Ở ta, người ta vẫn hay nói cửa miệng “tru di tam tộc”, như 1 câu dọa nhau cho vui. Chữ gốc là tru di, tru là giết, di là san cho phẳng. Đọc lại sử thì thấy chữ ấy không vui chút nào.

Tháng 7 năm thứ 2 đời Tần Nhị Thế (năm 208 trước Công nguyên), thừa tướng Lý Tư bị đem ra chợ Hàm Dương. Án xử là “cụ ngũ hình”, tức là chịu đủ 5 thứ hình rồi mới chém ngang lưng. Lúc ra khỏi ngục, ông bị trói chung với người con trai thứ. Ông quay sang bảo con: “ta muốn cùng con lại dắt chó vàng ra cửa đông đất Thượng Thái đuổi thỏ, còn được nữa đâu!”. Rồi 2 cha con ôm nhau khóc. Tư Mã Thiên ghi nốt 1 vế, “mà giết 3 họ” [1].

Xin thưa, Lý Tư là người giúp Tần Thủy Hoàng làm luật cho cả thiên hạ. Hơn 100 năm trước ông, Thương Ưởng là người đặt ra phép cho dân nước Tần cứ 5 nhà, 10 nhà buộc vào nhau, 1 nhà có tội thì các nhà kia chịu lây. Ai biết mà không tố thì bị chém ngang lưng, ai tố thì được thưởng ngang với chém được đầu giặc. Về sau chính Thương Ưởng bị vua Tần cho xe xé xác, rồi “diệt cả nhà Thương Quân” [2]. Nghĩa là cả 2 ông giữ luật cho nước Tần, cuối cùng đều bị chính luật ấy giết cả nhà.

Vì sao 1 người có tội mà cả họ phải chết? Mình có đọc lại Sử ký, Hán thư, Minh sử, luật nhà Đường, Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, thì thấy phép giết cả họ có từ hơn 2.700 năm trước. Mà ở nước ta, có 1 vụ hơn 1.200 người bị bắt sống, cả già lẫn trẻ, đem chém rồi vùi chung 1 hố, mới xảy ra năm 1835.

I - 3 HỌ LÀ NHỮNG AI

Sử ký ghi năm thứ 20 đời Tần Văn công (năm 746 trước Công nguyên), “pháp luật bắt đầu có tội 3 họ” [3]. Có điều 3 họ là những ai thì sách cũ mỗi nơi nói 1 kiểu. Có người hiểu là cha mẹ, anh em, vợ con. Có người hiểu là họ cha, họ mẹ, họ vợ. Lại có người hiểu là 3 đời, tức cha, mình và con. Sách đã không nói rõ thì quan xử án kéo rộng ra bao nhiêu cũng có chỗ mà dựa.

Cửu tộc, tức 9 họ, thì người ta thường hiểu là 9 đời: kỵ, cụ, ông, cha, bản thân, rồi con, cháu, chắt, chút [4]. Giết 9 họ theo nghĩa ấy là lấy 1 người làm gốc, đếm lên 4 đời, đếm xuống 4 đời.

Còn giết thế nào thì Hán thư chép kỹ hơn cả. Đầu nhà Hán, luật vẫn giữ lệnh giết 3 họ. Ai bị tội 3 họ thì trước hết thích chữ vào mặt, cắt mũi, chặt 2 bàn chân, rồi đánh cho chết, bêu đầu, băm xương thịt bày ra chợ. Kẻ nào có tội chửi rủa, phỉ báng thì cắt lưỡi trước. Gọi là “cụ ngũ hình”. Hán thư ghi thêm, những người như Bành Việt, Hàn Tín đều bị giết theo lối ấy [5]. Thì đấy, Hàn Tín là người đánh được thiên hạ cho Lưu Bang, cuối cùng chịu đúng cái án nhà Hán giữ lại của nhà Tần.

Vượt cả 9 họ thì có chuyện Phương Hiếu Nhụ. Năm 1402, Yên vương Chu Lệ đánh vào Nam Kinh cướp ngôi của cháu, tức là vua Minh Thành Tổ về sau. Ông sai đưa bút cho Phương Hiếu Nhụ, bảo “chiếu cho thiên hạ, không phải tiên sinh thảo thì không được”. Phương Hiếu Nhụ ném bút xuống đất, vừa khóc vừa mắng: “chết thì chết, chiếu thì không thảo”. Thành Tổ giận, sai xẻo thịt ông ngoài chợ. Minh sử viết, họ hàng bè bạn trước sau bị giết lây đến mấy trăm người [6]. Sách Cương mục của nhà Nguyễn chú thêm 1 câu đối đáp. Thành Tổ hỏi “nhà ngươi không nghĩ đến 9 họ à?”, Phương Hiếu Nhụ đáp “đến 10 họ cũng chả làm gì”. Xưa nay 9 họ đã là cùng, vậy mà Thành Tổ còn giết cả học trò ông, nên đời sau gọi là tru di 10 họ [7].

Cha của Thành Tổ là Chu Nguyên Chương còn giết nhiều hơn. Án thừa tướng Hồ Duy Dung, theo Minh sử, những người bị khai ra rồi bị giết lây là hơn 30.000 người, vụ án kéo dài mấy năm vẫn chưa xong [8]. Đến mức ấy thì nói 3 họ hay 9 họ cũng chẳng còn nghĩa gì, 1 người bị khai ra là bạn bè, người quen của người ấy cũng bị kéo theo.

II - SAO PHẢI GIẾT CẢ HỌ

Lý do thì chính các quan nhà Hán đã nói ra. Năm thứ 2 đời Hán Văn Đế (năm 178 trước Công nguyên), vua xuống chiếu, đại ý rằng người phạm pháp đã bị xử rồi mà còn bắt cha mẹ, vợ con, anh em không có tội chịu tội lây, lại bắt làm nô, “trẫm rất không muốn thế”, các quan bàn đi. 2 ông thừa tướng Trần Bình, Chu Bột tâu lại, bắt cha mẹ vợ con anh em chịu tội lây là “để buộc lòng họ lại, khiến họ sợ mà không dám phạm pháp”. Phép này có từ lâu lắm rồi, các ông nghĩ cứ giữ như cũ là tiện [5].

Kẻ làm phản thì đằng nào cũng chết, luật ấy là để răn đe những người đang định làm. 1 ông tướng tính chuyện làm phản, nếu chỉ mình ông chết thì nhiều ông dám liều. Còn nếu mẹ già, vợ con, anh em cũng chết theo, thì phải nghĩ lại. Thế là mẹ già vợ con của ông thành ra con tin trong tay vua.

Lại nữa, ngày xưa 1 người làm quan thì cả họ được nhờ. Vua phong tước cho ai thì phong lên cả cha mẹ, ông bà đã chết của người ấy. Vinh thì cả họ cùng vinh, nên người làm luật tính rằng tội thì cả họ cùng chịu.

Cũng phải kể tới chuyện báo thù. Con cháu người bị giết còn sống thì còn có ngày trả thù, giết sạch là để khỏi phải lo chuyện ấy về sau. Rồi còn tài sản, nhà cửa ruộng đất của cả họ đều bị tịch thu vào nhà nước, đàn bà con trẻ thì sung làm nô.

Hán Văn Đế nghe xong thì đáp, trẫm nghe rằng luật có ngay thẳng thì dân mới thật thà, tội có đúng thì dân mới theo. Quan không dạy được dân làm điều thiện, lại đem luật không ngay thẳng ra mà bắt tội họ, thế là luật hại dân. Rồi vua bỏ luật bắt tội lây [5]. Trước đó, năm đầu đời Lữ hậu cũng đã có lệnh bỏ tội 3 họ [5]. Vậy mà về sau có Tân Viên Bình mưu làm phản, luật giết 3 họ lại được dùng lại [5]. Thành ra trong chưa tới 30 năm, nhà Hán bỏ luật này 2 lần, rồi lại dùng. Cứ có người đụng tới ngôi vua là luật ấy lại được đem ra.

III - TỘI GÌ THÌ BỊ GIẾT CẢ HỌ

Đến đời Đường thì luật được viết thành điều khoản rõ ràng. Đứng đầu 10 tội ác, tức “thập ác”, là 3 tội: mưu phản (mưu hại xã tắc), mưu đại nghịch (mưu phá tông miếu, lăng tẩm, cung điện nhà vua), mưu bạn (mưu bỏ nước theo giặc) [9]. Luật nhà Đường viết, phàm ai mưu phản hay đại nghịch thì đều chém. Cha, con trai từ 16 tuổi trở lên đều thắt cổ. Con trai từ 15 tuổi trở xuống cùng mẹ, con gái, vợ thiếp, ông, cháu, anh em, chị em, cùng ruộng đất nhà cửa đều sung vào nhà nước. Đàn ông 80 tuổi, đàn bà 60 tuổi hay người tàn tật thì được tha. Chú bác và cháu con anh em thì đày đi 3.000 dặm [10].

Đọc điều luật ấy mới thấy người ta tính tội lây kỹ đến thế nào, đến tuổi nào thì chết, tuổi nào thì làm nô, ai được tha, ai bị đày. Về sau từ đời Nguyên bên Tàu, sách luật còn thêm hình lăng trì, tức là xẻo thịt cho chết dần, dành cho những tội như thế [11].

Nước ta cũng theo lối ấy. Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi luật nhà Lê cũng có “thập ác”, cũng mở đầu bằng mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn. Tội chết có 3 bậc, nặng nhất là lăng trì, Phan Huy Chú chú rằng hình này nhà Nguyên mới đưa vào sách luật, “luật triều Lê ta cũng nhân theo đó”. Riêng điều mưu phản thì luật Lê viết, kẻ phạm tội bị chém bêu đầu, kẻ tòng phạm và thân thuộc “nếu biết việc” thì đều bị chém, vợ con và ruộng đất của kẻ phạm tội bị tịch thu, người tố giác được thưởng tước và 1 phần 3 số ruộng đất ấy [11]. Theo đúng chữ trong luật Lê thì người thân chỉ bị chém khi biết việc.

Ở ta, có khi vua nói ra câu “tội đáng giết cả họ” rồi lại tha. Năm 1257, quân Nguyên kéo tới, có viên tiểu hiệu là Hoàng Cự Đà ngồi thuyền chạy trốn. Quan quân gọi hỏi quân Nguyên ở đâu, Cự Đà còn đáp: “không biết, đi mà hỏi những người ăn xoài ấy”. Thì ra trước có lần vua Trần Thái Tông ban xoài cho những người hầu cận, mà ông không được ăn. Giặc lui, thái tử xin xử tội chết. Vua bảo “Cự Đà tội đáng giết cả họ” nhưng việc này là lỗi ở ta, tha cho, cho đánh giặc mà chuộc tội [12]. Năm 1430, vua Lê Thái Tổ đi đánh châu Thạch Lâm, đề thơ ở cửa động, có câu dịch ra là “xưa nay tội phản phải tru di” [13]. 12 năm sau, người bị tru di 3 họ lại là Nguyễn Trãi, công thần mở nước của chính ông.

IV - VỤ LỆ CHI VIÊN

Tháng 8 năm 1442, vua Lê Thái Tông đi tuần miền đông về, ghé chơi nhà Nguyễn Trãi. Tới vườn Vải (Lệ Chi Viên), vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ, vợ lẽ Nguyễn Trãi, rồi băng. Toàn thư ghi, “mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua”. Ngày 16 tháng ấy, “giết Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ, bắt tội đến 3 họ” [14].

Vua chết ở nhà ai thì người ấy mang tội giết vua, tức là tội mưu phản, đứng đầu thập ác. Luật Lê viết thân thuộc phải biết việc mới bị chém, ở đây thì không thấy sử ghi là có tra xét ai biết, ai không biết.

Sử thần nhà Lê bàn rằng, “nữ sắc làm hại người ta quá lắm”, Thị Lộ chỉ là 1 người đàn bà mà vua yêu thì thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy thì cả họ bị diệt [14]. 400 năm sau, sách Cương mục nhà Nguyễn chép lại vụ này. Sách ghi “người ta đều cho là oan”, vậy mà lời phê của vua Tự Đức lại trách Nguyễn Trãi, rằng vua thì buông tuồng, bề tôi thì chuyên quyền, ông là người hiền thì nên sớm rút lui, đằng này lại thả lỏng cho vợ làm việc hoang dâm, “vậy thì cái vạ tru di cũng là tự Trãi chuốc lấy” [15]. Cả họ người ta bị giết rồi, 400 năm sau vẫn còn bị vua bắt lỗi.

Năm 1464, vua Lê Thánh Tông thương Nguyễn Trãi bị oan, truy tặng tước Tán trù bá, trả lại 100 mẫu ruộng thờ. Hóa ra hồi ấy có 1 người vợ thiếp của ông là Phạm Thị đang có mang, trốn được, sinh ra Nguyễn Anh Vũ. Lớn lên Anh Vũ đi thi đỗ hương cống, vua cho làm đồng tri châu [15]. Cả 3 họ chỉ sót lại được 1 giọt máu, là nhờ lúc ấy chưa ai biết có cái thai.

V - CHO VOI XÉ XÁC, BỎ XƯƠNG XUỐNG HỐ XÍ

Sang nhà Nguyễn thì Thực lục ghi rất kỹ. Tháng 11 năm 1802, vua Gia Long sai đem Nguyễn Quang Toản cùng các em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành xử lăng trì, cho 5 con voi xé xác. Thực lục giải thích là buộc vào đầu với 2 tay 2 chân, rồi cho voi kéo. Hài cốt của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ bị giã nát rồi vứt đi. Còn đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản cùng bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì giam vào nhà ngục, sang đời Minh Mạng chuyển vào ngục thất “cấm cố mãi mãi” [16]. Người chết rồi vẫn bị giam, đến bài vị cũng bị giam.

Năm 1815, Gia Long ban bộ luật mới. Chiếu nói rõ là sai đình thần tham khảo phép cũ của bản triều, luật đời Hồng Đức và “điều luật nước Đại Thanh” mà biên thành 22 quyển [17]. Điều mưu phản với lệ bắt thân thuộc chịu tội lây cũng theo đó mà vào luật nhà Nguyễn.

Vụ lớn nhất là vụ Lê Văn Khôi. Năm 1833, Khôi chiếm thành Phiên An (Gia Định) làm phản. Năm 1834, Khôi chết bệnh trong thành, đảng giặc tôn con Khôi là Lê Văn Cù mới 8 tuổi lên làm nguyên soái [18]. Năm 1835, quan quân hạ được thành, bắt hoặc chém được 1.832 người, Thực lục ghi là “không sót 1 mống nào”. Số bắt sống cộng lại là 1.278 người, trai gái già trẻ đủ cả, trong đó có vợ cả, 4 vợ lẽ, 4 con gái và 1 con trai của Khôi. 3 con trai khác của Khôi thì bị chém tại trận, bêu đầu 3 ngày rồi ném cả đầu lẫn xác xuống biển [19].

Vua Minh Mạng xuống dụ, 6 tên đầu sỏ, trong đó có con trai Khôi là Lê Văn Viên, phải bỏ cũi sắt giải về Kinh, các tỉnh dọc đường thay phiên canh giữ, “cốt sao đưa đến cửa cung khuyết mà nó còn sống để trừng trị hết phép”. Vợ con Khôi cùng các đầu mục thì lăng trì rồi quăng xuống sông. Còn đồ đảng, “không kể trai, gái, già trẻ chẳng cần tra rõ quê quán”, đều đem ra đồng chém, đào 1 cái hố lớn mà vùi chung, đắp gò, dựng bia khắc chữ “nghịch tặc biền tru xứ”, nghĩa là chỗ bọn nghịch tặc chụm đầu bị giết. Lý do vua đưa ra là “nếu chẳng giết hết, sao tiết được nỗi giận của thần và người”. Lê Văn Khôi đã chết rồi thì đào xác lên, xương tán nát chia cho 6 tỉnh bỏ vào hố xí, “còn thịt thì thái cho chó ăn”, đầu lâu đóng hòm đem về Kinh bêu khắp các chợ [19].

Trong số 1.278 người bị bắt ấy có bao nhiêu người là vợ con, đầy tớ, người làm thuê bị kẹt lại trong thành suốt mấy năm bị vây, thì sử không ghi, vì vua đã dặn là chẳng cần tra quê quán.

Cũng năm 1835, triều đình truy tội Lê Văn Duyệt, tổng trấn Gia Định, người đã chết từ 3 năm trước, vì Khôi là người dưới cờ ông. Đình thần kể ra 7 tội đáng chém, rồi kết rằng vụ Phiên An thì Duyệt là kẻ đứng đầu gây vạ, “chiếu theo luật mưu phản, nên khép tội lăng trì”. Ông đã chết thì xin bổ quan tài, phanh thây, con em vợ thiếp xử tội, tài sản tịch thu [20]. Vua cho cháu Duyệt là Lê Văn Hán bị lăng trì vì có đi lại với Khôi. Anh em Hán 6 người từ án chém ngay đổi thành chém nhưng giam lại chờ. 6 đứa khác “đều mới dưới 15 tuổi” thì giam. 13 người đàn bà trước xử làm đầy tớ gái, nay thả. Lại sai sao bản án gửi các tỉnh hỏi ý kiến. Có ông tuần phủ Quảng Yên xin trị tội thân thuộc của Duyệt “từ 16 tuổi trở lên” [20].

Mọi người để ý cái mốc 15, 16 tuổi ấy, chính là con số trong điều luật nhà Đường từ hơn 1.000 năm trước, sang tới Huế vẫn còn nguyên. Vua Minh Mạng nói thẳng ra là “luật đã có minh văn nói rõ về việc thân thuộc phải tội lây”. Cuối cùng vua tha cho xác Duyệt khỏi bị phanh thây, chỉ sai san mộ thành đất bằng, dựng bia khắc 8 chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (chỗ hoạn quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu tội chết), rồi cho sao đạo dụ gửi khắp các tỉnh “khiến cho ai nấy đều biết” [20].

Theo mình, cái tha ấy cũng nằm trong bản án. Đình thần nghị mức nặng nhất, vua giảm xuống 1 bậc, rồi sao đạo dụ gửi khắp nước. Dân các tỉnh đọc thì biết phép nước nặng đến đâu, mà phần được tha thì phải nhớ là ơn vua.

VI - BAO GIỜ THÌ BỎ

Bên Tàu, đến tận cuối đời Thanh mới bỏ. Năm 1905, 2 ông đại thần lo sửa luật là Thẩm Gia Bản, Ngũ Đình Phương dâng tấu xin bỏ những hình phạt nặng trong luật. Công báo ở Bắc Kinh ngày 24, 25 tháng 4 năm ấy đăng dụ của vua Quang Tự, 3 thứ hình lăng trì, bêu đầu, chém xác người đã chết “vĩnh viễn bãi bỏ”, án lăng trì, bêu đầu đổi thành chém, tội thích chữ vào mặt cũng bỏ. Triều đình cũng đã chuẩn cho bỏ lệ bắt người thân chịu tội lây [21]. Tính từ năm Tần Văn công đặt ra tội 3 họ, thì luật ấy tồn tại hơn 2.600 năm.

Ở ta, sang thời Pháp thuộc, luật của triều đình Huế vẫn còn dùng ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ. Tới năm 1922 Bắc Kỳ mới có bộ hình luật mới, Trung Kỳ thì tới năm 1933 [22].

Lần lại từ đầu thì phép này bỏ rồi lại dùng, có tha thì cũng tha từng vụ. Lữ hậu bỏ, Hán Văn Đế bỏ, rồi nhà Hán lại dùng. Vua Trần nói “tội đáng giết cả họ” rồi tha cho Cự Đà. Lê Thánh Tông rửa oan cho Nguyễn Trãi khi cả họ ông đã chết được 22 năm. Minh Mạng tha cho 13 người đàn bà nhà Lê Văn Duyệt, rồi sao đạo dụ ấy gửi đi khắp các tỉnh. Lần nào được tha cũng là nhờ 1 tờ dụ của vua, còn trong sách luật thì điều bắt thân thuộc chịu tội lây vẫn nằm nguyên đấy.

Nguồn:

[1] - Sử ký - Tư Mã Thiên, quyển 87, Lý Tư liệt truyện. [2] - Sử ký - Tư Mã Thiên, quyển 68, Thương Quân liệt truyện. [3] - Sử ký - Tư Mã Thiên, quyển 5, Tần bản kỷ, năm thứ 20 đời Tần Văn công. [4] - Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam, chú thích chữ “cửu tộc”. [5] - Hán thư - Ban Cố, quyển 23, Hình pháp chí. [6] - Minh sử, quyển 141, Phương Hiếu Nhụ truyện. [7] - Khâm định Việt sử thông giám cương mục - Quốc sử quán triều Nguyễn, chú thích về Phương Hiếu Nhụ ở phần chép thời Hậu Trần. [8] - Minh sử, quyển 308, Gian thần truyện, mục Hồ Duy Dung. [9], [11] - Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú, Hình luật chí, mục Thập ác, Ngũ hình và Luật đạo tặc. [10] - Đường luật sớ nghị, quyển 17, Tặc đạo, điều Mưu phản đại nghịch. [12] - Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển V, năm Nguyên Phong thứ 7, tức năm 1257. [13] - Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển X, năm Thuận Thiên thứ 3, tức năm 1430. [14] - Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển XI, năm Đại Bảo thứ 3, tức năm 1442. [15] - Khâm định Việt sử thông giám cương mục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên, phần chép năm 1442 và năm 1464. [16] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ nhất kỷ, năm Gia Long thứ 1, tức năm 1802. [17] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ nhất kỷ, năm Gia Long thứ 14, tức năm 1815. [18], [19], [20] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ nhị kỷ, năm Minh Mệnh thứ 15 và 16, tức năm 1834 và 1835. [21] - Dụ vua Quang Tự đăng trên công báo Bắc Kinh ngày 24 và 25 tháng 4 năm 1905, bản dịch lưu trong Foreign Relations of the United States 1905, văn kiện 207. [22] - Tạp chí Vietnam Law and Legal Forum, bài “Crimes prescribed in penal laws of French-ruled Vietnam”.