Năm 1904, Paul Giran, 1 viên quan cai trị người Pháp ở Đông Dương, đếm sổ tử Nam Kỳ rồi viết: “chỉ hơn một phần mười dân số An Nam sống đến tuổi 60” [1].

Hơn 100 năm sau, mình vẫn đọc thấy trên báo những con số kiểu ấy, chỉ đổi số. Thỉnh thoảng lại có bài viết năm 1945 người Việt chỉ thọ trung bình 32 tuổi, chỗ khác ghi 35, chỗ khác ghi 38. Mình tìm mãi không thấy bài nào nói con số ấy ai tính, tính từ sổ sách nào. Đọc lên ai cũng hình dung ông bà mình ngoài 30 là lục tục kéo nhau đi. Có đúng thế không?

I - GIRAN ĐẾM NGƯỜI CHẾT RỒI SUY RA NGƯỜI SỐNG

Số liệu Giran dùng là báo cáo của chính quyền Nam Kỳ. Năm 1900, người An Nam và người Á khác ở Nam Kỳ chết 65.489 người, “chỉ có 7.075 người chết trên 60 tuổi”. Năm 1901 chết 51.908 người, 6.231 người trên 60 [1]. Tính ra cứ 100 người chết thì 11, 12 người là cụ già. Từ đó ông kết luận chỉ 1/10 dân An Nam sống tới 60, đổ cho khí hậu nóng làm người An Nam già nhanh, “thành một ông già ở tuổi 50” [1].

Số ông đếm là số thật. Có điều trong 65.489 người chết năm ấy, phần đông là ai thì ông không hỏi.

Bắc Kỳ Tạp Lục, sách người Pháp in năm 1903, sớm hơn Giran 1 năm, thì đã nói thẳng ra. Ước dân An Nam lúc ấy gần 25 triệu người xong, sách dặn thêm: “không nên quên rằng số lượng trẻ em đóng góp rất nhiều vào con số này, trong khi đáng buồn thay, tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 10 tuổi là rất cao” [2].

II - ĐỨA TRẺ CHẾT LÚC 1 THÁNG CŨNG ĐƯỢC TÍNH VÀO

Tuổi thọ trung bình là cộng tuổi lúc chết của tất cả mọi người rồi chia đều. Đứa bé chết lúc 1 tháng tuổi thì góp vào đó con số gần bằng 0.

Cho dễ hiểu, cứ lấy 10 đứa trẻ ra đời, 4 đứa chết trước khi đầy năm, 6 đứa còn lại sống tới 60. Bạn bấm máy tính mà xem, cộng lại chia 10 thì tuổi thọ trung bình chỉ khoảng 36, trong khi chả ai trong 10 người ấy chết ở tuổi 36 cả.

Tưởng 4 trên 10 là mình nói quá nhưng ngoài đời cũng xấp xỉ thế. Năm 1905 ở Nam Kỳ, 24% trẻ sơ sinh chết ngay tháng đầu và 38% chết trước 1 tuổi. Số liệu này của 1 bác sĩ Pháp thời ấy, Haydon Cherry (sử gia viết về dân nghèo Sài Gòn thời Pháp) dẫn lại trong sách [3].

Toan Ánh ghi bà mụ ngày xưa “cắt nhau bằng mảnh sành, hay cật nứa. Sự cẩu-thả này đã khiến nhiều em bé sơ-sinh bị chết oan về bệnh sài uốn-ván” [4]. Trong Nam cũng y vậy, trước 1945 bà mụ vườn “ưa cắt rún trẻ mới sinh bằng miểng chai, dao tre, đôi khi bằng dao sắt hay kéo cùn”, Vương Đằng ghi xong còn chua thêm, đó là “nguyên nhân gây ra sự yểu tử cho hài nhi!” [17]. Gustave Dumoutier, nhà nghiên cứu người Pháp sống ở Bắc Kỳ cuối thế kỷ 19, thấy con trẻ lên cơn sài kinh thì mẹ chỉ biết ôm áp vào người, “đối với mười đứa mắc bệnh, khó lắm mới cứu được hai” [5].

Nguyễn Đình Chiểu viết trong Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp: “đứa thời đau chứng cấp kinh, / Đứa thời cam tích, bụng bình rĩnh ra, / Đứa thời hai mắt quáng gà, / Đứa thời túm miệng, khóc la rốn lồi” [16]. Túm miệng, rốn lồi thì mình đoán là uốn ván rốn, đúng cái bệnh từ mảnh sành, cật nứa mà ra.

Nhà nào mất con liên tiếp thì tin là vong đứa đầu “đầu thai vào đứa con thứ hai, để chết một lần nữa”. Cách chặn là trước khi chôn, “lấy mực tàu hay son, đánh dấu vào mặt hay lưng đứa trẻ vừa mất” [5]. Con sinh ra thì đặt tên xấu, tên “một con vật ngu si, bẩn thỉu”, để ma quỷ chê không thèm bắt [5]. Phan Kế Bính ghi nhà hiếm con hay đặt là thằng Cún, thằng Đực [12].

Năm 1820 dịch lớn, nhà nước cấp tiền tuất cho mỗi người chết. Quan dinh Quảng Nam thấy người chết nhiều quá, tâu “xin từ 9 tuổi trở xuống thì bớt lệ tiền tuất”. Dân chết đầy ra đấy, quan lại ngồi tính bớt tiền tuất cho đứa dưới 9 tuổi?! Vua Minh Mạng phải quở: “trẫm thấy trăm họ bị bệnh dịch, lo thương không xiết, há lấy cớ phải cấp nhiều tiền mà lại bàn giảm bớt đi?” [10].

III - TRONG CUNG CÓ THÁI Y, CON VUA VẪN CHẾT

Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả ghi: “kể cả những vị mất sớm, đức Hiến Tổ có tất cả 29 Hoàng Tử và 35 Hoàng Nữ” [6]. Hiến Tổ là vua Thiệu Trị. Mình đọc lần lượt từng truyện con vua Thiệu Trị trong Đại Nam Liệt Truyện, đếm được ít nhất 25 người chết khi chưa đầy 15 tuổi, đa số lúc 1 đến 5 tuổi [7]. Cứ 10 đứa con vua thì gần 4 đứa không lớn nổi.

Sử ghi mỗi người 1, 2 dòng: “con gái thứ 19… mới được 1 tuổi thì chết”. “Con thứ 28… sinh năm Thiệu Trị thứ 7, chết cũng vào năm ấy”. Có người chỉ vỏn vẹn: “con thứ 15 của Hiến Tổ Chương Hoàng Đế, chết non” [7]. Mấy người khác thì “không rõ tên, không chép truyện”. Các hoàng nữ chết non được thờ chung ở đền Lệ Thục [7].

Nhà nghèo thì đã đành. Đằng này là nhà có hẳn 1 viện Thái y riêng để chữa cho vua và người trong cung. Ngay mẹ đẻ vua Thiệu Trị cũng không qua khỏi: “tháng 5 sinh ra Hiến Tổ Chương Hoàng Đế… mới được 13 ngày hậu mất, thọ 17 tuổi” [7].

IV - VACCINE ĐÃ VÀO CUNG TỪ NĂM 1820

Ngày 13/7/1820, Philippe Vannier, sĩ quan người Pháp làm quan cho nhà Nguyễn, viết thư sang Macao. Phần tái bút ghi vua Minh Mạng vừa sai ông viết thư xin 1 thầy thuốc mang vaccine đậu mùa sang, “car il veut l’établir dans son pays et sauver les malheureux que la petite vérole enlève tous les ans dans son royaume”. Mình dịch: vì ngài muốn lập nó trong nước, cứu những kẻ khốn khổ năm nào cũng bị bệnh đậu cướp đi trong vương quốc. Mọi phí tổn vua chịu hết [8].

Vannier đề cử Jean Marie Despiau, thầy thuốc người Pháp từng là ngự y của Gia Long. Despiau phải lên ngay chiếc thuyền buôn của người Tàu đi sáng hôm sau, gấp như đi chữa cháy [8]. Ở Macao 7 tháng học cách chủng, đến tháng 2/1821 ông về Huế, mang theo 2 đứa trẻ đã chủng sẵn để giữ vaccine sống trong người suốt đường biển (thời ấy chưa có tủ lạnh, vaccine chỉ giữ được bằng cách chủng từ tay đứa này sang tay đứa kia) [9].

Ngày 28/7/1821, Despiau viết thư báo tin: vua cho dựng 1 cái nhà ngay trong cung để ông chủng đậu, cấp 10 thầy thuốc người Việt cho ông dạy, “je vaccine les enfants du roi”, nghĩa là ông đang chủng cho các con vua [8].

3 năm sau, ngày 21/12/1824, Despiau chết vì dịch tả. Theo Lư Vĩ An, việc giữ vaccine có lẽ cũng chấm dứt theo ông và vaccine chỉ quanh quẩn trong nhà vua, chưa ra tới dân [9]. Đại Nam Thực Lục không ghi 1 chữ nào về chuyến đi Macao [9].

Con vua Thiệu Trị chào đời từ năm 1825 trở đi, lúc vaccine đã mất rồi. Năm 1847, hoàng tử thứ 2 là Hồng Nhậm, cháu nội của chính ông vua từng cho chủng đậu, “lên đậu mùa, phát nhiều chứng bệnh nguy hiểm”. Vua cha chỉ còn cách “mật đảo ở trong cung”, sai Thái y “ngày đêm chầu chực thuốc thang” [10]. Hồng Nhậm qua khỏi, về sau là vua Tự Đức.

Năm 1882, chính vua Tự Đức sai y sinh Nguyễn Văn Tâm “đi sang Hương Cảng học phép trồng đậu” [10]. Thế là cháu lại đi học từ đầu cái phép mà ông nội đã có trong tay từ 60 năm trước. Năm 1888, tỉnh Quảng Ngãi bị đậu mùa và dịch thời khí, chết 13.934 người [10].

Đến đầu thế kỷ 20 thì người Pháp đã tiêm chủng đại trà ở Bắc Kỳ. Bắc Kỳ Tạp Lục năm 1903, ngay dưới câu than thở trẻ dưới 10 tuổi chết nhiều, có chú thích: “từ vài năm nay, nhờ việc tiêm chủng thực hiện trên quy mô lớn, tỷ lệ tử vong này đã giảm đáng kể” [2]. Năm 1933, Tổng đốc Hà Đông là Hoàng Trọng Phu viết bài về các nhà hộ sinh, nhà giữ trẻ trong tỉnh gửi 1 hội nghị quốc tế bảo vệ trẻ em, có câu: “hộ sinh đang dần dần đi vào phong tục của dân làng”, theo Christina Firpo (sử gia Mỹ viết về trẻ em thời Pháp thuộc) dẫn lại [18].

V - THẾ NGƯỜI LỚN SỐNG ĐƯỢC BAO LÂU

Làng ngày xưa coi người 50 tuổi là “lên lão làng” [11]. Tới 60 thì thành lão nhiêu, được miễn sưu dịch [12]. Mốc ấy thấp so với bây giờ nhưng làng đã đặt hẳn lệ khao lão thì năm nào cũng phải có khối ông tới tuổi mà khao.

Năm 1823, vua Minh Mạng xuống dụ: “thượng cổ đều lấy trăm tuổi là kỳ hạn. Song từ trước đến nay thọ đến 70 tuổi đã khen là ít có” [10] (bây giờ 70 tuổi nhiều cụ vẫn sáng sáng ra công viên tập dưỡng sinh). Vậy mà lệ thưởng cho dân lại đặt ở mốc 100 tuổi, ông 30 lạng bạc, bà 20 lạng [13]. Ân chiếu năm trước đó còn chia từng nấc: 100 tuổi được 3 lạng bạc, 90 tuổi 2 lạng, 80 tuổi 1 lạng, “70 tuổi trở lên cho 1 tấm vải” [13]. Người 70 mà hiếm thật thì triều đình chẳng đặt riêng 1 nấc thưởng cho họ. Đợt thưởng năm 1827, chỉ riêng Quảng Nam có 6 ông, 8 bà trăm tuổi, Nghệ An có 8 ông, 11 bà [10].

Đến năm 1832 thì triều đình bắt đầu nghi: “tuổi người và diện mạo phần nhiều không xứng đối nhau. Huống chi, bà già, chỉ bằng cứ vào lời khai của họ, của làng, thì trong ấy, há không có kẻ giả mạo cầu may” [13]. Thế là từ đó chỉ xét các ông, các bà trăm tuổi khỏi được tâu nữa. Mình đoán có cụ khai thêm tuổi để lĩnh bạc nhưng muốn khai cho trót lọt thì trước hết cũng phải già thật đã.

Phan Kế Bính còn ghi 1 tục: con quặt quẹo thì “bế đứa con đưa qua cái săng người già chết thì nó được sống lâu” [12]. Phải có người già mới có cái săng mà bế con qua.

Vậy Giran bảo người An Nam già ở tuổi 50 là sai hết à? Cũng không hẳn, người lớn chết sớm cũng nhiều. Theo hồi ký của Nguyễn Hiến Lê thì cha ông “đại tiện ra huyết. Nhiều thầy lang trị mà không bớt… cha tôi tắt thở, mới 34 tuổi”, em trai ông cũng mất năm 32 [14]. Còn năm 1945 thì đúng năm nạn đói. Văn phòng Khâm sai gom báo cáo 20 tỉnh được 380.969 người chết đói, còn 9 tỉnh không báo về, theo David Marr (sử gia người Úc) dẫn lại [15]. Lấy năm 1945 ra tính tuổi thọ thì con số nào cũng thấp, vì năm ấy người lớn chết đói hàng loạt.

Nói chung người qua được tuổi thơ thì thường sống tới 50, 60, sống tới 70 vẫn là của hiếm, thất thập cổ lai hy là thế.

Trong Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp của Nguyễn Đình Chiểu, ông Ngư ngồi kể chuyện nhà mình: “hôm mai lận đận về mười đứa con… Rủ nhau thỉnh thoảng chết hoài, / Đứa đôi ba tháng, đứa vài ba năm… Đến nay còn sót hai thằng” [16].

Nguồn:

[1] - Tâm Lý Dân Tộc An Nam - Paul Giran, phần I, chương I, mục Mô tả chủng tộc. [2] - Bắc Kỳ Tạp Lục (Variétés Tonkinoises, 1903) - chương VIII Đinh điền, mục Thống kê. [3] - Down And Out In Saigon - Haydon Cherry, chương A Holy Childhood (dẫn số liệu của bác sĩ Montel về trẻ sơ sinh Nam Kỳ). [4] - Nếp Cũ, Con Người Việt Nam - Toan Ánh, chương 2, mục Lâm bồn. [5] - Tiểu Luận Về Dân Bắc Kỳ - Gustave Dumoutier, các mục Sinh, Tuổi thơ. [6] - Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả - mục Hoàng tử và Hoàng nữ của Hiến Tổ. [7] - Đại Nam Liệt Truyện tập 3 - Quốc Sử Quán triều Nguyễn, truyện các hoàng tử, công chúa con Hiến Tổ, truyện Tá Thiên Nhân hoàng hậu. [8] - Les Français Au Service De Gia-Long, XII, Leur Correspondance - Leopold Cadiere sưu tập, Bulletin Des Amis Du Vieux Hué năm 1926 số 4 (thư của Vannier ngày 13/7/1820, thư của Despiau ngày 28/7/1821). [9] - Bệnh Đậu Mùa Ở Việt Nam Thời Nguyễn Và Việc Tiếp Cận Vắc-xin Đậu Mùa Của Nhà Nguyễn Vào Đầu Thế Kỷ XIX - Lư Vĩ An, Tạp Chí Khoa Học Xã Hội Miền Trung số 3 năm 2021. [10] - Đại Nam Thực Lục - Quốc Sử Quán triều Nguyễn, bản dịch Viện Sử Học, các năm 1820, 1823, 1827, 1847, 1882, 1888. [11] - An Nam Phong Tục Sách - Mai Viên Đoàn Triển, Nguyễn Tô Lan dịch, mục Khao lão. [12] - Việt Nam Phong Tục - Phan Kế Bính, mục Lão hạng, mục Thuật kiêng cữ. [13] - Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ tập 7 - Nội Các triều Nguyễn, bản dịch Viện Sử Học, quyển 101 Phong giáo, mục Nêu thưởng thọ quan, mục Thọ dân. [14] - Hồi Kí Nguyễn Hiến Lê - Nguyễn Hiến Lê, mục Cha tôi mất. [15] - Vietnam 1945: The Quest For Power - David Marr, chương về nạn đói. [16] - Ngư Tiều Y Thuật Vấn Đáp - Nguyễn Đình Chiểu. [17] - Phong Tục Miền Nam - Vương Đằng, chương V. [18] - The Uprooted: Race, Children, And Imperialism In French Indochina, 1890-1980 - Christina Firpo, phần về nhà giữ trẻ, nhà hộ sinh những năm 1930 (dẫn bài của Hoàng Trọng Phu tại Congrès International pour la Protection de l’Enfance năm 1933).