Chỉ còn hơn 1 ngày nữa là hết đợt cao điểm 45 ngày đêm chống ma túy của Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, mình gom vào đây khá nhiều nghiên cứu mà giới khoa học đã biết về cơn nghiện trong gần 1 thế kỷ, đặt cạnh số liệu Việt Nam năm 2026 và chính chiến dịch ấy.

Năm 1971, 2 nghị sĩ Mỹ sang thăm chiến trường Việt Nam và phát hiện 1 chuyện làm Nhà Trắng tái mặt: hơn 15% lính Mỹ đóng ở đây đang nghiện heroin. Các nghiên cứu sau đó còn cho ra con số tệ hơn, khoảng 35% từng thử, gần 20% nghiện thật sự. Heroin Đông Nam Á tinh khiết tới 95%, bán ngay cổng doanh trại, rẻ ngang 1 bao thuốc lá.

Nửa triệu lính sắp về nước, Tổng thống Nixon tin chắc nước Mỹ sắp phải đón 1 thế hệ con nghiện kéo lùi đất nước vài chục năm. Ông lập riêng 1 cơ quan chống ma túy, rồi thuê nhà khoa học Lee Robins ở Đại học Washington theo dõi từng cựu binh sau khi về.

Kết quả làm cả ngành y tế thời đó sốc tới mức không tin nổi. Chỉ khoảng 5% lính từng nghiện heroin ở Việt Nam tái nghiện trong năm đầu về nước, sau 3 năm cũng chỉ khoảng 12%, tức gần như cả nhóm tự buông được mà không cần thuốc, không bác sĩ, không trại cai (riêng bản gốc của Robins còn ghi con số tái nghiện năm đầu thấp hơn nữa).

Để bạn thấy con số này lạ tới đâu: tỷ lệ tái nghiện ở các trại cai heroin tại Mỹ khi ấy là khoảng 90%, gần như ngược hẳn. Đồng nghiệp không tin Robins, nghĩ bà làm sai hoặc bị chính trị tác động, bắt kiểm tra lại. Bà kiểm tra lại, vẫn ra đúng kết quả cũ, rồi gọi đây là câu đố Việt Nam.

Vậy tại sao lính Mỹ rời Việt Nam thì bỏ được ma túy, còn người Việt trẻ đang ở ngay trên đất nước mình, có nhà có quê, lại không bỏ được?

I - NGHIỆN LÀ CHUYỆN CỦA HOÀN CẢNH

Robins và những nhà khoa học sau bà đưa ra 1 câu trả lời mà giới y tế bảo thủ ghét cay ghét đắng, vì nó đụng vào niềm tin đã cắm cọc trong đầu họ. Lính Mỹ ở Việt Nam sống trong 1 hoàn cảnh gần như được thiết kế ra để nghiện: cái chết rình rập mỗi đêm, đồng đội ngã xuống bên cạnh, không biết sáng mai còn sống không. Heroin là cách rẻ nhất, nhanh nhất để cắt nỗi sợ ấy đi vài giờ, nhiều người lúc đó nghĩ không hút thì cũng chết vì sợ, vì hoảng loạn.

Khi về nước, họ về với vợ con, bố mẹ, công việc, họ hàng gần xa, bà con cuối phố, họ có lý do để dậy mỗi sáng mà không phải đi giết người hay tránh bị giết. Cái khoảng trống mà heroin từng lấp giờ đã được lấp bằng 1 cuộc đời.

Robins viết thẳng trong báo cáo năm 1975: nghiện là kết quả của HOÀN CẢNH chứ không phải của HÓA CHẤT. Đây cũng không phải lần đầu bà thấy điều đó. Năm 1967, trước cả vụ lính Mỹ, bà cùng cộng sự đã theo dõi 1 nhóm đàn ông lớn lên ở St. Louis, hồi trẻ nhiều người trong số đó nghiện heroin nặng, vậy mà bước sang cuối tuổi 20, đầu tuổi 30, có công việc, có gia đình, gần như ai cũng tự bỏ được, phần lớn chưa từng đặt chân vào trại cai nào.

Từ năm 1962, nhà nghiên cứu Charles Winick đã để ý thấy những người nghiện heroin từ tuổi thiếu niên thường tự biến mất khỏi hồ sơ quản lý vào khoảng giữa tuổi 20 tới giữa tuổi 30. Chỉ ít người chết, số còn lại lặng lẽ nhận lấy những vai trò người lớn mà hồi nghiện họ né tránh, đi làm, lấy vợ, nuôi con, Winick gọi đó là trưởng thành ra khỏi cơn nghiện. Các đại khảo sát dịch tễ quy mô hàng vạn người ở Mỹ sau này cũng xác nhận đúng như vậy: phần lớn người từng nghiện nặng tự bỏ được khi bước vào tuổi trưởng thành và đa số bỏ được ở bên ngoài hệ thống trại cai.

Năm 1986, nhà xã hội học Patrick Biernacki phỏng vấn sâu 101 người tự cai heroin thành công mà chưa từng vào trại nào rồi thấy họ có chung 1 điểm: ai cũng tạo được cho mình 1 vai trò mới trong đời để thay cho vai con nghiện. Họ đổi đời trước, việc bỏ chất đi theo sau.

Nghịch lý là người tự bỏ ngoài cộng đồng thì thành công nhiều, còn nhóm bị đưa vào trại cai lại tái nghiện rất nhiều, 80 tới 90% ngay trong năm đầu. Trại cai chưa hẳn vô dụng, khốn nỗi cai xong họ lại bị ném về đúng môi trường cũ, trong khi những người tự bỏ được là vì họ đã chủ động chọn 1 lối sống khác, 1 môi trường mới rồi.

II - THÍ NGHIỆM CON CHUỘT

Kết luận của Robins về sau được 1 thí nghiệm khác xác nhận, đó là Rat Park (Công viên Chuột) của giáo sư Bruce Alexander, Đại học Simon Fraser.

Trước Alexander, khoa học chứng minh ma túy gây nghiện như sau: nhốt 1 con chuột 1 mình trong cái lồng trống trơn, cho 2 bình nước, 1 bình nước thường, 1 bình pha ma túy, con chuột gần như lần nào cũng chọn bình ma túy, uống tới chết. Kết luận rút ra là ma túy gây nghiện ở cấp tế bào, dính vào là hết đường ra.

Alexander thì hỏi lại: ơ hay, con chuột ấy đang bị nhốt 1 mình trong lồng trống, nó cô đơn, chẳng có gì khác để làm, vậy nó chọn ma túy vì ma túy mạnh, hay vì nó chẳng còn gì khác trên đời?

Ông xây 1 cái công viên cho chuột rộng gấp 200 lần, có đồ chơi, đường hầm, có bạn, có bạn tình, vẫn 2 bình nước y hệt. Lũ chuột trong công viên gần như không thèm đụng tới bình ma túy. Ông còn bắt mấy con đã nghiện sẵn từ lồng cô đơn thả vào công viên, chúng tự cai trong vài tuần. Vẫn con chuột ấy, vẫn thứ ma túy ấy, khác mỗi cái lồng.

Alexander còn lấy dẫn chứng từ chính lịch sử loài người, khi so Hồng Kông với Trung Quốc đại lục sau Thế chiến II. Hồng Kông thời thuộc Anh chạy kinh tế thị trường tự do tới mức cấu trúc xã hội cũ vỡ vụn, người với người mất kết nối, làm cách gì cũng không dẹp được dịch nghiện. Trung Quốc đại lục thời đó thì siết thị trường, gắn kết lại cộng đồng và kiểm soát được dịch nghiện nhanh tới mức khó tin. Theo Alexander, gốc rễ của nghiện ngập là sự mất kết nối về tâm lý và xã hội, nói ngắn gọn thì con người cũng như con chuột, nghiện khi bị bứng khỏi bầy đàn và mất lý do để sống tử tế.

Bác sĩ tâm thần Norman Zinberg bổ sung thêm 1 mảnh quan trọng. Ông chỉ ra tác động của ma túy lên 1 con người không chỉ do bản thân chất ấy quyết định, mà do 3 thứ cộng lại: chất, tâm thế người dùng lúc đó và bối cảnh xung quanh. Cùng 1 liều heroin, người lính đang sợ chết ở chiến trường dùng nó khác hẳn 1 người bình thường ở nhà, đổi bối cảnh là đổi luôn tác động.

Trong tự truyện của Malcolm X cũng có chuyện tương tự: những con nghiện cộm cán ở khu ổ chuột Harlem bỏ được ma túy gần như ngay lập tức khi họ cải đạo, tìm thấy 1 ý nghĩa sống và bước vào 1 cộng đồng có kỷ luật. Họ cai bằng 1 lý do mới để sống, thuốc men gì đâu.

Mình không bảo Rat Park là chân lý tuyệt đối, mảng này giới khoa học vẫn cãi nhau suốt, có những thí nghiệm lặp lại về sau cho kết quả không đồng nhất. Nhưng riêng đoạn nó khớp với chuyện lính Mỹ thì khớp tới lạ: lính Mỹ ở Việt Nam là những con chuột cô đơn trong lồng, về nước 1 cái là thành con chuột trong công viên ngay.

Vậy người trẻ Việt hôm nay đang sống trong cái lồng hay ở giữa công viên?

III - CÒN VIỆT NAM TA

Theo Cục C04 Bộ Công an công bố tháng 4/2025, Việt Nam có 369.359 người nghiện, người sử dụng, người nghi sử dụng trái phép và người sau cai, trong đó độ tuổi 12 tới 30 chiếm 44,6%, 60% dùng lần đầu trong khoảng 15 tới 25 tuổi, 95% dùng ma túy tổng hợp, chủ yếu là đá. Lính Mỹ về nhà thì bỏ được, vậy người Việt trẻ đang ở nhà sao lại không bỏ được?

Mình nghĩ là vì rất nhiều người trẻ Việt Nam hôm nay đang ngồi trong nhà mình mà chẳng hề thấy đang ở nhà.

Vài con số có thật: tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15 tới 24 tuổi quý 1/2025, theo Cục Thống kê, là 7,93%, gấp khoảng 3,6 lần tỷ lệ thất nghiệp chung trong độ tuổi lao động (2,2%). Các khảo sát dùng thang đo tâm lý DASS-21 trên sinh viên nhiều trường cho thấy tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm dao động từ 1/4 tới hơn 1 nửa số người được hỏi, tùy trường. UNICEF ước tính 8 tới 29% trẻ vị thành niên Việt Nam có vấn đề về sức khỏe tâm thần.

1 đứa trẻ sinh năm 2005, 2006 lớn lên trong căn hộ mà bố mẹ làm 10, 12 tiếng mỗi ngày để trả góp, học trực tuyến suốt mấy năm dịch, ra trường gặp 1 thị trường lao động mà AI đang ăn dần cái nghề nó học, buổi tối cả nhà mỗi người 1 cái điện thoại chứ chẳng phải 1 mâm cơm. Với đứa trẻ ấy, ở nhà về mặt địa lý không còn đồng nghĩa với ở nhà về mặt tâm hồn.

Cái lồng cô đơn của Alexander chẳng cần dây thép gai, nó có thể được làm bằng wifi tốc độ cao và 1 cái màn hình quay ngang. Ma túy đá lúc ấy chỉ việc lấp vào 1 khoảng trống đã có sẵn từ trước, chẳng cần xông vào từ đâu cả.

IV - THÊM 1 CÁI LỒNG NỮA

Cái lồng vừa kể là của đứa trẻ thành thị cô đơn, còn 1 cái lồng khác đông người hơn. Nhiều người nghĩ ma túy là cuộc chơi của bọn sa đọa, dân chơi, con nhà giàu phá của, chúng nó yếu đuối, đạo đức kém nên mới dính, còn ta thì khác. Nghĩ như vậy e là đơn giản quá.

Nhìn lại số liệu Bộ Công an: 60% người nghiện không có việc làm ổn định, phần lớn lao động chân tay, học vấn thấp, 95% là đàn ông. Gương mặt ấy khó mà là 1 công tử bay lắc trong quán bar đèn laser. Nó giống 1 người đàn ông đi làm thuê hơn, lái xe, bốc vác, phụ hồ, chạy giao hàng, đi biển đánh cá…

Với 1 bộ phận người lao động nghèo, ma túy đá là thứ để cày cho khỏe, phê hay không là chuyện phụ (cái này chưa có số liệu đo được tỷ lệ bao nhiêu nhưng đủ phổ biến để người trong nghề và công an đều nhắc tới).

Ông tài xế đường dài lúc 2, 3 giờ sáng mắt đã díp lại, ngủ gật 1 cái là cả nhà mất trụ cột, nên làm 1 hơi cho tỉnh để chạy nốt chuyến. Anh bốc vác cần sức kéo cho hết container mới đủ công ngày hôm đó. Người đánh cá thì thức trắng đêm canh lưới. Lúc cầm cái coóng (dụng cụ hút đá) lên, họ chỉ nghĩ tới chuyện cày thêm 1 đêm nữa ở chính cái công việc đang vắt kiệt mình, bay bổng gì đâu, với họ đó là thuốc tăng ca.

Trong ngắn hạn, đá có tác dụng thật. Nếu đá làm người ta gục ngay từ lần hút đầu tiên thì đã chẳng ai dính. Đá nguy hiểm chính vì nó có hiệu quả, ông tài xế tỉnh thật, anh bốc vác khỏe thật, đêm ấy họ kiếm được tiền thật mang về cho con. Nó cho trước rồi lấy lại sau, lấy bằng lãi cắt cổ, vì đá hay heroin chẳng tạo ra năng lượng nào, chúng chỉ vét cạn kho dopamine dự trữ trong người bạn ra xài trước.

Đó là khoản vay nặng lãi bằng chính thần kinh và thể xác, đêm nay tỉnh là vay của ngày mai, vay mãi thì tới ngày bạn không trụ được nữa, vỡ nợ. Chẳng khác gì tín dụng đen đòi nợ bạn, ngày này qua ngày khác.

Cái lồng của người lao động nghèo đâu có trống, nó là cái lồng bắt họ chạy, chạy tới kiệt sức mà chẳng thấy vạch đích, làm quần quật vẫn không dư đồng nào, không đường thăng tiến, không ai nâng đỡ, 1 trận ốm là cả nhà gục. Trong cái lồng vắt sức người như thế, ma túy đá xuất hiện như 1 công cụ hơn là 1 cám dỗ trụy lạc, như thứ giúp con chuột chạy thêm vài vòng nữa trước khi ngã.

V - VÌ SAO CÓ NGƯỜI BỎ ĐƯỢC, CÓ NGƯỜI CHẾT TRONG ĐÓ

Tới đây bạn sẽ hỏi, chẳng lẽ ai nghèo, ai cô đơn cũng nghiện rồi chết hết? Không phải vậy.

Nghiên cứu đầu là 1 bi kịch. Nhóm của giáo sư Yih-Ing Hser ở UCLA theo dõi 581 người đàn ông nghiện heroin ở California suốt 33 năm, từ đầu thập niên 1960. Đây là những người từng bị đưa vào 1 chương trình cai nghiện bắt buộc, tức là đã được cai đàng hoàng. Kết quả công bố trên Archives of General Psychiatry năm 2001: sau 33 năm, 284 người, tức gần 1 nửa, đã chết, trong số còn sống thì khoảng 40% vẫn dùng heroin. Cai rồi mà bị trả về đúng cái xóm cũ, cái nghèo cũ, sự kỳ thị cũ thì cuộc chiến kéo dài cả đời mà phần lớn thua.

Nghiên cứu thứ 2 thì gần như phép màu. Bạn có biết nhóm người nào cai ma túy thành công nhất thế giới không? Là bác sĩ và phi công. Các chương trình giám sát bác sĩ nghiện ở Mỹ cho tỷ lệ cai thành công sau 5 năm lên tới 75 tới 90%. 1 nghiên cứu trên 904 bác sĩ đăng trên tạp chí BMJ năm 2008 cho thấy 78% sạch như chùi, không 1 lần dương tính suốt 5 năm.

Vì sao bác sĩ cai giỏi tới vậy, trong khi ý chí và bộ não của họ cũng như bao người? Lý do trần trụi hơn nhiều: họ có quá nhiều thứ để mất. Dính lại là mất giấy phép hành nghề, mất sự nghiệp cả đời gây dựng, mất danh dự, lại còn bị giám sát gắt, xét nghiệm nước tiểu ngẫu nhiên suốt 5 năm, có giai đoạn tháng 4 lần. Giá của 1 lần phê đắt tới mức cơn thèm phải lùi bước.

Nhà sử học David Courtwright nói toạc ra: người có địa vị, có nghề, có gia đình, có tương lai đang chờ thì ít nghiện hơn và bỏ dễ hơn nhiều, vì họ có thứ quý giá không muốn đánh mất. Lính Mỹ về nước có gia đình, danh dự, công việc đang chờ, nên họ buông được heroin. 581 người nghiện ở California cai xong bị trả về với 2 bàn tay trắng và 1 cái xóm cũ, nên gần 1 nửa chết trong đó.

Bây giờ thử ghép vào người lao động nghèo Việt Nam ra trại cai về. Họ thường chẳng còn gì để mất, mất việc rồi, mất danh dự rồi, hàng xóm coi là thằng nghiện rồi. 1 người không còn gì để mất thì dễ chọn phần thưởng ngắn hạn nhất, là hút đá tiếp.

VI - CƠN NGHIỆN BẺ CONG NÃO NHƯ THẾ NÀO

Phần trên là môi trường, phần này là chuyện xảy ra bên trong cái đầu, vì nhiều người vẫn nghĩ nghiện chỉ là yếu ý chí. Khoa học hành vi thì thấy chuyện phức tạp hơn thế nhiều.

Đầu tiên là tâm lý ăn xổi ở thì. Các nhà kinh tế học hành vi như Bickel và Petry chỉ ra rằng người nghiện định giá tương lai thấp hơn người thường rất nhiều, trong đầu họ, 20 giây sung sướng ngay bây giờ nặng hơn cả sức khỏe, gia đình hay sự nghiệp của vài năm tới. Cho nên dọa họ rằng mai mốt sẽ đi tù, sẽ bệnh, sẽ chết thì gần như vô dụng, vì cái mai mốt ấy trong đầu họ đã bị chiết khấu về gần bằng không.

Tiếp theo là đứt phanh. Bác sĩ Nora Volkow ví não người nghiện như cái xe mất phanh, còn nhà nghiên cứu Mark Fillmore chứng minh luôn là ma túy làm hỏng chính vùng não chịu trách nhiệm kiềm chế. Nghĩa là họ chưa chắc đã biết sai mà vẫn làm vì thích, cái bộ phận ngăn họ lại đã bị hóa chất phá hủy rồi.

Cơ chế thứ 3 là thói quen vô thức. Stephen Tiffany chỉ ra rằng việc tìm và dùng ma túy lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ biến thành phản xạ, giống như đang đi đường thấy đèn đỏ là chân tự đạp phanh, chẳng cần nghĩ ngợi. Phản xạ ấy bị kích hoạt bởi chính môi trường xung quanh, góc phố quen, đứa bạn cũ, nên 1 người vừa ra trại dắt xe về xóm cũ là chân tay tự động bập lại trước cả khi đầu óc kịp nhận ra.

Cuối cùng là cái bẫy đằng nào cũng hỏng rồi, Marlatt và Gordon đã chỉ ra từ lâu. 1 người cai được mấy tháng, 1 tối yếu lòng dùng lại đúng 1 lần, đáng ra chỉ là vấp 1 cái rồi đứng dậy đi tiếp nhưng trong đầu lại nghĩ thôi xong rồi, mình đúng là thứ bỏ đi, cai làm gì cho mệt, thế là buông luôn, lao vào còn nặng hơn trước. Vấp nhẹ 1 cái mà tự tay đạp mình ngã hẳn. Cho nên cái trò cả xã hội xúm vào chửi người nghiện là cặn bã chẳng vô hại đâu, bạn càng nhắc đi nhắc lại với 1 người rằng nó là đồ bỏ đi thì nó càng tin, càng dễ chán đời.

Gộp cả 4 thứ ấy lại, bạn sẽ hiểu vì sao có những vụ án man rợ tới vậy. Như vụ Châu Việt Cường năm 2018, ngáo đá, tưởng cô gái bị ma nhập nên nhét 33 nhánh tỏi vào miệng người ta tới chết ngạt, nhận án 13 năm tù. Đó là lúc não mất phanh hoàn toàn, mất sạch khả năng kiểm soát.

Từ năm 1985, nhà tội phạm học Goldstein đã chỉ ra 3 kiểu bạo lực do ma túy: phê vào thì sinh hoang tưởng, điên loạn, lên cơn thèm thì đi cướp lấy tiền mua thuốc, còn trong giới buôn bán thì đâm chém thanh toán nhau. Cả 3 kiểu này Việt Nam giờ có đủ.

Dùng ma túy rồi giết người thì xác định 100% là đi tù, thế thôi. Có điều phải biết chuyện hỏng ở đâu thì mới có cửa mà phòng, mà tránh, chứ không thì nay bắt được Cường này, mai lại lòi ra Cường khác.

VII - VIỆT NAM ĐANG Ở ĐÂU TRÊN BẢN ĐỒ

Nếu hỏi Việt Nam có phải nước có tỷ lệ người nghiện cao nhất thế giới không, câu trả lời thẳng thắn là không. Số người có hồ sơ quản lý của ta cỡ 0,3% dân số, kể cả khi tính số thực mà chính Bộ Công an thừa nhận có thể gấp 4 lần, tức khoảng 1 triệu người, thì tỷ lệ cũng cỡ 1% dân số. Theo 1 số ước tính, riêng ma túy đá thì Mỹ có khoảng 0,8% dân số dùng, Úc khoảng 1%, New Zealand 1,3%, Iran còn cao hơn. Về tỷ lệ nghiện trên đầu người, Việt Nam không nằm trong nhóm cao của thế giới, ai bảo Việt Nam nghiện nhất thế giới là nói sai số liệu.

Ngặt cái là vị trí địa lý. Việt Nam nằm sát Tam giác Vàng, công xưởng ma túy tổng hợp lớn nhất hành tinh hiện nay. Năm 2024, Đông và Đông Nam Á thu giữ kỷ lục 236 tấn ma túy đá, nhóm 5 nước hạ lưu sông Mekong trong đó có Việt Nam chiếm phần lớn lượng ấy. Chúng ta vừa là nơi tiêu thụ, vừa là cửa ngõ để hàng đi tiếp sang Úc, Nhật, Hàn, ngồi cạnh cái lò thì đã là rủi ro, bất kể tỷ lệ nghiện hiện tại cao hay thấp.

Chuyện thứ 2 là tốc độ. UNODC ghi nhận số người dùng ma túy đá ở Việt Nam tăng khoảng 9 lần chỉ trong giai đoạn 2016 tới 2020, tỷ lệ người nghiện dùng ma túy tổng hợp nhảy từ khoảng 10% năm 2014 lên khoảng 95% hiện nay. Đo nước thải ở Hà Nội thấy lượng ma túy đá tiêu thụ đã vượt heroin mấy lần. Nghĩa là bức tranh đang đổi cực nhanh, mà lại đổi sang đúng cái chất mà ta chưa có thuốc đặc trị.

Cho nên con số tuyệt đối thì chưa phải chuyện lớn, ta chưa phải nước nghiện nhất. Chuyện lớn là đường cong đang dốc lên, mà ta lại ngồi ngay cạnh điểm nóng nhất thế giới.

Gần hết các nghiên cứu kinh điển mình dẫn ở trên, từ lính Mỹ, công viên chuột tới 581 người ở California, đều là chuyện heroin, tức nhóm thuốc phiện. Còn 95% người dùng ở Việt Nam bây giờ là đá, là methamphetamine, là ma túy tổng hợp, 2 nhóm này dược lý khác nhau khá nhiều.

Khác nhau quan trọng nhất ở chỗ: với heroin, loài người đã có methadone, 1 thứ thuốc thay thế hợp pháp uống vào để cắt cơn, coi như 1 cái phanh hóa học lắp sẵn. Còn với đá thì tới giờ y học thế giới vẫn chưa có loại thuốc đặc trị nào được công nhận, không có methadone cho đá.

Nghe tới đây bạn có thể thấy vô lý. Nhưng nguyên lý cốt lõi, rằng nghiện gắn với hoàn cảnh chứ không chỉ với hóa chất, là cơ chế tâm lý và xã hội, nó không phân biệt heroin hay đá. Vì đá không có thuốc giúp cai (mình tạm gọi là phanh hóa học) như heroin, nên phần còn lại của công viên, là người bên cạnh, là việc làm, là 1 lý do để sống tử tế, lại càng phải làm nhiều hơn. Với đá, gần như chỉ còn mỗi con đường môi trường, không có lối tắt bằng thuốc.

VIII - 45 NGÀY ĐÊM VÀ NHỮNG CON SỐ

Từ 15/5 tới 30/6/2026, Công an Thành phố Hồ Chí Minh mở đợt cao điểm 45 ngày đêm tổng rà soát, làm sạch địa bàn, hướng tới mục tiêu xây dựng thành phố không ma túy vào năm 2030. Hôm nay đợt cao điểm đã tới những ngày cuối, nhìn lại thì thành tích rất lớn, rất đáng nể.

Ngay tuần đầu ra quân, từ 16 tới 22/5, đã xử lý 214 người, trong đó khởi tố 176, đưa đi cai nghiện bắt buộc 35. Sau đó là 1 loạt chuyên án dồn dập. Chuyên án VA0126Đ, từ 1 người bán lẻ ở vùng giáp ranh lần ra 140 người, thu hơn 9 kg ma túy tổng hợp, bắt quả tang 1 người chở hơn 5 kg từ Tây Nguyên về. Đường dây Bi Thọ ở khu vực Vũng Tàu, bắt và làm việc với 173 người, khởi tố 150, triệt phá 5 đường dây cùng hơn 20 nhánh.

Chuyên án 426A bắt 71 bị can, trong đó có cả ca sĩ. Mới nhất là đường dây sản xuất hơn 100.000 dụng cụ sử dụng ma túy, lần ra từ đúng 10 cái nỏ thủy tinh tìm thấy trong 1 căn nhà ở phường Bình Tân. Đây là công sức và nghiệp vụ thật, là những đêm trắng theo dõi của trinh sát, đi từ 1 mắt xích rất nhỏ để bóc ra cả đường dây. Việc này cực kỳ nguy hiểm, các anh công an phải rất dũng cảm. Mình hay bất kỳ ai cũng ủng hộ thật lòng.

Cả năm 2025, thành phố phát hiện 5.790 vụ về ma túy với 15.240 đối tượng, tăng 22% số vụ và 32% số đối tượng so với năm 2024. Báo cáo 6 tháng đầu năm 2026 trước Hội đồng nhân dân thành phố cũng ghi nhận riêng tội phạm ma túy tăng và tiếp tục diễn biến phức tạp, dù tổng số tội phạm giảm.

Nghĩa là ta càng ngày càng bắt được nhiều hơn, mà cái lõi sinh ra người nghiện vẫn cứ dốc lên đều. Bắt nhiều hơn chưa chắc đã là thắng, nếu nhu cầu phía dưới vẫn phình to nhanh ngang hoặc hơn tốc độ mình bắt. Con số bắt giữ đo được sức đánh vào phần ngọn, còn cái gốc thì nó chưa đo được.

Mình hoàn toàn ủng hộ chiến dịch 45 ngày đêm và mong nó thành công thật sự, bắt giữ, chặn nguồn hàng, làm sạch các tụ điểm là việc đúng, cần và phải làm mạnh tay. Nhưng sau khi bắt và cai xong thì sao nữa?

Việt Nam không đi theo kiểu chỉ biết bắt và nhốt như vài nước mình kể ở các bài trước. Ta đã có chương trình methadone từ 2008, hiện hơn 340 phòng khám phục vụ cỡ 50.000 người nghiện thuốc phiện, đó đúng là 1 mảnh của cái công viên, 1 cái phanh hóa học có thật. Ta đã làm, chỉ là phần điều trị, tái hòa nhập, lo công ăn việc làm cho người sau cai vẫn còn nhỏ so với quy mô vấn đề, còn với đá thì như đã nói, chưa có thứ gì tương đương methadone.

Khoa học đã có câu trả lời cho chuyện cai xong thì sao nữa từ lâu, nằm gọn trong 2 con số ở phần V. Nhóm 581 người California được cai đàng hoàng rồi trả về xóm cũ thì gần 1 nửa chết sau 33 năm, nhóm bác sĩ được cai rồi trả về 1 cuộc đời có nghề, có danh dự để giữ thì 80 tới 90% sạch. Chỗ khác nhau nằm ở việc sau khi cai người ta được trả về cái lồng cũ hay 1 cái công viên.

Cho nên mình mong 45 ngày đêm này là bước mở màn, kéo theo phần khó hơn ở phía sau: mở rộng điều trị, lo chỗ ở, việc làm, người đỡ đầu cho người sau cai. Làm được cả 2 vế thì con số năm 2030 mới giảm bền vững, thay vì chỉ là 1 bản báo cáo đẹp (dĩ nhiên chuyện này còn phụ thuộc rất nhiều vào quyết sách của Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục…).

Từ năm 2001, Bồ Đào Nha đi theo hướng coi nghiện là vấn đề y tế, phi hình sự hóa người dùng nhưng đổ tiền vào điều trị và tái hòa nhập, tỷ lệ tử vong do quá liều của họ rớt xuống hàng thấp nhất châu Âu. Iceland làm cho thanh thiếu niên đủ thứ để chơi, thể thao, âm nhạc, nghệ thuật, lấp khoảng trống cảm xúc trước khi ma túy kịp lấp, nhờ vậy kéo tỷ lệ trẻ dùng chất xuống thấp nhất châu lục. Các thí nghiệm thưởng cho người cai bằng phần thưởng thật cho tỷ lệ giữ sạch cao gấp mấy lần tư vấn suông. Tất cả cùng 1 nguyên lý, cho con chuột 1 cái công viên thì nó tự bỏ cái bình ma túy.

Mỹ thì làm ngược lại, nửa thế kỷ đổ hàng nghìn tỷ đô la vào bắt và nhốt, tới giờ mỗi năm vẫn có hàng chục nghìn người chết vì quá liều.

Vậy 1 cái công viên chuột cho người Việt sau cai trông như thế nào? Gợi ý dưới đây chủ yếu lấy từ khung recovery capital (vốn liếng phục hồi) của 2 nhà xã hội học Robert Granfield và William Cloud, đưa ra cuối thập niên 1990 trong cuốn Coming Clean, mình diễn lại theo kiểu Việt Nam cho dễ hình dung.

Trước hết phải có người bên cạnh. 1 người vừa ra trại mà thả thẳng về đời thì chẳng khác gì bị hất từ trên tàu xuống giữa biển động, chìm là cái chắc. Họ cần quanh mình vài người tử tế, 1 người đỡ đầu, vài người bạn đi cùng đường, để còn có ai đó nhấc máy lúc 2 giờ sáng khi cơn thèm kéo tới, thêm 1 hàng rào để tránh xa đám bạn cũ với cái xóm cũ. Mấy nơi cai tốt trên thế giới đều lập nhóm như 1 gia đình thay cho gia đình, để người ta có chỗ thuộc về, chứ ngồi 1 mình trong phòng trọ thì kiểu gì cũng lại với tay tìm tới đá cho đỡ trống.

Thứ 2 là việc để làm. Trong công viên chuột, lũ chuột có bánh xe để chạy, có hang để chui, với con người thì đó là 1 cái nghề, 1 công việc, 1 thú vui tử tế để lấp ngày. Mấy nơi cai thành công dạy lại người nghiện từ những thứ bé tí, đi làm cho đúng giờ, đi thi bằng lái xe, viết được 1 lá đơn xin việc, biết chăm sóc 1 đứa con. Iceland thì phát cho bọn trẻ cái thẻ đi đá bóng, học đàn, học võ miễn phí, để chúng có cái mà mê trước khi ma túy kịp chen vào.

Thứ 3 là 1 chỗ ở cho ra hồn. Nghe thì hơi lạ nhưng là thật: 1 căn phòng sáng sủa, 1 cái bếp chung để cả nhóm ngồi ăn với nhau, vài chậu cây, có khi là 1 con vật để chăm sóc. 1 cậu nhóc cả đời chưa từng thấy mình đáng được thương, đôi khi học lại được cách thương người khác, bắt đầu từ việc nuôi 1 con chó, tưới 1 luống rau.

Thứ 4 là giám sát chặt chẽ. Não người nghiện như cái xe đứt phanh bên trong, nên phải lắp cho nó 1 cái phanh từ ngoài vào, là giám sát, là xét nghiệm, nhất là phải có 1 thứ gì đó quý để mà sợ mất, y như cách người ta làm với bác sĩ, với phi công. Nhưng cái phanh ấy phải đi kèm sự tử tế chứ không phải sự khinh bỉ, vì như mình đã nói ở phần trên, càng bị coi là đồ bỏ đi thì người ta càng buông tay nhanh.

Cả 4 thứ ấy cái nào cũng tốn tiền, tốn người, tốn kiên nhẫn, mà chẳng cái nào kịp thành thành tích trong 45 ngày. Đó là lý do nó khó, cũng là lý do gần như nước nào cũng chọn con đường dễ hơn, là bắt và nhốt.

IX - CÂU NÓI CỦA 1 NHẠC CÔNG

Hơn 10 năm trước, 1 nhạc công ở Hà Nội bị bắt vì ma túy đá. Khi lấy lời khai, anh ta nói 1 câu mà báo chí lúc ấy trích lại với giọng giễu cợt, coi là ngụy biện, đại ý vì thấy cuộc sống quá cô đơn và vô nghĩa, chỉ có ma túy đá mới cho anh cảm hứng để chơi nhạc hay hơn. Mẹ anh nghe tin sốc tới mức phải nhập viện.

Mình nghĩ đó là 1 lời thú nhận hiếm hoi từ 1 người có nghề, có học, không nghèo, ngụy biện gì đâu. Anh ta không đổ tại nghèo, không đổ tại bạn xấu, anh ta nói thẳng là mình cô đơn.

Cô đơn là vấn đề của con người và xã hội, ma túy đá chỉ là cách rẻ nhất, nhanh nhất để 1 người tự gây tê nỗi cô đơn ấy. Khi 1 nhạc công có nghề còn cô đơn tới mức ấy, thì 1 đứa trẻ 18, 19 tuổi bị đuổi việc, 1 ông bố vừa vỡ nợ, 1 người đàn ông kiệt sức sau 10 tiếng bốc vác, mức trống rỗng của họ ra sao thì bạn tự hình dung.

X - PHẦN NGỌN VÀ CÁI GỐC

Mình không đồng ý với cách cả xã hội nhìn người nghiện như 1 lũ quái vật từ hành tinh khác rồi yên tâm rằng mình thì khác. Phần lớn họ là những người gục xuống vì sa ngã, vì quá tải, đúng lúc có kẻ dí cho liều thuốc vài chục nghìn, kèm câu dụ dỗ chơi đi cho đỡ mệt, cho trụ thêm được lúc nữa.

Bắt và trấn áp là cần, là đúng, 45 ngày đêm là cần và mình mong nó thắng lớn. Nhưng nếu chỉ có bắt và nhốt mà không ai mở thêm phòng khám tâm lý cho thanh thiếu niên, không ai dạy 1 đứa trẻ cách hiểu nỗi buồn của nó, không ai cho người ra trại 1 công việc và 1 chút danh dự để bắt đầu lại, không ai giúp các ông bố bà mẹ Việt thôi phải lặn lội xa tít mù tắp cày 10, 12 tiếng 1 ngày để có thời gian ngồi ăn cơm, ngồi học với con, thì tới 2030 chúng ta sẽ có 1 báo cáo chiến dịch thành công và 369.360 cái lồng (có khi còn hơn).

Cho nên bắt bao nhiêu vụ, thu bao nhiêu tấn hàng, kể cả 45 ngày vừa rồi lập thành tích lớn tới đâu, thì vẫn là đang xử lý phần ngọn. Cái gốc là có bao nhiêu người đang kẹt trong 1 cái lồng mà chẳng còn gì để mất, mà cái đó thì còng số 8 không gỡ được, cũng chẳng thể giao hết cho công an, vì đó là việc của cả xã hội này.

Dù vậy, mình vẫn mong phần ngọn này làm được nhiều hơn 1 con số báo cáo. Mong mỗi vụ bắt, mỗi bản tin, mỗi video ngắn sẽ làm thêm thật nhiều người dân trên cả nước thấy rõ ma túy tàn phá tới đâu mà tránh cho xa, để 1 đứa trẻ đang tò mò kịp NÓI KHÔNG trước khi thử lần đầu.

Sau đợt cao điểm này, mong nhà nước đầu tư thêm thật nhiều vào gốc rễ, thêm chính sách giáo dục, thêm an sinh xã hội, thêm chỗ dựa cho người yếu thế, để người dân có 1 cuộc sống lành mạnh, có cái để bám trụ, có lý do để sống tử tế mà không cần tới 1 liều thuốc gây tê.

Nguồn:

  • Lee Robins và cộng sự, nghiên cứu cựu binh Việt Nam và nhóm St. Louis, in lại trên Addiction 2017
  • Charles Winick 1962, về trưởng thành ra khỏi cơn nghiện
  • Patrick Biernacki 1986, về tự cai không cần trại
  • Bruce Alexander, thí nghiệm Rat Park, Psychopharmacology 1978 đến 1981 và lý thuyết mất kết nối
  • Norman Zinberg, về tâm thế và bối cảnh
  • Yih-Ing Hser và cộng sự, theo dõi 33 năm, Archives of General Psychiatry 2001
  • McLellan, DuPont và cộng sự, nghiên cứu chương trình sức khỏe bác sĩ, BMJ 2008
  • Bickel và Petry, về kinh tế học hành vi
  • Fillmore, về suy giảm ức chế
  • Tiffany, về hành vi tự động
  • Marlatt và Gordon, về hiệu ứng vi phạm kiêng cữ
  • Goldstein 1985, về ma túy và bạo lực
  • David Courtwright, về có thứ để mất
  • Higgins và Petry, về quản lý hành vi bằng phần thưởng
  • Cục C04 Bộ Công an, báo cáo tháng 4/2025
  • Cục Thống kê, lao động việc làm quý 1/2025
  • Số liệu ma túy Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025 và 6 tháng đầu 2026 theo báo cáo của Ủy ban nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
  • Kết quả cao điểm 45 ngày đêm theo công bố của Công an Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 và 6/2026
  • UNODC, về Tam giác Vàng và Đông Nam Á
  • UNICEF Việt Nam
  • Vụ Châu Việt Cường theo Thông tấn xã Việt Nam và VnExpress, tháng 3/2019