Tháng 7/1821, ông Despiau viết thư từ Huế: “tôi chủng cho các con vua bằng vaccine lấy từ 1 trong những đứa trẻ tôi mang từ Ma Cao về” [1]. Đứa trẻ ấy tên gì, không ai ghi lại.
Despiau là thầy thuốc người Pháp làm việc trong cung nhà Nguyễn. Năm 1820 ông Minh Mạng muốn xin vaccine đậu mùa ở Ma Cao, “mọi phí tổn ngài chịu” [1] và chọn Despiau đi. Ông đi tay không, lúc về thì mang theo 2 đứa trẻ. Linh mục Léopold Cadière (người sưu tập và chú thích mấy lá thư này) ghi rằng 2 đứa trẻ được mang theo làm “porte-vaccin”, nghĩa là để chở vaccine [1].
I - VACCINE PHẢI SỐNG TRONG NGƯỜI
Đậu mùa người ta vẫn truyền là có từ Ấn Độ, sang Trung Hoa trong khoảng năm 37 tới năm 653 [2]. Ở nước ta, ghi chép sớm nhất mình tìm được là năm 1278, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi “dân chết nhiều vì bệnh đậu mùa” [3], còn bệnh theo đường nào vào thì sử không ghi. Cuối năm 1819, trước Despiau 1 năm, bác sĩ Treillard trên tàu buôn Henri từ Bordeaux ghé nước ta đã chủng cho chừng 50 đứa trẻ bằng vaccine kẹp giữa 2 tấm kính. Thuyền trưởng Rey ghi lại là tiếc thay vaccine ấy “đã hết hiệu lực” [4], 50 đứa trẻ bị rạch tay mà chẳng được gì.
Vaccine thời ấy là virus đậu bò còn sống. Dân quê nước Anh vốn biết cô vắt sữa nào từng lên đậu bò thì không mắc đậu mùa [5]. Ngày 14/5/1796, Jenner lấy mủ đậu bò trên tay cô vắt sữa Sarah Nelmes cấy cho 1 cậu bé 8 tuổi, rồi thử bằng mủ đậu mùa thật mà cậu bé không mắc [6]. Chữ “vaccine” cũng từ đó mà ra, gốc Latin “vacca” là con bò, năm 1880 Pasteur xin dùng luôn chữ của Jenner để gọi các thứ vaccine mới của mình [7], cho nên bây giờ thứ gì tiêm phòng cũng gọi là vaccine. Chủng đậu mùa thời ấy không phải tiêm bằng xi lanh vào ven như bây giờ. Thầy thuốc cầm tay người được chủng, lấy mũi kim hay con dao nhỏ rạch mấy đường nông trên bắp tay, chỉ xước lớp da ngoài, rồi chấm dịch vaccine lên chỗ rạch, cả việc chỉ mất 1, 2 phút [8].
Bản thân Jenner cũng chỉ rạch nông hoặc chích nhẹ vào da [6], mãi tới chiến dịch xóa đậu mùa của WHO sau này người ta mới dùng kim 2 ngạnh chấm lên da [9]. Chừng 1 tuần sau, chỗ rạch mọc thành 1 cái mụn mọng nước, dịch trong mụn lại chính là vaccine để chủng cho người khác, mụn không mọc là chủng thất bại [8]. Dịch ấy bôi lên kính, tẩm vào sợi chỉ mà đi đường xa thì dễ chết (thời ấy làm gì có tủ lạnh), nên cách chắc ăn nhất là cấy nối từ tay người này sang tay người kế tiếp như chạy tiếp sức.
Năm 1798 chính Jenner nối như thế qua “5 nấc”, phần lớn là trẻ con, có cả con trai 11 tháng tuổi của ông [6]. Người nhận phải chưa lên đậu mùa, chưa chủng bao giờ, mà người như thế thì dễ tìm nhất là trẻ con.
II - AI LÀ ĐỨA TRẺ ĐƯỢC CHỌN
Năm 1721 ở London, hồi còn cấy bằng mủ đậu mùa thật, người ta thử trước trên tù tử hình rồi trẻ mồ côi, xong Công nương xứ Wales mới cho 2 con gái mình cấy [9]. Năm 1803, bác sĩ Balmis người Tây Ban Nha chở vaccine sang châu Mỹ trong tay 22 bé trai mồ côi, cứ 9, 10 ngày lại cấy từ đứa này sang đứa khác [9]. Thời Nội chiến Mỹ, quân y miền Nam lấy giống phần lớn từ trẻ da đen, mà trẻ da đen ở miền Nam lúc ấy thì phần lớn là trẻ nô lệ [10].
Bạn có con nhỏ thì chắc cũng chẳng chịu cho con làm cái kho chứa vaccine suốt 1 chuyến tàu vượt biển. Nên đứa được chọn thường là đứa không có cha mẹ hoặc có mà chẳng ai hỏi. Cấy tay sang tay còn lây cả giang mai, như ở Philippines những năm 1890 [8].
III - 2 ĐỨA TRẺ TỪ MA CAO
Ngày 13/7/1820, giáo sĩ Vannier ở Huế viết thư sang Ma Cao, trong thư nói nhà vua sai ông xin 1 thầy thuốc mang vaccine tới, “vì ngài muốn lập nó trong nước và cứu những kẻ khốn khổ mà bệnh đậu năm nào cũng cướp đi” [1]. Vannier đề cử Despiau, gọi ông là “1 người hiền lành tội nghiệp”. Sáng hôm sau Despiau đã phải lên thuyền buôn của người Tàu, không kịp xin thư giới thiệu [1].
Tháng 2/1821 ông về Huế cùng 2 đứa trẻ [11]. Vua cho dựng 1 cái nhà trong cung để chủng đậu mùa, cấp 10 thầy thuốc người Việt cho ông dạy [1]. Ông giữ được vaccine hơn 5 tháng [11]. Muốn giữ ngần ấy tháng thì chừng 1 tuần ông lại phải rạch tay thêm 1 đứa trẻ, đứt 1 mắt là mất cả chuỗi.
Về chuyện này thì Đại Nam Thực Lục im phăng phắc, những năm đầu đời Minh Mạng không có lấy 1 dòng nào. Cũng năm 1820, sử quan ghi rất kỹ trận dịch tả chết 206.835 người và lời vua nhận “bốn phương có dịch đều là lỗi trẫm” [12]. Dịch tả thì rõ đường đi hơn: năm 1817 dịch bùng ở vùng quanh Calcutta (Ấn Độ), theo tàu thuyền người Anh, trong khoảng năm 1820 tới 1822 đã sang Đông Nam Á, Trung Hoa, Nhật Bản [2]. Thảo nào năm 1820 Phạm Đăng Hưng tâu với vua là dịch “từ Tây dương sang” [12].
Ngày 21/12/1824 Despiau chết vì dịch tả, chuỗi vaccine có lẽ đứt luôn từ đó [11]. Năm 1847, hoàng tử Hồng Nhậm, cháu nội ông Minh Mạng, về sau là vua Tự Đức, lên đậu mùa. Sử quan ghi “một tuần thì lành mạnh”, còn chính Tự Đức về sau kể là ông ốm từ tháng 6 tới tháng 8 mới khỏi [12]. Ốm 2 tháng mà ghi thành 1 tuần, chắc sử quan cũng ngại viết hoàng tử ốm lâu.
Năm 1882, Tự Đức phải sai 1 y sinh cửu phẩm là Nguyễn Văn Tâm sang Hồng Kông học phép “trồng đậu”, nghĩa là chủng ngừa đậu mùa, ở Y Viện Đông Hoa, bệnh viện của người Hoa bên ấy [12]. Đầu năm 1885, Đại Nam Thực Lục có 1 mục thưởng cho 4 người làm thuốc Tây ở sứ quán, mỗi người 5 đồng bạc, vì đã cho dân hạt Thừa Thiên “đem các trẻ chưa mọc đậu, lấy mủ để trồng” [12]. Hơn 60 năm sau Despiau, ở Huế người ta vẫn nối vaccine bằng tay trẻ con.
IV - MỤN TRÊN TAY CON LÀ CỦA NHÀ NƯỚC
Ở Nam Kỳ, nghị định ngày 15/9/1871 bắt cha mẹ có con được 3 tháng phải đưa con tới y sĩ để chủng đậu mùa miễn phí. Không đưa thì phạt 50 franc, tái phạm phạt 200 franc. Chủng 3 lần không ăn thì thôi. 8 ngày sau đem con lại khám, trong 8 ngày ấy cha mẹ “không được chích lể các mụt tiêm và không cho ai lấy vắc-xin ở mụt tiêm trước khi y sĩ khám” [13]. Cái mụn trên tay đứa bé 3 tháng tuổi là giống vaccine, y sĩ chưa khám thì cha mẹ cũng không được đụng vào.
Ngày 20/3/1891, Toàn quyền Piquet ký nghị định lập Viện Vi Trùng Học Sài Gòn, giao cho bác sĩ Albert Calmette đứng đầu. Việc đầu tiên trong danh sách là “bảo đảm một cách liên tục cấy nuôi vắc xin đậu mùa từ con bò cái tơ này đến con bò cái tơ khác” [13]. Giá bán 1 đô la 2 ống, đủ chủng ít nhất 50 người [13], rẻ bèo. Từ đó ở Nam Kỳ, người ta nuôi vaccine trên bò, không phải nối qua tay trẻ con nữa.
V - CON BÒ, CON NGỰA THAY TRẺ CON
Sau đậu mùa là vaccine tả gà năm 1880, dại năm 1885, thương hàn năm 1897, lao năm 1921, bạch hầu năm 1923, sốt vàng năm 1937, cúm năm 1945, bại liệt năm 1954, sởi năm 1962 [7]. Nhiều thứ được nuôi luôn trong thú: đậu mùa trên bê, dại trên tủy thỏ, huyết thanh bạch hầu trong máu ngựa.
Năm 1901 ở Mỹ, 1 mẻ huyết thanh bạch hầu lấy từ máu 1 con ngựa tên Jim bị uốn ván, cùng mấy lô vaccine đậu mùa nhiễm bẩn, làm 13 trẻ chết ở St. Louis, 9 ở Camden, 4 ở Cleveland [8]. Mất bò mới lo làm chuồng, năm 1902 nước Mỹ mới có luật đầu tiên bắt các nơi làm vaccine, huyết thanh phải chịu kiểm tra [8].
VI - ĐỨA TRẺ ĐẦU TIÊN
Vaccine dại ra đời năm 1885 thì người đầu tiên được Pasteur công bố là Joseph Meister, 9 tuổi, con nhà làm bánh mì, bị chó dại cắn 14 vết [7]. Pasteur không học ngành y, không có giấy phép hành nghề, ban biên tập bản tiếng Việt cuốn sách về ông chú thích thẳng là “thử nghiệm lậu” [7]. Năm 1897 bên Ấn Độ, Haffkine tự tiêm vaccine dịch hạch cho mình trước, khổ nỗi người được thử ngay sau ông lại là tù nhân [14]. Năm 1955 ở Mỹ, 1 xưởng làm ẩu vaccine bại liệt gây ra hơn 100 ca bại liệt, 5 ca chết [15].
Ở miền Bắc nước ta, dịch bại liệt năm 1959 tới 1960 làm hơn 17.000 trẻ mắc, hơn 500 trẻ chết [16]. Bác sĩ Hoàng Thủy Nguyên được cử sang Liên Xô học cách làm vaccine uống của Sabin, về lập nhóm 128 người, trụ sở là mấy phòng ở của nữ sinh trong Bệnh viện Việt Nam - Cuba, kinh phí khoảng 2.000 bảng Anh 1 năm. Năm 1962 nhóm làm được 2 triệu liều [16]. Ấy vậy mà ngay trong giới y tế đã có người chê là vaccine “rởm” [16].
Theo bài của bác sĩ Trần Văn Phúc, ở cuộc họp thử nghiệm, Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch bảo mang 2 lọ vào hội trường: “cậu mở một lọ ra”, “cậu hãy uống đi”. Rồi Bộ trưởng tự tay mở lọ thứ 2, uống hết [17]. Còn mỗi lọ bao nhiêu liều thì mỗi báo viết 1 kiểu, bài bảo 10, bài bảo 50, bài bảo 100.
Uống xong thì lại tới lượt trẻ con. Đợt thử tiếp theo, chính nhân viên y tế tình nguyện cho con mình uống trước. Sáng nào đến cơ quan, câu chào nhau của họ là “con bạn có sao không?” [17]. Lần này đứa trẻ đi trước là con của chính những người làm nghề y.
VII - NGƯỜI XỨ NÀY CHẠY VÀO NÚI
Phan Châu Trinh, người cả đời đòi học cái hay của Tây, cũng khen việc chủng đậu mùa: “những cử chỉ đẹp đẽ như thế, ai dám nói không tốt sao?” [18]. Khen thế là phải. Không có những chuỗi trẻ con ấy thì vaccine không qua nổi biển, các con vua Minh Mạng cũng chẳng được chủng.
Ngặt cái ngay sau câu khen, ông kể chuyện ở Bình Định. Quan coi việc chủng đậu mùa ngồi ở phủ đường không chịu xuống làng, bắt dân cả phủ mang trẻ tới (quan lớn mà phải lội xuống làng thì còn ra thể thống gì?!). Cha con thuê thuyền đi đường thủy, gặp sóng gió, “người lớn và trẻ em chết hơn một trăm người” [18].
Ở huyện Hòa Vang, Quảng Nam, dân đồn “quan y tế nghiêm sức bắt trẻ con mổ lấy tim để làm thuốc”. Cả vùng bồng con chạy vào núi, “giống như đàn chim sẻ bị diều hâu đuổi bắt”. Ông đi qua 5, 6 xã đều thấy thế, hỏi ra mới biết có quan y ở huyện đòi các xã mang trẻ lên. Ông giải thích: “dân chúng đã lâu bị người Pháp làm khốn khổ nhiều, hồn xiêu phách lạc, cho nên mới tin chuyện như thế là có thật” [18]. Ở miền Nam, Vương Đằng cũng ghi là “mười người trốn hết chín khi các đoàn y tế công cộng đi vào làng xóm chích ngừa” [19].
Bên Ấn Độ thời Haffkine cũng có tin đồn kim tiêm dài cả thước, tiêm xong là chết, đàn ông bất lực, đàn bà vô sinh [14].
Tin đồn ở Hòa Vang thì sai bét, lúc Phan Châu Trinh viết thì viện ở Sài Gòn đã nuôi vaccine trên bò từ lâu. Có điều nghe chuyện trong tin đồn mình thấy quen quen: quan đòi mang trẻ con lên, lấy từ thân trẻ con ra thứ làm thuốc cho người khác. Mấy chục năm trước, ở Huế, ở Nam Kỳ, người ta làm y như thế, chỉ khác là lấy mủ, không lấy tim. Mình đoán người Hòa Vang chẳng tự dưng mà nghĩ ra chuyện ấy đâu.
Calmette, người năm 1891 đưa vaccine đậu mùa từ tay trẻ con sang con bò cái tơ, về sau làm ra vaccine lao BCG [7]. Năm 1930 ở Lübeck (Đức), 1 lô BCG bị lẫn vi trùng lao độc ngay trong phòng thí nghiệm, 72 trẻ sơ sinh chết vì lao [20].
Còn ở nước ta, đầu thế kỷ 20, theo Lịch Sử Việt Nam tập 7, “phần đông người Việt Nam chưa quen tiêm phòng vắc-xin, chỉ khi xảy ra những trận dịch lớn mới đến các cơ sở y tế” [21]. Mãi đến năm 1931, viện vi trùng ở Huế mới tự làm được “mọi thứ vaccine thông dụng và vaccine phòng lao của Calmette”, tỉnh nào cũng có đội đi tiêm [22].
Còn 2 đứa trẻ Despiau mang từ Ma Cao về năm 1821, cái mụn trên tay chúng đã đi vào tay các con vua, thì chẳng giấy tờ nào ghi tên.
Nguồn:
[1] - Bulletin des Amis du Vieux Huế năm 1926 số 4 - Léopold Cadière sưu tập và chú thích, thư của Vannier (13/7/1820) và thư của Despiau (28/7/1821) gửi cha Baroudel ở Macao. [2] - Plagues And Peoples - William H. McNeill, chương về các bệnh dịch ở Trung Hoa và chương về dịch tả thế kỷ 19. [3] - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - bản dịch Viện Sử Học, tập 2. [4] - Bulletin des Amis du Vieux Huế năm 1921 - bài về Chaigneau, trích Relation du second voyage du navire le Henri của thuyền trưởng Rey. [5] - Physicians, Plagues And Progress - Allan Chapman. [6] - An Inquiry Into The Causes And Effects Of The Variolae Vaccinae - Edward Jenner, in trong Harvard Classics tập 38, các ca XVII đến XXIII. [7] - Pasteur Và Koch - Annick Perrot, Maxime Schwartz, bản dịch tiếng Việt. [8] - Pox: An American History - Michael Willrich. [9] - Lịch Sử Y Học - Lois N. Magner, bản dịch tiếng Việt, chương Cấy đậu, chủng đậu bò và thanh toán và mục về Pasteur. [10] - Maladies Of Empire - Jim Downs, chương 7. [11] - Bệnh Đậu Mùa Ở Việt Nam Thời Nguyễn Và Việc Tiếp Cận Vắc-xin Đậu Mùa Của Nhà Nguyễn Vào Đầu Thế Kỷ XIX - Lư Vĩ An, Tạp Chí Khoa Học Xã Hội Miền Trung số 3 năm 2021. [12] - Đại Nam Thực Lục - Quốc Sử Quán triều Nguyễn, bản dịch Viện Sử Học, tập 2, 6, 7, 8, 9. [13] - Chế Độ Thực Dân Pháp Trên Đất Nam Kỳ 1859-1954 tập 2 - Nguyễn Đình Tư, mục Chương trình tiêm chủng và mục Viện Vi trùng học Sài Gòn. [14] - Pandemic India - David Arnold. [15] - Owning The Sun - Alexander Zaitchik. [16] - Giáo Sư Tuổi Tỵ Đặt Nền Móng Sản Xuất Vaccine Việt Nam - Linh San, báo VnExpress ngày 29/1/2025. [17] - Lá Bùa Vaccine - Trần Văn Phúc, báo VnExpress mục Góc nhìn ngày 29/1/2021. [18] - Đông Dương Chính Trị Luận - Phan Châu Trinh, trong Phan Châu Trinh Toàn Tập tập 2, mục Tệ của quan y tế chủng đậu. [19] - Phong Tục Miền Nam - Vương Đằng. [20] - Tuberculosis In Newborns: The Lessons Of The Lübeck Disaster (1929-1933) - Gregory J. Fox, Marianna Orlova, Erwin Schurr, tạp chí PLoS Pathogens năm 2016. [21] - Lịch Sử Việt Nam tập 7 (1897-1918) - Viện Sử Học. [22] - Bulletin des Amis du Vieux Huế năm 1931 số 1-2 - bài giới thiệu soạn cho Đấu xảo thuộc địa Paris 1931.