Năm 1945, Liên Xô thắng phát xít Đức. Figes viết rằng sau chiến thắng các tướng lĩnh được dân chúng hết sức yêu mến, còn nguyên soái Zhukov thì thành nơi người ta gửi gắm hy vọng đổi mới [1]. Thế rồi những cuộn băng ghi âm cảnh các tướng lĩnh ngồi ở nhà nghỉ của Zhukov, nâng cốc tôn ông là người chiến thắng nước Đức, được đưa đến tay Stalin. Ngày 1 tháng 6 năm 1946, Hội đồng Quân sự họp để xét Zhukov, phần đông các tướng không tin những lời tố cáo ông, còn các ủy viên Bộ Chính trị thì lần lượt đứng lên buộc tội ông [2]. Zhukov bị đưa về chỉ huy quân khu Odessa, đến tháng 2 năm 1947 thì bị loại khỏi Trung ương [3]. Theo Figes, ông bị quy là kẻ muốn làm Napoleon, về sau còn bị điều đi tận Ural, còn nhiều tướng lĩnh khác thì bị bắn hoặc bị tù từ 1946 đến 1948 [4].

Tháng 6 năm 1957, Kaganovich, 1 trong những người thân cận nhất của Stalin suốt mấy chục năm, vừa cùng Molotov, Malenkov và mấy người nữa tìm cách hạ Khrushchev mà thua, thì gọi điện cho Khrushchev. Theo lời Khrushchev kể với con trai, Kaganovich nói “Đồng chí Khrushchev! Tôi biết anh đã nhiều năm. Tôi xin anh đừng để họ đối xử với tôi như người ta từng bị đối xử dưới thời Stalin”. Khrushchev đáp sẽ cho ông việc làm, ông cứ yên tâm mà sống, mà làm việc [5].

Bạn nào đọc phần 1 chắc còn nhớ, từ 1918 đến 1940, người thua trong Đảng lúc đầu bị đuổi, rồi bị bắn, rồi đến lượt cả người đi bắt cũng bị bắn. Chiến tranh xong thì đến lượt cả người thắng trận. Phải đợi Stalin chết, người thua mới dần dần không còn bị bắn nữa, vậy mà đến tháng 8 năm 1991, cả cái Đảng ấy tan rã chỉ trong mấy ngày. Thời bắn nhau thì Đảng còn đứng vững, đến lúc thôi bắn thì lại tan, nghe thật ngược đời.

I - LÍNH BỊ BẮT CŨNG LÀ KẺ CÓ TỘI

Ngày 16 tháng 8 năm 1941, Stalin ra Lệnh số 270, rằng không người lính nào được đầu hàng, ai đầu hàng hay đào ngũ thì gia đình bị cắt trợ cấp nhà nước [6]. Theo Figes, lệnh ấy coi tất cả những người đầu hàng hay bị bắt là kẻ phản bội tổ quốc, đến vợ của sĩ quan bị bắt làm tù binh cũng có thể bị bắt theo [7].

Con trai cả của Stalin là trung úy Yakov, bị quân Đức bắt tháng 7 năm 1941 [8]. Biết Yakov là con Stalin, người Đức đề nghị đổi ông lấy 1 viên tướng Đức, Stalin gạt đi, cho là đổi như thế không cân xứng. Paul Gregory viết rằng khốn cho Yakov và cho hàng triệu lính Nga bị bắt khác, Stalin tin rằng tất cả lính bị bắt đều là kẻ phản bội [9].

Cuối năm 1943, ở trại tập trung Sachsenhausen, Yakov không nghe lệnh lính gác, chạy đến bám vào cổng dây thép gai, hét bảo lính gác cứ bắn đi. Lính gác bắn vào đầu ông [10].

Con mình còn không đổi, thì hàng triệu người lính khác trông vào đâu?

II - CẢ DÂN TỘC BỊ ĐÀY

Tháng 9 năm 1941, người Đức vùng Volga bị dồn lên xe tải, rồi lên toa chở gia súc [11]. Applebaum giải thích cái lý của sắc lệnh: vì không người Đức nào ở Volga báo cho chính quyền biết có gián điệp, nên cả dân tộc mắc tội che giấu gián điệp [12].

Ngày 23 tháng 2 năm 1944 thì đến lượt người Chechnya và người Ingush. Mấy hôm trước đó, Beria báo cáo Stalin rằng đã đăng ký xong 459.486 người cần đưa đi, còn binh lính thì được giải thích là đang tập trận trong điều kiện vùng núi [13]. Lính áp giải dí súng bắt dân lên xe tải Studebaker của Mỹ viện trợ, rồi trong 6 ngày, 387.229 người Chechnya và 91.250 người Ingush bị đưa lên 180 chuyến tàu đi Kazakhstan và Kirghizia [14]. Những người già yếu, tàn tật không đi được thì bị giết ngay trong làng, nhiều khi rất tàn bạo [15]. Applebaum ước tính có tới 78.000 người Chechnya có thể đã chết ngay trên các chuyến tàu [16].

Tháng 5 năm 1944 là người Tatar ở Krym, mỗi gia đình chỉ được 15 đến 20 phút để thu dọn đồ đạc [17]. Ngày 20 tháng 5, Beria đánh điện cho Stalin, liệt kê số súng thu được rồi báo rằng chiến dịch diễn ra không có sự cố nào [18]. Vậy mà theo số chính thức, chỉ trong khoảng 1 năm rưỡi đầu đã có 26.775 người Tatar Krym chết, tức 14% [19].

Xin thưa, trong số những người bị đày có cả những người đang đánh Đức ngoài mặt trận. Pohl ghi rằng khoảng 20.000 người Tatar Krym đã chiến đấu trong Hồng quân, 8 người được phong Anh hùng Liên Xô [20]. Tức là ngoài mặt trận đang đánh giặc cho Liên Xô, về nhà thì thành kẻ bị Liên Xô đày.

III - TÙ BINH TRỞ VỀ

Chiến tranh xong, những người lính bị bắt làm tù binh trở về nhà. Mùa xuân năm 1945, hơn 5,5 triệu công dân Liên Xô đang ở ngoài lãnh thổ [21]. Người trở về phải qua trại lọc, mà Sakwa ghi rằng riêng năm 1946, trong 228.000 người qua trại lọc có 199.000 người bị đưa vào trại tù hoặc các tiểu đoàn lao động [22]. Thành ra cứ 10 người về thì gần 9 người lại đi.

Orlando Figes có ghi lại chuyện Lev Netto. Năm 1943 anh mới 18 tuổi, được đưa vào 1 đơn vị du kích đánh sau lưng quân Đức ở Estonia, năm 1944 thì bị bắt, bị giam ở Latvia rồi ở Đức. Tháng 4 năm 1945, anh trốn khỏi đoàn tù đang bị lùa đi và được quân Mỹ giải phóng. Người Mỹ khuyên anh đừng về, anh vẫn về, bởi anh muốn đi học đại học. Đến biên giới thì anh bị đưa vào trại lọc. Tháng 4 năm 1948, anh bị bắt, bị buộc tội làm gián điệp cho Mỹ, bị tra tấn mấy tuần, rồi bị dọa bắt cả bố mẹ. Anh ký nhận hết, lĩnh 25 năm khổ sai ở Norilsk [23].

IV - VỤ LENINGRAD

Năm 1949 thì đến vụ Leningrad, mà lần này người bị nhắm tới là chính những người đã giữ thành. Leningrad từng bị quân Đức vây gần 900 ngày mà không chịu hàng, người tổ chức giữ thành là bộ máy Đảng của thành phố [24]. Sau chiến tranh, nhờ Zhdanov đỡ đầu, nhiều cán bộ Leningrad lên giữ chức lớn ở Moskva, trong đó có 2 người được nhiều người coi là có thể kế vị Stalin, là Voznesensky (Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước) với Kuznetsov (bí thư Trung ương). Kuznetsov lại nổi tiếng là người hùng của cuộc vây hãm, mà theo Figes thì chuyện này làm Stalin khó chịu mãi [25].

Tháng 1 năm 1949, Leningrad tổ chức 1 hội chợ bán buôn toàn Nga mà không xin phép chính phủ Liên Xô, tức là 1 kiểu “vượt rào”. Tối ngày 12 tháng 2, những người tổ chức bị gọi lên gặp Stalin. Voznesensky, để khỏi bị coi là cùng phe, khai ra rằng bí thư Leningrad là Popkov từng đề nghị ông làm “người đỡ đầu” cho thành phố. Stalin nổi giận. Nghị quyết ngày 15 tháng 2 cách chức Kuznetsov, Popkov và Rodionov [26].

Voznesensky thì vướng vào chuyện số liệu. Tháng 3 năm 1949, ông bị buộc tội để Ủy ban Kế hoạch xào nấu số liệu, mất chức, bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị [27]. Ngày 17 tháng 8, ông viết thư cho Stalin, xin được giao việc gì cũng được, nói rằng ông đã thấm thía bài học [28]. 2 tháng sau, ông bị bắt.

Ngày 14 tháng 1 năm 1950, Bộ trưởng An ninh Abakumov báo cáo Stalin rằng trong năm 1949, riêng thành phố và tỉnh Leningrad đã bắt 1.145 người. Cùng ngày, ông đề nghị đuổi thêm 1.500 người cùng cả gia đình đi Kazakhstan, Krasnoyarsk và Novosibirsk, bởi không đủ chứng cứ để bắt, trong số ấy có 1.100 người bị coi là có dính líu với người Đức và người Phần Lan trong thời chiến [29]. Nói cách khác, không đủ chứng cứ để bắt thì đày.

Tháng 9 năm 1950, Voznesensky, Kuznetsov, Popkov cùng 3 người khác bị xử kín ở Leningrad, đến ngày 1 tháng 10 thì cả 6 người bị bắn. Từ 1949 đến 1951 còn 214 người khác bị kết án, trong đó 145 người là người thân của các bị cáo [30]. Bảo tàng phòng thủ Leningrad bị đóng cửa, kho hồi ký của người dân thời bị vây bị hủy [31].

V - ỦY BAN CHỐNG PHÁT XÍT DO THÁI

Năm 1942, Ủy ban chống phát xít Do Thái ra đời để kéo dư luận thế giới về phía Liên Xô trong cuộc chiến, các thành viên đi khắp nước Mỹ làm “đối ngoại nhân dân”. Shearer và Khaustov viết rằng chính những mối quan hệ thời chiến ấy về sau thành cớ để nghi ngờ họ [32].

Người đứng đầu ủy ban là Solomon Mikhoels, giám đốc Nhà hát Do Thái quốc gia ở Moskva, năm 1946 vừa được giải thưởng Stalin [33]. Đầu năm 1948, ông bị cơ quan an ninh giết, rồi dàn cảnh như 1 vụ tai nạn xe [34]. Ngày 21 tháng 11 năm 1948, 1 quyết định của chính phủ lệnh giải tán ủy ban ngay, đóng các tờ báo, tịch thu hồ sơ, cuối văn bản có 1 dòng “Chưa bắt ai vội”, người ký là Stalin và Molotov [35]. Nghĩa là bắt thì vẫn bắt, chỉ là chưa đến lúc.

Đến vợ của chính Molotov là bà Zhemchuzhina, người Do Thái, cũng bị kéo vào. Stalin đến tận Trung ương bảo Molotov phải ly dị vợ, cuối năm 1948 thì 2 người ly dị. Molotov kể rằng khi Stalin đọc tài liệu về bà trước Bộ Chính trị, đầu gối ông run lên. Lúc biểu quyết khai trừ vợ, ông bỏ phiếu trắng, 3 tuần sau thì viết thư cho Stalin nhận rằng bỏ phiếu trắng là sai lầm chính trị. Hôm sau, bà bị bắt [36].

Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1952, các thành viên Ủy ban chống phát xít Do Thái bị xử kín. Ngày 12 tháng 8 năm 1952, tất cả đều bị bắn, trừ 1 người [37].

VI - NGƯỜI ĐI BẮT VÀ NGƯỜI CỦA BERIA

Abakumov, người đã làm ra vụ Leningrad, cũng không thoát. Ngày 2 tháng 7 năm 1951, Ryumin, 1 điều tra viên cấp dưới, viết thư tố ông lên Trung ương, đến ngày 11 tháng 7 thì Abakumov mất chức [38]. Rồi Abakumov bị bắt [39].

Ngày 26 tháng 9 năm 1951, trong 1 bữa ăn tối ở Gruzia, Stalin bóng gió với trưởng ngành an ninh Gruzia rằng người Mingrelia đang được Beria che chở. Sang tháng 11, Bộ Chính trị ra nghị quyết về “nhóm chống Đảng của đồng chí Baramiia”, rồi 11.200 người bị đày sang Kazakhstan, 37 lãnh đạo của nước cộng hòa bị bắt [40].

VII - VỤ BÁC SĨ

Năm cuối đời Stalin là vụ bác sĩ, mà mầm của nó có từ 4 năm trước. Ngày 29 tháng 8 năm 1948, bác sĩ Lydia Timashuk viết thư nói rằng các bác sĩ đầu ngành đã đọc sai điện tâm đồ của Zhdanov, bức thư bị cất xó [41]. 2 ngày sau, Zhdanov chết [42]. 4 năm sau, bức thư ấy mới được lôi ra. Từ tháng 10 đến tháng 11 năm 1952, hơn 25 bác sĩ bị bắt, trong đó có giáo sư Vinogradov, bác sĩ riêng của Stalin [43]. Khrushchev kể lại rằng Stalin gọi điện cho Bộ trưởng An ninh Ignatiev, gào lên đòi phải đánh các bác sĩ không thương tiếc, đánh cho thật đau rồi xích lại [44].

Ngày 13 tháng 1 năm 1953, báo Pravda đăng bản tin do chính Stalin đọc cho viết, về “bọn bác sĩ giết người”, những “con quái vật đội lốt người”, Stalin còn tự tay thêm cụm “kẻ thù của nhân dân” vào bài xã luận [45]. Lại có tin đồn Stalin định đày cả người Do Thái đi. Nhưng Gorlizki, Khlevniuk, Shearer và Khaustov đều ghi rằng đến nay chưa tìm thấy văn bản nào trong kho lưu trữ chứng minh kế hoạch ấy [46], [47].

Ngày 5 tháng 3 năm 1953, Stalin chết [48]. Ngày 3 tháng 4, Mikhoels được phục hồi danh dự, ngày 4 tháng 4 thì vụ bác sĩ bị hủy, các bác sĩ được thả [49]. Ryumin, người bày ra vụ ấy, bị xử bắn [50].

VIII - NHỮNG PHÁT SÚNG CUỐI CÙNG NỔ VÀO NGÀNH AN NINH

Ngày 26 tháng 6 năm 1953, Beria bị bắt, mà 1 trong những người giúp bắt ông lại chính là Zhukov. Ngày 23 tháng 12 năm 1953, Beria bị bắn [51]. Cùng bị bắn với ông có 6 người đứng đầu ngành an ninh, Peter Kenez viết rằng Beria là nạn nhân cuối cùng của 1 cuộc thanh trừng theo kiểu Stalin [52]. Abakumov thì còn ngồi tù thêm 1 năm, đến tháng 12 năm 1954 mới bị bắn, với tội trong đó có việc đã ngụy tạo vụ thanh trừng Leningrad [53]. Alec Nove ghi rằng sau mấy vụ ấy thì các vụ xử bắn vì lý do chính trị gần như không còn nữa [54].

Cũng năm 1954, những người lãnh đạo mới, vốn sợ ngành an ninh, giải tán phần lớn bộ máy cũ mà lập ra KGB đặt dưới Hội đồng Bộ trưởng. Điều lệ năm 1954 của KGB thì giữ gần như nguyên vẹn cho đến năm 1991 [55]. Năm ấy, theo con số Bộ Nội vụ tự đếm lại, từ năm 1921 đã có 3.777.380 người bị kết tội phản cách mạng, trong đó 642.980 người bị xử bắn [56]. Việc minh oan thì rất chậm. Figes ghi rằng đến cuối tháng 4 năm 1955, Viện Kiểm sát đã xét 237.412 đơn của tù chính trị mà chỉ 4% được thả [57].

Ngày 25 tháng 2 năm 1956, Khrushchev đọc bài diễn văn bí mật trước Đại hội 20, nói rằng trong 139 ủy viên chính thức và dự khuyết Trung ương được bầu ở Đại hội 17 thì 98 người, tức 70%, bị bắt và bị bắn [58]. Aleksandr Yakovlev, người có mặt hôm ấy, kể rằng hội trường im phăng phắc, không 1 tiếng ghế kêu, không 1 tiếng ho, không ai nhìn ai, rồi mọi người cúi đầu đi ra [59].

Trong 10 tháng sau bài diễn văn, 617.000 người được phục hồi danh dự [60]. Aleksandr Fadeev (chủ tịch Hội Nhà văn, 1 người trung thành với Stalin) uống rượu liền mấy ngày rồi tự sát [61].

IX - LẦN ĐẦU NGƯỜI THUA ĐƯỢC SỐNG

Tháng 6 năm 1957, Molotov, Malenkov, Kaganovich cùng mấy người khác chiếm đa số trong Đoàn Chủ tịch, đòi hạ Khrushchev, Khrushchev không chịu mà đòi đưa ra Trung ương. Chủ tịch KGB Serov gọi điện cho các ủy viên Trung ương, người ở xa được chở về Moskva bằng máy bay ném bom phản lực, có nguyên soái Zhukov giúp lo việc ấy [62]. Hội nghị Trung ương họp từ ngày 22 đến 29 tháng 6 và đứng về phía Khrushchev [63], [64].

Malenkov (nguyên Bộ trưởng Điện lực) được cử làm giám đốc nhà máy điện Ust-Kamenogorsk trên sông Irtysh. Kaganovich làm giám đốc 1 tổ hợp kali ở Solikamsk, vùng Ural. Riêng Molotov được cử đi làm đại sứ thì mấy nước lần lượt từ chối, Khrushchev phải thuyết phục mãi, nhà lãnh đạo Mông Cổ Tsedenbal mới nhận, coi như 1 ân huệ riêng, thế là Molotov sang Ulan Bator [65]. 1 cuộc “luân chuyển cán bộ” đúng nghĩa.

Alec Nove viết rằng từ đây người ta có thể cùng nhau bỏ phiếu hạ Bí thư thứ nhất mà không phải chết, không phải ngồi tù, dù dĩ nhiên sự nghiệp chính trị thì kết thúc [66]. Nói chung, thua thì giờ chỉ mất cái ghế chứ không mất cái đầu.

Lại nói, Zhukov tháng 6 năm 1957 giúp cứu Khrushchev, vậy mà tháng 10 năm ấy, trong lúc đang đi thăm Nam Tư và Albania, ông bị cách chức Bộ trưởng Quốc phòng, còn các nguyên soái khác thì đã thì thầm với nhau về “chủ nghĩa Bonaparte” của ông. Con trai Khrushchev kể có lần nghe bố nói qua điện thoại với Zhukov, giọng bực bội, rằng bạn bè mà lại cư xử như anh à [67].

X - KHRUSHCHEV VỀ HƯU

Tháng 10 năm 1964, Khrushchev bị chính những người ông cất nhắc, đứng đầu là Brezhnev, hạ xuống. Khi biết chuyện, ông nói với trợ lý Troyanovsky rằng sự nghiệp chính trị của ông thế là hết, tiếc là nó xảy ra theo cách này, mà chẳng làm gì được [68]. Alec Nove ghi rằng cuộc chuyển giao ấy diễn ra êm thấm, không ai bị bắt, Khrushchev thành 1 công dân thường, thỉnh thoảng người ta vẫn thấy ông ở Moskva [69].

Có khách đến nhà định kéo ông vào chuyện thời sự thì ông gạt đi, bảo giờ ông là người về hưu, việc của ông xong rồi, muốn bàn chuyện hôm nay thì đi mà nói với những người đang quyết định [70]. Ông ngồi đọc hồi ký vào máy ghi âm. Năm 1971 ông mất, Nove viết rằng chính quyền không biết xử trí ra sao, bởi trước đó chưa có Bí thư thứ nhất nào về hưu rồi mới mất. Họ chỉ cho đưa 1 bản tin 4 dòng, không bình luận gì, đám tang thì không có điếu văn, cũng không có 1 người kế nhiệm nào đến dự [71].

XI - THỜI BREZHNEV, AI NGỒI ĐÂU YÊN ĐẤY

Graeme Gill viết rằng thời Brezhnev, lãnh đạo các địa phương được để yên, người làm kém cũng hiếm khi bị cách chức, chỗ trống thì lấy người trong chính bộ máy ấy lên thay, bởi thế những bộ máy kiểu gia đình ở địa phương càng vững chắc. Theo Gill, chính điều ấy góp phần lớn làm tham nhũng tăng lên [72]. Khi Brezhnev mất, tuổi trung bình của Bộ Chính trị là 71 [73]. Ai cũng ngồi đến già.

Kenez viết rằng thời ấy tham nhũng lan đến mức khó tin. Tướng Churbanov (con rể Brezhnev) làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Nội vụ. Ở Trung Á có những bí thư Đảng thành triệu phú, cất tiền bằng đô la, 1 ông ở Uzbekistan còn có cả 1 hậu cung và 1 phòng tra tấn [74].

Trong khi đó, thanh trừng trong Đảng thì gần như không còn, người bị bắt giờ là những người bất đồng chính kiến. Người ta còn đặt ra bệnh “tâm thần phân liệt thể chậm” cho những người chống đối, Applebaum dẫn 1 cuộc khảo sát cho biết ít nhất 365 người hoàn toàn khỏe mạnh đã bị đem đi chữa 1 thứ bệnh điên do chính trị định ra [75]. Còn việc phục hồi danh dự cho nạn nhân thời Stalin thì gần như dừng hẳn, từ năm 1964 đến năm 1987 chỉ có 24 người được minh oan [76].

XII - THAY NGƯỜI MÀ KHÔNG BẮN AI

Andropov lên thay Brezhnev cuối năm 1982 và mở chiến dịch chống tham nhũng, trong hơn 1 năm cách chức khoảng 20% bộ trưởng và bí thư các tỉnh [77].

Đến Gorbachev thì cuộc thay người còn lớn hơn. Ngay năm đầu, ông thay 24 trong 72 bí thư thứ nhất các tỉnh của Nga, 23 trong 78 bí thư ở các nước cộng hòa khác, 39 trong 101 bộ trưởng, ở các đảng bộ địa phương thì cứ 5 cán bộ có 1 người mất ghế. Jeremy Smith viết rằng quy mô thay người như vậy chỉ có thể đem so với những năm Đại thanh trừng của Stalin [78].

Có điều lần này không ai bị bắn. Ngày 25 tháng 4 năm 1989, sau khi bị vận động ráo riết sau hậu trường, 110 ủy viên Trung ương và Ban Kiểm tra cùng làm đơn xin nghỉ hưu, đơn được chấp thuận, các diễn giả đứng lên khen công lao của họ [79]. 1 cuộc “hạ cánh an toàn” tập thể.

Đấy là chuyện ở Trung ương. Còn đảng viên bên dưới nghĩ gì thì phải đợi đến tháng 8 năm 1991 mới biết.

XIII - THÁNG 8 NĂM 1991

Tháng 8 năm 1991, chính những người nắm KGB, Bộ Nội vụ và quân đội làm đảo chính. Ngày 19 tháng 8, 1 Ủy ban Tình trạng Khẩn cấp gồm 8 người, trong đó có Phó Tổng thống Yanaev, Chủ tịch KGB Kryuchkov, Bộ trưởng Nội vụ Pugo, Bộ trưởng Quốc phòng Yazov, tuyên bố Gorbachev ốm không làm việc được [80]. Theo nhà báo David Remnick, tay họ run, họ uống say mềm, đến lúc phải bóp cò thì không nỡ [81]. 3 người biểu tình chết trong các vụ xô xát ở Moskva, còn lính được phái đến trụ sở Quốc hội Nga thì không chịu nổ súng [82]. Cuộc đảo chính thất bại, Pugo và nguyên soái Akhromeev tự sát [83].

Ngày 23 tháng 8, Yeltsin đình chỉ hoạt động của Đảng Cộng sản Nga, 2 hôm sau quốc hữu hóa tài sản của Đảng, ngày 6 tháng 11 năm 1991, 1 sắc lệnh của Yeltsin cấm Đảng Cộng sản Liên Xô [84].

Tháng 1 năm 1987, Đảng có 19.267.715 đảng viên [85], riêng trong 18 tháng tính từ đầu năm 1990 đã có 4,2 triệu người ra khỏi Đảng [86]. Paul Hollander dẫn lời nhà nghiên cứu Sergei Grigoriev rằng khi Đảng bị cấm, hầu như không ai đứng ra bảo vệ nó, ở Moskva cũng như mọi nơi khác không có 1 cuộc mít tinh nào ủng hộ Đảng, dù lúc ấy Đảng vẫn còn gần 16 triệu đảng viên, có chi bộ khắp nơi, có tổ chức mạnh trong quân đội, KGB và Bộ Nội vụ [87]. Nghĩa là gần 16 triệu người mà không đủ cho 1 cuộc mít tinh.


Mình biết 1 cái Đảng tan rã thì có muôn vàn duyên cớ, tư liệu cũng còn chỗ chưa tỏ. Vậy mà đọc lại từ những cuộn băng ghi âm ở nhà nghỉ của Zhukov đến cuộc điện thoại của Kaganovich rồi đến tháng 8 năm 1991, mình vẫn không khỏi ngậm ngùi cho 1 cơ đồ từng bắn cả tướng thắng trận, về sau thì người thua được sống, kẻ thắng ngồi lâu, đảng viên bỏ đi, đến lúc lâm nguy chẳng còn ai đứng ra giữ.

Theo mình, thời Stalin người ta ở lại với Đảng phần nhiều vì sợ. Đến khi thua không còn mất mạng, ngồi yên thì có ghế, bỏ đi cũng chẳng ai bắt, thì cái sợ ấy hết, mà ngoài cái sợ ra thì té ra chẳng còn mấy thứ giữ được người ta.

Kryuchkov, Chủ tịch KGB cầm đầu cuộc đảo chính, về sau viết hồi ký. Ông nói với Remnick rằng Stalin nhận nước Nga khi chỉ có cái cày, để lại khi đã có bom nguyên tử, rồi bảo cứ tin ông đi, 20 hay 30 năm nữa người ta sẽ coi Stalin là 1 thiên tài [88].

Nguồn:

[1], [4], [23], [25], [31], [33], [42] - The Whisperers: Private Life in Stalin’s Russia - Orlando Figes, Penguin 2007, chương 7 Ordinary Stalinists (1945-53). [2], [3] - Cold Peace: Stalin and the Soviet Ruling Circle, 1945-1953 - Yoram Gorlizki và Oleg Khlevniuk, Oxford University Press 2004, chương 1 A Return to Order và chương 2 State Building Stalin-Style. [5], [62], [63], [65], [67] - Nikita Khrushchev and the Creation of a Superpower - Sergei Khrushchev, chương 3 Testing. [6] - The Stalin Era - Philip Boobbyer, Routledge 2000, chương 8 The Second World War. [7], [8] - The Whisperers - Orlando Figes, chương 6 Wait For Me (1941-45). [9], [10] - Lenin’s Brain and Other Tales from the Secret Soviet Archives - Paul R. Gregory, Hoover 2008, chương 6 A Tale of Two Sons: Yakov and Vasilii Dzhugashvili. [11] - Ethnic Cleansing in the USSR, 1937-1949 - J. Otto Pohl, chương 3 Germans. [12], [16], [17], [21] - Gulag: A History - Anne Applebaum, chương 20 Strangers. [13], [15] - Stalin and the Lubianka: A Documentary History of the Political Police and Security Organs in the Soviet Union, 1922-1953 - David R. Shearer và Vladimir Khaustov, chương 7 The Security Organs at War, 1939-1944. [14] - Ethnic Cleansing in the USSR - J. Otto Pohl, chương 6 Chechens and Ingush. [18], [39] - Terror by Quota: State Security from Lenin to Stalin - Paul R. Gregory, Yale 2009, chương 1 Stalin’s Praetorians. [19], [20] - Ethnic Cleansing in the USSR - J. Otto Pohl, chương 10 Crimean Tatars. [22] - The Rise and Fall of the Soviet Union 1917-1991 - Richard Sakwa, Routledge 1999, chương 7 The Cold Peace, 1945-1953. [24], [29], [32], [34], [35], [41], [47], [53], [55] - Stalin and the Lubianka - David R. Shearer và Vladimir Khaustov, chương 8 Border Wars, Plots, and Spy Mania, 1945-1953. [26], [27], [28], [30], [36] - Cold Peace - Yoram Gorlizki và Oleg Khlevniuk, chương 3 The Politburo’s Last Purge. [37], [43], [44], [45], [46], [48] - Cold Peace - Yoram Gorlizki và Oleg Khlevniuk, chương 6 Stalin’s Last Struggle. [38], [40] - Cold Peace - Yoram Gorlizki và Oleg Khlevniuk, chương 4 Peaceful Coexistence: Collective Leadership and Stalinist Control. [49], [57] - The Whisperers - Orlando Figes, chương 8 Return (1953-6). [50] - Nikita Khrushchev and the Creation of a Superpower - Sergei Khrushchev, chương 1 Start. [51] - The Rise and Fall of the Soviet Union - Richard Sakwa, chương 8 Khrushchev and Reform, 1953-1964. [52] - A History of the Soviet Union from the Beginning to the End - Peter Kenez, chương 8 The age of Khrushchev. [54], [66] - Stalinism and After: The Road to Gorbachev - Alec Nove, chương 5 Stalin’s Heirs and Stalin’s Legacy. [56], [60], [61] - Gulag: A History - Anne Applebaum, chương 25 Thaw and Release. [58], [64] - The Rise and Fall of the Soviet Union 1917-1991 - Richard Sakwa, chương 8 Khrushchev and Reform, 1953-1964. [59] - The Whisperers - Orlando Figes, chương 9 Memory (1956-2006). [68] - Nikita Khrushchev and the Creation of a Superpower - Sergei Khrushchev, chương 7 Departure. [69], [71] - Stalinism and After - Alec Nove, chương 6 The Fall of Khrushchev and the Rise of Brezhnev. [70] - Nikita Khrushchev and the Creation of a Superpower - Sergei Khrushchev, phần Kết Stagnation. [72] - The Collapse of a Single-Party System: The Disintegration of the Communist Party of the Soviet Union - Graeme Gill, Cambridge 1994, chương 1 An administrative party system. [73] - A History of the Soviet Union - Peter Kenez, chương 10 Failed reforms. [74] - A History of the Soviet Union - Peter Kenez, chương 9 Real, existing socialism. [75] - Gulag: A History - Anne Applebaum, chương 26 The Era of the Dissidents. [76] - Gulag: A History - Anne Applebaum, chương 27 The 1980s: Smashing Statues. [77] - The Fall of Soviet Communism - Jeremy Smith, chương 5 Early Attempts at Reform. [78] - The Fall of Soviet Communism - Jeremy Smith, chương 7 Personnel and Policies. [79] - The Collapse of a Single-Party System - Graeme Gill, chương 5 Reform out of control. [80] - The Rise and Fall of the Soviet Union - Richard Sakwa, chương 10 Crisis and Fall of the Soviet System, 1985-1991. [81] - Political Will and Personal Belief: The Decline and Fall of Soviet Communism - Paul Hollander, Yale 1999, chương 1. [82] - The Fall of Soviet Communism - Jeremy Smith, chương 17 The August 1991 Coup. [83] - A History of the Soviet Union - Peter Kenez, chương 11 Leap into the unknown. [84] - The Collapse of a Single-Party System - Graeme Gill, chương 8 The end. [85] - Stalinism and After - Alec Nove, phụ lục 3 Membership of the Party. [86] - The Collapse of a Single-Party System - Graeme Gill, chương 7 The party imploding. [87] - Political Will and Personal Belief - Paul Hollander, chương 7 Conclusions. [88] - Political Will and Personal Belief - Paul Hollander, chương 6 Leading Specialists in State Security.