Chắc mọi người cũng từng nghe câu “1 đêm với Vệ Nữ, cả đời với Thủy Ngân”. Vệ Nữ (Venus) là nữ thần tình yêu, còn Mercury vừa là tên 1 vị thần, vừa là tên thủy ngân trong tiếng Anh. Nghĩa là ăn chơi 1 đêm mà dính giang mai thì cả đời phải xoa thủy ngân. Câu ấy truyền miệng ở châu Âu mấy trăm năm, tới giờ vẫn chưa ai truy ra ai nói đầu tiên [4].

Chữ “cả đời” ấy không phải nói quá. Năm 1984, nhà cổ bệnh học Gino Fornaciari ở Đại Học Pisa mở quan tài Isabella d’Aragona, công nương xứ Naples mất năm 1524, thọ 54 tuổi. Ông thấy ngay hàm răng của bà phủ 1 lớp đen dày. Bà bị giang mai, chữa bằng thuốc mỡ thủy ngân, mà thủy ngân vào người thì thải ra theo nước bọt, nhuộm đen cả răng. Năm cuối đời, tóc bà chỉ mọc được 2 cm, trong khi tóc người thường mỗi năm dài khoảng 16 cm [1].

Hơn 400 năm, từ cuối thế kỷ 15 tới khi có penicillin, thầy thuốc châu Âu cho người bị giang mai bôi, xông, uống thủy ngân. Người bệnh chảy dãi cả tháng trời, lở miệng, rụng răng, có người chết vì thuốc chứ không phải vì bệnh. Vậy mà cả thầy lẫn bệnh nhân vẫn tin thuốc ấy chữa được bệnh.

I - MỘT ĐÊM VỚI VỆ NỮ, CẢ ĐỜI VỚI THỦY NGÂN

Năm 1495, quân của vua Pháp Charles VIII chiếm Naples thì trong doanh trại bùng lên 1 thứ bệnh lạ, lở loét khắp người, dữ dội hơn giang mai bây giờ nhiều [2]. Bệnh lây qua đường tình dục, chẳng mấy chốc lan khắp châu Âu, nước nào cũng đổ cho hàng xóm, chả nước nào chịu nhận bệnh là của mình.

Người Ý gọi là bệnh Pháp, ở Ấn Độ gọi là bệnh của người Frank, người Trung Hoa gọi là lở Quảng Đông, người Nhật gọi là lở nhà Đường [2]. Mãi năm 1530, thầy thuốc Ý Girolamo Fracastoro viết 1 bài thơ về chàng chăn cừu Syphilus bị thần giáng bệnh vì tội bất kính, bệnh mới có cái tên syphilis, tức giang mai [3].

Bệnh mới thì thuốc cũng có ngay. Thầy thuốc châu Âu vốn đã học của thầy thuốc Ả Rập cách dùng thủy ngân trị bệnh ngoài da, giờ gặp bệnh mới cũng lở ngoài da thì đem ra bôi [4]. Năm 1514, thầy thuốc ngoại khoa người Ý Giovanni de Vigo chế ra thứ cao thủy ngân trộn mỡ lông cừu với dầu ô liu. Theo Eleanor Herman, công thức ấy còn được dùng, dưới dạng này dạng khác, gần 400 năm [1]. Câu “1 đêm với Vệ Nữ, cả đời với Thủy Ngân” cũng ra đời từ thời ấy [4].

Cách dùng thì đủ kiểu: xoa thuốc mỡ lên da, uống calomel (thủy ngân clorua, hồi ấy gọi là “thủy ngân ngọt”), tiêm vào bắp hoặc nhốt người bệnh vào buồng nóng cho hít hơi thủy ngân. Lối xông hơi có từ thập niên đầu thế kỷ 16, tới năm 1928 vẫn còn người dùng [3].

Năm 1917, John Stokes, trưởng khoa Da Liễu và Giang Mai ở Mayo Clinic, dặn bệnh nhân là xoa thì không phải vài chục lần mà vài trăm lần, mỗi tuần 4 đến 6 lần, cứ thế 2, 3 năm liền. Thuốc mỡ màu xám, bẩn hết đồ lót, tốt nhất là nhờ người khác xoa hộ (khổ thân người được nhờ). Ông còn cho rằng xoa có tác dụng phần lớn là nhờ người bệnh hít hơi thủy ngân bốc lên theo hơi ấm cơ thể [5].

II - CHẢY DÃI LÀ THUỐC ĐANG NGẤM

Thầy thuốc châu Âu hồi ấy học theo Hippocrates và Galen: người ta khỏe là nhờ 4 thể dịch trong người cân bằng, ốm là do dịch xấu ứ lại, muốn chữa thì phải tống dịch xấu ra [1]. Thủy ngân làm người bệnh vã mồ hôi, nước bọt chảy ròng ròng, đúng bài quá còn gì [6]. Ngự y Pháp Ambroise Paré coi người bệnh khạc nhổ, chảy dãi càng nhiều thì thuốc càng đang tác dụng, dịch xấu đang theo nước bọt đi ra [1].

Người cùng thời với Paracelsus còn đặt hẳn chỉ tiêu: phải chảy được 3 pint nước bọt (chừng 1,7 lít, hơn 1 chai nước suối to) thì mới gọi là chữa có hiệu quả. Ô! Chảy tới mức ấy thì người bệnh đã ngộ độc mất rồi [3].

Chính Paré, năm 1585, tả lại người hít hơi thủy ngân: đầu, tay, chân run lẩy bẩy, điếc, trúng phong rồi chết thảm. Người sống sót thì cả tháng sau nước dãi đặc quánh, hôi thối cứ chảy mãi ra miệng, có người mất 1 mẩu xương hàm, rụng mấy cái răng [1]. Theo Herman, bệnh nhân càng ốm thì càng được cho thêm thuốc kim loại nặng, càng uống thì càng ốm [1].

Tới thập niên 1860 vẫn chưa khá hơn là bao. Ở Bệnh Viện Lock tại London, nơi chuyên chữa bệnh hoa liễu, bác sĩ Edward Cutler cho biết thủy ngân được dùng tới chừng nào bệnh nhân còn cắn nổi mẩu bánh mì [6] (nghĩa là còn răng thì còn xoa).

Ulrich von Hutten, nhà thơ, hiệp sĩ người Đức, mắc bệnh khoảng năm 1510. Trong 9 năm ông chịu 11 đợt chữa bằng thủy ngân, có đợt xoa nhiều lần mỗi ngày liền 30 ngày, có lúc bị nhốt vào lều nóng hít hơi thủy ngân. Có lần ông tận mắt thấy thầy thuốc lôi 3 người chết cứng ra khỏi lều [1].

Năm 1519, ông viết sách tả lại: răng rụng, họng, phổi, vòm miệng đầy lở loét, hàm sưng vù, “cách chữa ấy kinh khủng tới mức nhiều người thà chết còn hơn được chữa khỏi bệnh kiểu đó” [1]. Về sau ông bỏ thủy ngân, chữa bằng gỗ guaiac chở từ châu Mỹ về, rồi chết năm 35 tuổi [1], [7].

Ai dè, năm 2025 có 1 nghiên cứu xem lại bộ xương của Hutten, thấy giống bệnh ghẻ cóc (yaws, do 1 loại xoắn khuẩn họ hàng với giang mai) hơn là giang mai, trong xương cũng không thấy thủy ngân cao bất thường [7]. Sách của Hutten tới giờ vẫn được dẫn ra để cho thấy thủy ngân hành hạ người bị giang mai ra sao, mà có khi chính ông lại chẳng mắc giang mai.

III - VẾT LOÉT TỰ LẶN, THUỐC ĐƯỢC GHI CÔNG

Lúc mới mắc giang mai, ở chỗ kín mọc 1 vết loét không đau, gọi là săng. Không chữa gì thì 3 đến 6 tuần sau săng cũng tự lành. Ít lâu sau nổi ban, sưng hạch, rồi ban với hạch cũng tự hết nhờ sức đề kháng của người bệnh. Sau đó bệnh nằm im, có khi vài chục năm, có khi cả đời [8]. Thầy thuốc thế kỷ 18 coi giang mai là kẻ giỏi đóng giả, năm 1765 J. Becket viết rằng không anh hề nào đổi nét mặt giỏi bằng nó [9].

Theo nhà sử học y khoa Mỹ Allan Brandt, 1 thứ thuốc muốn được cả thầy lẫn bệnh nhân tin thì phải gây ra cái gì đó nhìn thấy được, mà thủy ngân thì thừa sức: rụng răng, nứt lưỡi, xuất huyết ruột. Ông bà mình bảo thuốc đắng đã tật, đằng này thuốc hành người bệnh tới rụng răng mà vẫn được khen là thuốc hay. Trong lúc ấy, vết săng tự lặn theo đường đi của bệnh và cả thầy lẫn bệnh nhân đều ghi công cho thuốc [10].

Bạn nào từng bị nhiệt miệng chắc biết cảm giác này. Bôi thứ gì vào cũng được, 1 tuần sau vết loét lành, thế là tin thứ mình bôi là thuốc tiên, dù không bôi thì đằng nào nó cũng lành.

Ở Na Uy, từ năm 1891 tới 1910, Caesar Boeck, trưởng khoa giang mai Bệnh Viện Đại Học Oslo, cho khoảng 2.000 người mắc giang mai giai đoạn 1, 2 nằm viện mà không chữa gì, chờ vết loét tự lành, vì ông tin sức đề kháng của cơ thể còn hơn thuốc thời ấy. Mấy chục năm sau người ta lần lại hồ sơ, năm 1955 kết luận gần 60% số người không chữa sống hết đời mà chẳng mấy phiền hà vì bệnh [4].

Số còn lại thì không may như thế, khoảng 30% người không chữa về sau chuyển sang giai đoạn 3, tổn thương tim, tổn thương thần kinh [8]. Giới bác sĩ hồi ấy có câu: ai sống chung với giang mai được 20 năm thì nên chúc mừng chứ đừng chữa nữa [4].

Năm 1917, Stokes nhắc đi nhắc lại rằng ban giang mai giai đoạn 2 “tự biến mất, dù người bệnh có chữa hay không”. Cũng chính ông viết thủy ngân làm triệu chứng tan “như tuyết gặp nắng”, người bệnh rất dễ tưởng 1 bệnh biến mất nhờ mấy viên thuốc thần là chuyện vặt, khỏi bên ngoài cũng là khỏi bên trong.

Ấy vậy mà ông vẫn xếp thủy ngân ngang hàng quinin trị sốt rét và viết rằng thủy ngân “vẫn nổi tiếng và không thể thiếu trong việc chữa giang mai như 4 thế kỷ trước. Chưa có gì thay được nó” [5]. Thủy ngân còn lừa được cả xét nghiệm, xoa vài lần là xét nghiệm máu âm tính 1 thời gian, ngừng thuốc thì dương tính lại, có người tưởng khỏi rồi đi lấy vợ [5].

Nói thủy ngân vô dụng thì cũng oan cho nó. J.G. O’Shea, trong 1 bài năm 1990 trên tạp chí của Hội Y Khoa Hoàng Gia Anh, cho rằng thủy ngân chắc chắn diệt xoắn khuẩn mạnh, có khi còn chặn được bệnh từ giai đoạn đầu [3]. Năm 1905, Metchnikoff và Roux ở Viện Pasteur chữa khỏi khỉ bị giang mai bằng calomel [6].

Ngặt cái liều đủ diệt xoắn khuẩn thì cũng sát liều đầu độc người bệnh, thuốc chỉ đè bệnh xuống chứ không trừ được tận gốc [3], [6]. Nhà độc chất học Mỹ Leonard Goldwater thì gọi chuyện chữa giang mai bằng thủy ngân là “trò lừa bịp vĩ đại nhất trong 1 nghề chưa bao giờ thoát được lừa bịp” [3].

IV - SÁCH THUỐC NAM DẶN ĐỪNG UỐNG

Ở ta, giang mai có tên là lở dương mai. Nam Dược Thần Hiệu, bộ sách thuốc mang tên Tuệ Tĩnh in năm 1761, có hẳn 1 mục cho bệnh này (mục ấy không thể do chính Tuệ Tĩnh viết, vì ông sống ở thế kỷ 14, mà giang mai sau năm 1500 mới sang tới châu Á, sách cũng tự nhận có nhiều phương thuốc thêm vào về sau). Sách tả bệnh lây khi ăn nằm với người có nọc độc, ban đầu sốt rét, đau mình mẩy, rồi nổi mụn, lở loét, nặng thì loét da thủng xương.

Rồi sách dặn: “không nên muốn mau lành mà cho uống những thủy ngân, khinh phấn”, vì các thứ ấy chỉ đỡ đau được 1 lúc mà hại cả đời người [11]. Khinh phấn chính là calomel, thứ mà bác sĩ Anh thế kỷ 19 vẫn khuyên bệnh nhân uống hằng ngày [3]. Thay vào đó, sách cho củ khúc khắc (thổ phục linh) 4 lạng với 7 quả bồ kết, sắc uống thay trà, bệnh nhẹ 27 ngày, nặng 47 ngày [11].

Nghe thì oai nhưng câu dặn ấy có là vì ở ta có người uống thật. Cũng sách ấy có 1 phương riêng cho người bị giang mai đã uống nhiều khinh phấn, độc ngấm vào gân cốt nhức nhối, chữa bằng vỏ rễ tầm xuân nấu nửa nước nửa rượu [11]. Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư in chung trong bộ sách ấy vẫn lấy khinh phấn làm chủ để bôi lở ống chân [11].

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, thầy thuốc người Hoa ở Hồng Kông, Singapore cũng dùng chu sa, calomel chữa bệnh hoa liễu y như Tây y, có điều Tây y lại gọi họ là lang băm [6]. Tây y cho uống calomel thì là thuốc, người Hoa cho uống calomel thì là lang băm?!

Tới năm 1937, ở Nhà Lục Xì Hà Nội, nơi khám và giữ lại chữa những cô gái có giấy bị bệnh hoa liễu, Vũ Trọng Phụng thấy các cô “xếp hàng nhau chờ mũi tiêm 914 trong phòng chữa bệnh của ông y sĩ” [12]. 914 là Neosalvarsan, thuốc asen. Cả cuốn phóng sự không có chỗ nào chữa bệnh bằng thủy ngân, chữ thủy ngân xuất hiện đúng 1 lần, lúc cô khán hộ bấm điện, “một làn ánh sáng thủy ngân chiếu sáng lòa” ở cái mỏ vịt dùng để khám [12].

V - CÓ THUỐC MỚI RỒI VẪN XOA THỦY NGÂN

Thuốc 914 là bản sau, ít độc hơn của Salvarsan. Năm 1909, nhà khoa học Đức Paul Ehrlich và nhà khoa học Nhật Sahachiro Hata thử tới hợp chất asen thứ 606 thì tiêm vào thỏ bị giang mai, triệu chứng biến mất. Năm 1910 Ehrlich công bố, gọi thuốc là “viên đạn thần”, tự tìm tới đúng đích [10].

Báo chí thổi lên là 1 mũi khỏi luôn [5]. Rồi bệnh nhân tái phát, tới năm 1914 y văn đã ghi 109 ca chết vì Salvarsan [10], vậy là bác sĩ lại gọi thủy ngân quay về. Năm 1917 cách chữa phổ biến nhất là dùng cả 2, thuốc mới cũ cùng xoa cùng tiêm. Salvarsan đắt, lại có bằng sáng chế, người nghèo thì chỉ có thủy ngân [5].

Năm 1943, John Mahoney ở Cục Y Tế Công Cộng Mỹ chữa giang mai bằng penicillin. Chỉ trong 1 năm đã có hơn 10.000 bệnh nhân giang mai giai đoạn đầu được chữa, khỏi 90 đến 97% [10]. Lác đác tới thập niên 1950 vẫn còn người dùng thủy ngân [3].

Trước đó hơn chục năm, năm 1930, 1931, ở hạt Macon bang Alabama, Quỹ Rosenwald và Cục Y Tế Công Cộng Mỹ làm 1 đợt chữa giang mai cho nông dân da đen. Kế hoạch là mỗi người 20 mũi tiêm và 192 lần xoa thủy ngân, thực tế trung bình mỗi người được 5 mũi tiêm nhưng tới 106 lần xoa [4].

Bệnh nhân mang về 1 tờ hướng dẫn: sáng ngủ dậy xoa thuốc mỡ lên bụng, đeo đai cao su vào, đeo cả ngày, tối đi ngủ mới tháo ra. 1 bác sĩ báo cáo về là nhiều người coi cái đai ấy như 1 thứ bùa [4].

1 ông nông dân ở đó tên là Will McQueen nói: “thì tôi tự làm cho mình chảy dãi, thế là khỏe re” [4].

Nguồn:

[1] - The Royal Art of Poison - Eleanor Herman, St. Martin’s Press, 2018, chương 4. [2] - Deadly Companions: How Microbes Shaped Our History - Dorothy H. Crawford, Oxford University Press, 2007, chương 5. [3] - Two minutes with venus, two years with mercury: mercury as an antisyphilitic chemotherapeutic agent - J.G. O’Shea, Journal of the Royal Society of Medicine, tập 83, 1990. [4] - Examining Tuskegee: The Infamous Syphilis Study and Its Legacy - Susan M. Reverby, University of North Carolina Press, 2009, phần mở đầu, chương 1, chương 2. [5] - The Third Great Plague - John H. Stokes, 1917, chương VII, chương VIII. [6] - Prostitution, Race and Politics: Policing Venereal Disease in the British Empire - Philippa Levine, Routledge, 2003, chương 3. [7] - Bài nghiên cứu về Ulrich von Hutten - Medical History, tập 69, số 1, 2025. [8] - Sexually Transmitted Diseases - King K. Holmes và cộng sự (biên tập), bản 4, McGraw-Hill, 2008, chương 36, chương 37. [9] - Itch, Clap, Pox: Venereal Disease in the Eighteenth-Century Imagination - Noelle Gallagher, Yale University Press, 2018, phần mở đầu. [10] - No Magic Bullet: A Social History of Venereal Disease in the United States since 1880 - Allan M. Brandt, Oxford University Press, 1987, chương I, chương V. [11] - Tuệ Tĩnh toàn tập (gồm Nam dược thần hiệu, Hồng nghĩa giác tư y thư) - Viện Nghiên cứu Đông y dịch, Nhà xuất bản Y học, 2007, quyển I mục Trúng độc, quyển X mục Lở dương mai. [12] - Lục xì - Vũ Trọng Phụng, 1937, chương VII, chương VIII.