng ở nhóm tuổi nguy hiểm nhất, từ 15 đến 24, giảm chứ không tăng. Nhà báo Johann Hari ghi lại các con số này cùng chuyện của những người thật trong cuốn Chasing the Scream. Bồ Đào Nha không hề biến thành thiên đường ma túy như người ta từng dọa.

Năm 2012, vì khủng hoảng kinh tế, chính phủ Bồ Đào Nha cắt ngân sách cho chính sách này từ 76 triệu euro xuống 16 triệu euro. Tới 2022, tỷ lệ người trưởng thành từng dùng ma túy tăng từ 7,8% (năm 2001) lên 12,8%. Mô hình yếu đi vì hết tiền duy trì, nguyên lý của nó vẫn đúng. Giảm thiểu tác hại là 1 hạ tầng y tế xã hội, phải rót tiền đều đặn, cắt tiền 1 năm là hệ thống yếu đi nhiều năm.

Đặt 3 cách cạnh nhau thì thấy trấn áp bằng bạo lực gây thương vong khổng lồ mà không giảm được cầu, giáo dục bằng nỗi sợ thì vô tác dụng, lại sinh ra kỳ thị chặn đường điều trị. Quản lý bằng y tế và giảm thiểu tác hại thì cho kết quả đo được, tốt hơn hẳn. Các sách và báo cáo dẫn ở trên đều đi tới kết luận này.

V - VÌ SAO THẾ GIỚI VẪN LẶP LẠI SAI LẦM

Dữ liệu rõ như thế, sao thế giới cứ lặp lại 1 cách làm suốt 2 thế kỷ? Mình nghĩ câu trả lời nằm ở tâm lý học nhiều hơn ở chính sách.

Daniel Kahneman, nhà tâm lý học người Mỹ gốc Israel, đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2002, tác giả cuốn Tư duy nhanh và chậm, chia cách nghĩ trong đầu con người làm 2 lối. Lối nhanh thì cảm tính, dựa vào hình ảnh và câu chuyện cụ thể. Lối chậm thì có phân tích, dựa vào dữ liệu và lập luận. Phần lớn quyết định trong đời là do lối nhanh đưa ra, lối chậm chỉ vào cuộc khi ta có thời gian và có lý do để dừng lại nghĩ.

Cử tri thấy nghệ sĩ nổi tiếng bị còng tay, thấy trang Facebook tăng 217.000 người theo dõi trong 1 tiếng, thế là trăm nghe không bằng 1 thấy, lối nghĩ nhanh bảo rằng chính quyền đang hành động, mình đang an toàn hơn. Vẫn cử tri ấy đọc báo cáo của Robredo, thấy Philippines chỉ thu giữ chưa đến 1% nguồn cung ma túy đá, thì lối nghĩ chậm bảo chiến dịch không hiệu quả. Lối nhanh thắng lối chậm trong gần như mọi cuộc bầu cử và mọi quyết định chính sách. Chính trị gia khắp nơi vẫn chọn trấn áp dù biết không hiệu quả, vì cử tri thưởng cho hành động nhìn thấy được chứ có thưởng cho kết quả thật đâu.

Robert Sapolsky, nhà sinh học thần kinh ở Đại học Stanford, tác giả cuốn Behave, viết về phi nhân hóa, tức là bộ não thôi coi 1 nhóm người nào đó là con người. Khi xã hội coi 1 nhóm người là tệ nạn, não của những người còn lại kích hoạt cùng 1 vùng như khi ta nhìn thấy gián hay rác. Ta không còn nhìn họ là đồng loại, chỉ thấy họ là thứ cần dọn đi. Cơ chế ấy giải thích vì sao phần đông dân Philippines vẫn ủng hộ Duterte dù hàng chục nghìn người bị giết. Nó cũng giải thích vì sao hôm 22/5 nhiều người đọc tin trên Facebook hả hê trước hình ảnh 140 người bị còng tay, chẳng ai hỏi họ là ai, có ai bị oan không, gia đình họ giờ ra sao.

Triết gia Immanuel Kant (thế kỷ 18, 1 trong những người có ảnh hưởng lớn nhất tới triết học phương Tây) đặt câu hỏi đạo đức theo chiều ngược lại. Duterte lập luận giết 30.000 người để cứu 3 triệu người, tức là tính toán lời lỗ. Kant thì cho rằng con người phải được đối xử như 1 mục đích tự thân, không bao giờ chỉ là công cụ để đạt mục đích khác. Xã hội nào chấp nhận giết người như 1 công cụ làm đẹp con số thống kê thì xã hội ấy đã bỏ cái nền đạo đức của chính mình.

Lisa Feldman Barrett, giáo sư tâm lý học ở Đại học Northeastern của Mỹ, chuyên gia hàng đầu thế giới về thần kinh học cảm xúc, tác giả cuốn Cảm xúc được hình thành như thế nào, đưa thêm 1 lời giải thích nữa. Theo bà, nỗi sợ ma túy của cả 1 xã hội do truyền thông, chính sách và ngôn ngữ nhào nặn ra, chứ chẳng phải bản năng có sẵn. Vì sao người Việt sợ heroin năm 2000 và sợ ma túy đá năm 2020 ở mức khác nhau, dù chất nào cũng nguy hiểm? Vì cách kể chuyện về 2 chất ấy khác nhau. Nỗi sợ đã thiết kế được thì cũng thiết kế lại được, theo hướng giúp ích hơn cho việc chữa trị.

Còn 1 lời giải thích nữa nằm ở tiền. Trong cuốn Drug War Capitalism, nhà báo Dawn Paley hỏi ai làm giàu từ cuộc chiến chống ma túy. Xin thưa, có cả 1 danh sách dài: ngân sách an ninh, ngành nhà tù tư nhân ở Mỹ, các nhà thầu vũ khí, ngành xét nghiệm bắt buộc, các tổ chức cai nghiện tư. Khi 1 cuộc chiến đẻ ra cả 1 nền kinh tế trị giá hàng trăm tỷ USD thì những nhóm hưởng lợi từ nó chẳng đời nào muốn nó kết thúc. Họ vận động chính trị, tài trợ chiến dịch tranh cử, định hướng ngôn ngữ truyền thông để giữ nguyên hiện trạng. Nói chung là về mặt thể chế, cuộc chiến chống ma túy đã thành 1 cỗ máy tự nuôi mình, dù bằng chứng về thất bại đã đầy đủ từ thập niên 80.

VI - QUAY VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phố Hồ Chí Minh làm đúng nhiều việc mà các nước thất bại kể trên không làm: quy trình tố tụng được tuân thủ, không có biệt đội đi giết người, không ai khuyến khích dân giết người nghiện. Cai nghiện bắt buộc và methadone đều có, cả nước có 343 phòng khám methadone phục vụ 50.000 người nghiện các chất dạng thuốc phiện (opioid). Án tử hình cho tội ma túy vẫn có nhưng phải qua xét xử, chẳng ai bị bắn ngoài đường.

Chương trình methadone của Việt Nam vận hành từ năm 2008, sau khi quay xe khỏi cách làm cũ chỉ trông vào trại 06 (trại cai nghiện bắt buộc), là 1 bước đi đúng theo hướng giảm thiểu tác hại. Việt Nam không đi theo Duterte hay Iran, con đường mình chọn văn minh hơn hẳn 4, 5 nước kể trên.

Có điều đặt cạnh Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha hay Bắc Âu thì Việt Nam vẫn còn cách 1 quãng. Từ 7 trường hợp lịch sử và mấy nghiên cứu kể trên, thành phố còn mấy câu hỏi phải trả lời trên đường tới 2030.

Đầu tiên là chuyện phân bổ 22.450 tỷ đồng của chương trình mục tiêu quốc gia. Trong công thức 3 giảm 5 tăng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giảm cung đo được rõ ràng bằng số vụ bắt, số kg thu giữ, số bị can khởi tố. Còn giảm cầu và giảm tác hại thì chỉ tiêu là gì, đo thế nào, báo cáo định kỳ ra sao? Quyết tâm thì thành phố có thừa, chỗ còn trống nằm ở khâu thiết kế chính sách. Chưa định nghĩa được thì đo kiểu gì, mà chưa đo được thì quản lý kiểu gì?

Rồi tới năng lực cai nghiện. Phó thủ tướng nhiều lần thừa nhận các cơ sở cai nghiện công lập chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu. Tỷ lệ tái nghiện được mô tả là cao nhưng không có con số cụ thể công bố thường xuyên. Bài học của Bồ Đào Nha là ngân sách bị cắt thì mô hình yếu đi. Còn ở Singapore, tỷ lệ tái phạm giảm từ 73% (1993) xuống 30,8% (2022) là nhờ chương trình phục hồi sau cải tạo chứ chẳng phải nhờ án tử hình. Nhìn cả 2 nước thì thấy phần chữa trị mới là phần quyết định.

Chuyện giáo dục dự phòng cũng phải nhìn lại. Bạn thử nhớ lại các biển quảng cáo ngoài trời, video, chương trình tuyên truyền phòng chống ma túy ở Việt Nam 20 năm qua, chủ yếu làm theo khuôn nào? Hình ảnh ghê rợn của người nghiện, lời cảnh báo dọa dẫm, khẩu hiệu đơn giản kiểu nói không với ma túy. Đó chính là mô hình D.A.R.E. và Meth Project mà Mỹ đã thử và thất bại từ thập niên 90. Chương trình tuyên truyền của Việt Nam có dữ liệu đo hiệu quả không? Có nghiên cứu nào so sánh nhóm tham gia với nhóm không tham gia không? Có cập nhật nội dung theo các nghiên cứu mới về tâm lý phản kháng và sự kỳ thị không? Nếu chưa thì đây là 1 khoảng trống lớn.

Cuối cùng là hiệu ứng dịch chuyển. Sherman năm 1990, Fortaleza ở Brazil năm 2025, rồi Mexico, Colombia, Afghanistan đều đi tới cùng 1 kết luận. Khi thành phố siết 45 ngày, dòng hàng có thể dạt về Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh và các tỉnh giáp ranh. Hết 45 ngày, dòng hàng có thể quay lại với 1 mạng lưới mới, kín hơn, khó lộ hơn. Mình nói vậy chẳng phải vì bi quan, quy luật này đã lặp lại ở 8 chiến dịch khác nhau trong 2 thế kỷ.

VII - LÂM TẮC TỪ VÀ NĂM 2030

Năm 1839, Lâm Tắc Từ đốt 1.400 tấn thuốc phiện, đối mặt với hải quân Anh, viết thư cho Nữ hoàng Victoria. Quyết tâm chính trị, dũng khí cá nhân, hành động cụ thể, ông chẳng thiếu thứ gì. 3 năm sau, Trung Quốc thua trận, mất Hồng Kông, ký hiệp ước bất bình đẳng đầu tiên. 110 năm sau, Trung Quốc có 20 triệu người nghiện thuốc phiện. Đốt 1.400 tấn vẫn không cứu được Trung Quốc.

Ma túy vẫn thắng vì cầu vẫn còn đó, sinh ra từ những vết thương xã hội mà chẳng cái máy chém nào cắt được: nghèo đói, bất bình đẳng, mất ý nghĩa sống, thiếu kết nối, áp lực kinh tế, gia đình tan vỡ, trẻ em không được yêu thương đúng cách. Xã hội nào cũng có vết thương riêng và ma túy là cách rẻ tiền nhất để 1 người tự gây tê tạm thời trước vết thương ấy. Còng tay không chữa được nỗi đau xã hội, biển quảng cáo dọa dẫm cũng không. Thứ chữa được thì tốn công hơn nhiều: hệ thống y tế tâm thần đủ rộng, giáo dục cảm xúc cho trẻ từ tiểu học, mạng lưới hỗ trợ cộng đồng, công ăn việc làm tử tế, gia đình ổn định.

187 năm sau ngày Hổ Môn, Thành phố Hồ Chí Minh mở chiến dịch 45 ngày đêm. Quyết tâm chính trị có, bộ máy có, nguồn lực có. Khác với Lâm Tắc Từ, chúng ta còn có bài học của hàng chục quốc gia đi trước: thất bại 1.000 tỷ USD của Mỹ, thảm họa 450.000 người chết ở Mexico, Duterte đứng trước ICC, sự vô tác dụng của D.A.R.E. cùng những thành công đo đếm được của Thụy Sĩ, Bồ Đào Nha, Hà Lan với mô hình giảm thiểu tác hại.

Ngày 30/6/2026 chiến dịch khép lại với 1 con số người bị bắt. Tới năm 2030, khi mục tiêu thành phố không ma túy đến hạn, thành phố sẽ đo kết quả bằng gì? Bằng tổng số người bị bắt trong 5 năm, hay bằng số người ở 1 phường, 1 quận thật sự không còn nghiện? Bằng số kg ma túy thu giữ, hay bằng số gia đình thoát khỏi vòng xoáy heroin, đá, ke, nước vui (ma túy pha vào đồ uống)? Bằng số lần ra quân, hay bằng tỷ lệ tái nghiện sau 24 tháng giảm được bao nhiêu %?

Aristotle nói con người là những gì mình làm đi làm lại. Thành phố nào trấn áp suốt 5 năm thì sẽ giỏi trấn áp, dọa dẫm 5 năm thì giỏi dọa dẫm, chữa trị 5 năm thì giỏi chữa trị. Cả 3 việc đều cần. Nhưng nếu chỉ giỏi 2 việc đầu thì năm 2030 có thể có 1 bản báo cáo chiến dịch thành công mỹ mãn, trong khi xung quanh vẫn còn ngần ấy người chìm trong vũng tối, có khi còn đông hơn vì đã chuyển sang chất mới.

Ma túy chưa bao giờ chỉ là chuyện của người bán, người dùng hay của công an. Gần 2 thế kỷ thử và sai cho thấy chỗ quyết định nằm ở những phòng khám tâm thần chưa được mở, những giờ học cảm xúc chưa được dạy, những cộng đồng chưa được kết nối lại và ở những nỗi đau, dằn vặt mà người lớn chưa biết cách tâm sự, chưa dám thừa nhận với chính mình. Cuộc chiến ấy khó hơn 45 ngày đêm nhiều.