4 giờ 30 sáng ngày 13 tháng 3 năm 1938, tòa án ở Moskva đọc bản án cho Bukharin, Rykov, Yagoda và các bị cáo khác. Luật cho người bị án tử 72 giờ để xin ân giảm nhưng quyền ấy bị bỏ qua, tòa vừa giải tán là người ta đem bắn ngay. Đại úy an ninh Pyotr Maggo lần lượt bắn từng người, Bukharin và Yagoda bị để lại sau cùng, phải đứng xem các bạn đồng án chết trước mặt mình [1]. Yagoda vốn đứng đầu ngành công an Liên Xô suốt mấy năm, cũng chính ông là người sắp đặt phiên tòa đầu tiên xử Zinoviev và Kamenev hồi năm 1936 [2], vậy mà chỉ 2 năm sau, ông bị xử chung với chính những kẻ thù mà trước đó ông có nhiệm vụ vạch mặt [3].

Năm 1917, Chính phủ lâm thời Nga bỏ án tử hình [4], những người Bolshevik hồi ấy còn hứa sẽ bỏ hẳn án tử, mà chính lời hứa ấy đã giúp họ giành được đa số đầu tiên trong các Xô viết [5]. Thế rồi chỉ trong năm 1918, theo con số chính thức của Cheka, đã có 6.300 người bị xử bắn [6]. Để so sánh, sử gia Anna Geifman đếm rằng trong gần 100 năm, từ 1825 đến 1917, tòa án của các Sa hoàng ra tổng cộng 6.321 bản án tử hình vì lý do chính trị, mà cũng không phải bản án nào cũng thi hành [7].

Nghĩa là chỉ 1 năm của chính quyền mới đã ngang với gần 1 thế kỷ của chính quyền cũ. Mọi người hay hiểu thanh trừng là phe thắng xử phe thua. Đọc hồ sơ thì mới thấy những người bị cách mạng loại trước tiên lại là người từng cùng làm nên nó, sau họ là những người thua trong Đảng, rồi đến lượt cả những người đi bắt, như Yagoda.

I - CHEKA VÀ KHỦNG BỐ ĐỎ

Ủy ban Đặc biệt toàn Nga, tức Cheka, ra đời tháng 12 năm 1917, phần lớn do Lênin khởi xướng [8]. Tháng 6 năm 1918, người đứng đầu Cheka là Feliks Dzerzhinsky nói khủng bố là “tuyệt đối cần thiết”, dù đôi khi lưỡi gươm của nó có rơi trúng đầu người vô tội [9]. Tức là ông biết trước gươm sẽ có lúc rơi nhầm đầu mà vẫn cho là cần.

Ngày 30 tháng 8 năm 1918, Uritsky, người đứng đầu Cheka Petrograd, bị ám sát, cũng ngày ấy Lênin bị Fanya Kaplan bắn bị thương [10]. Tháng 9, lệnh Khủng bố Đỏ được ban ra, bắt tất cả các thủ lĩnh có tiếng của phái Menshevik và phái hữu đảng Xã hội Cách mạng, bắt con tin trong giới tư sản đưa vào trại tập trung [11]. Báo Krasnaya Gazeta (Báo Đỏ) viết rằng hãy để chúng chết chìm trong máu của chính chúng [12]. Còn Latsis, 1 sĩ quan Cheka, thì dặn cấp dưới đừng đi tìm chứng cứ người bị bắt đã chống lại chính quyền, mà hỏi xem y thuộc giai cấp nào, đó là thực chất của Khủng bố Đỏ [13]. Nói nôm na, xét “lý lịch” là đủ.

Ngay tháng 9 năm 1918, 512 con tin, phần lớn là quan chức cao cấp thời cũ, bị bắn để trả đũa [14]. Trong 1 bức điện gửi Penza, Lênin ra lệnh treo cổ, cho dân thấy tận mắt, không dưới 100 địa chủ, nhà giàu, kẻ hút máu có tiếng, rồi công bố tên họ [15].

Số người chết trong mấy năm ấy thì mỗi cuốn sách đưa 1 con số. Paul Gregory tính từ tháng 12 năm 1917 đến tháng 2 năm 1922 có khoảng 280.000 người chết vì bạo lực nhà nước, trong đó khoảng 140.000 người bị xử bắn [16]. Tất nhiên, phía Bạch vệ (phe chống Bolshevik trong nội chiến) thời ấy cũng giết người hàng loạt, Kenez viết rằng khủng bố thời nội chiến đẫm máu ngang nhau ở cả 2 phía [17].

II - NHỮNG NGƯỜI CÙNG PHE CÁCH MẠNG

Trước năm 1917, trong giới cách mạng có 1 câu đùa rằng phải treo cổ xong tên đảng viên Xã hội Cách mạng cuối cùng thì mới đến lượt tên Menshevik đầu tiên [18]. Câu đùa ấy rồi thành chuyện thật. Phái tả đảng Xã hội Cách mạng từng là đồng minh của Lênin trong chính phủ, người của họ còn làm phó chủ tịch Cheka, vậy mà sau tháng 7 năm 1918, khoảng 450 người trong phái ấy bị bắt. Con gái 11 tuổi của Chernov, thủ lĩnh đảng Xã hội Cách mạng, bị nhốt mấy tuần trong 1 xà lim lạnh giá ở Lubyanka [19].

Lý do thì theo Geifman, Lênin từng nói với Fritz Platten rằng mấy người xã hội chủ nghĩa ấy nguy hiểm chính vì họ là những nhà cách mạng trung thực [20]. Tháng 4 năm 1921, ở trại Petrominsk, cả 540 tù nhân từ chối lao động bị đem ra bắn hết [21].

III - KRONSTADT

Thủy thủ hạm đội Baltic ở căn cứ Kronstadt, ngay cửa ngõ Petrograd, vốn là niềm tự hào của phái Bolshevik suốt năm 1917 và cả cuộc nội chiến [22], theo Figes thì Trotsky từng khen họ là niềm vui và niềm tự hào của cách mạng [23]. Cuối tháng 2 năm 1921, công nhân Petrograd đình công vì bị cắt khẩu phần bánh mì. Có tin đồn rằng cuộc đình công bị đàn áp đẫm máu, tin ấy không đúng nhưng thủy thủ Kronstadt vẫn nổi dậy [24].

Trong bản kêu gọi 18 điểm gửi công nhân đường sắt, họ đòi bầu cử bằng phiếu kín, tự do báo chí, tự do ngôn luận và hội họp, bỏ án tử hình, giải tán mật vụ, xóa đặc quyền của đảng viên cộng sản, bầu lại ngay tất cả các Xô viết, cuối bản kêu gọi có câu “Chúng tôi chỉ đòi ít tự do hơn những gì đã có năm 1917” [25].

Trong khi đó, tháng 3 năm 1921, Đại hội 10 của Đảng đang họp ở Moskva. Trotsky chỉ huy cuộc tấn công vượt qua mặt băng của vịnh Phần Lan [26], Tukhachevsky trực tiếp cầm quân [27]. Christopher Read viết rằng gần cuối đại hội, nhiều đại biểu rời phòng họp, xung phong ra Petrograd đi đánh Kronstadt [28], Sakwa ghi thêm rằng trong số ấy có cả những người thuộc phe đối lập trong Đảng [29].

Ngày 17 tháng 3, nhà hoạt động vô chính phủ Alexander Berkman ghi vào nhật ký rằng Kronstadt đã thất thủ, hàng nghìn thủy thủ và công nhân nằm chết trên đường phố [30]. Theo Berkman, những đêm sau đó Cheka đưa từng nhóm tù nhỏ ra bắn, người còn lại bị đưa đi các trại ở Arkhangelsk và các nhà tù ở Turkestan [31].

Đấy là chuyện ngoài mặt băng vịnh Phần Lan. Còn trong phòng họp Đại hội 10, những người ở lại đã thông qua 1 nghị quyết tên là “Về sự thống nhất của Đảng”, lấy chính Kronstadt làm ví dụ về việc bọn Bạch vệ đội lốt cộng sản. Nghị quyết giải tán các nhóm Đối lập Công nhân và nhóm Tập trung Dân chủ, ai lập phe thì bị khai trừ ngay, điểm 7 còn cho phép khai trừ cả ủy viên Trung ương nếu có 2/3 số phiếu trong hội nghị liên tịch [32].

Mà nghị quyết ấy rồi cũng được đem ra dùng với chính Trotsky. Từ tháng 1 năm 1924, Stalin dùng nó để bịt miệng những người phê phán [33]. Đến tháng 6 năm 1926, Stalin lại đề nghị lấy nghị quyết thống nhất của Lênin ra để gạt Zinoviev [34].

IV - CON TÀU TRIẾT GIA VÀ PHIÊN TÒA NĂM 1922

Ngày 8 tháng 6 năm 1922, 1 sắc lệnh cho phép đày người ra nước ngoài, nếu không cần đến hình phạt nặng hơn [35]. Cơ quan an ninh lập danh sách 186 trí thức, rồi gửi Stalin dự toán chi phí để trục xuất 217 người. Trong đó có 1 ghi chú lạ đời về nhà văn Zamyatin: không được cho ông ra nước ngoài trong bất cứ trường hợp nào, vì ra đó ông có thể thành 1 thủ lĩnh nguy hiểm, chỉ đày đi Novgorod hay Kursk thôi [36].

Sáng ngày 28 tháng 9 năm 1922, con tàu Đức Oberbuergermeister Hacken rời Petrograd, chở theo những trí thức hàng đầu nước Nga, trong đó có triết gia Nikolai Berdyaev [37]. Trước đó, Berdyaev bị Dzerzhinsky đích thân hỏi cung lúc nửa đêm, ông tả Dzerzhinsky là 1 người tận tụy và trung thực, 1 kẻ cuồng tín, có cái gì đó khiến người ta khiếp sợ [38]. Nhà kinh tế học Kondratiev có tên trong danh sách nhưng ở lại, về sau bị bắn. Paul Gregory viết rằng những người phải xuống tàu năm ấy hóa ra lại là những người may mắn [39].

Cũng năm 1922 là phiên tòa xử các thủ lĩnh đảng Xã hội Cách mạng. Ngày 17 tháng 7 năm ấy, Lênin viết cho Stalin rằng phải thanh lọc nước Nga cho thật lâu, làm trước khi xử xong vụ Xã hội Cách mạng [40]. Bộ Chính trị thì chỉ thị cho tòa án phải xử nghiêm hơn nữa [41]. Tức là nặng nhẹ thế nào đã có Bộ Chính trị “chỉ đạo” từ trước. Kenez coi phiên tòa ấy như màn diễn thử cho những gì sẽ xảy ra ở thập niên sau [42].

V - DI CHÚC CỦA LÊNIN

Lênin mất tháng 1 năm 1924. Trước đó 1 năm, ngày 4 tháng 1 năm 1923, ông đọc thêm 1 đoạn tái bút vào bức thư mà về sau được biết đến như di chúc của ông, rằng Stalin quá thô bạo, cái tật ấy không thể chấp nhận ở cương vị Tổng Bí thư, nên tìm người khác kiên nhẫn hơn, trung thành hơn, lịch sự hơn [43]. Theo Read, cô thư ký Volodicheva đưa bản ghi cho Stalin xem, Stalin bảo đốt đi, cô đốt, rồi lại đánh máy lại 1 bản [44].

Tháng 5 năm 1924, bức thư được đọc ở Đại hội 13, chỉ đọc trong các phiên kín, không ai được ghi chép [45]. Stalin xin từ chức. A. P. Smirnov, 1 người bạn tin cậy của ông, đứng lên nói rằng 1 đảng của giai cấp vô sản thì không sợ cái sự thô bạo, thế là chuyện qua đi. Smirnov về sau bị bắn vào tháng 2 năm 1938 [46].

Zinoviev và Kamenev lúc ấy đứng về phía Stalin để chống Trotsky, bởi họ tưởng bức thư của Lênin đã loại Stalin khỏi cuộc đua rồi [47]. Trotsky thì nói ở Đại hội 13 rằng xét cho cùng thì Đảng bao giờ cũng đúng [48].

Tháng 10 năm 1926, phe đối lập bị buộc phải tự nhận sai. Trong bản nhận sai ấy, Stalin sửa chữ “có hại” thành chữ “sai lầm”. Chỉ 1 tuần sau, Trotsky và Kamenev bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị [49].

Tháng 9 năm 1927, trong 1 phiên họp, Trotsky hỏi rằng các anh giấu di chúc của Lênin à. Stalin đáp rằng anh nói dối, di chúc của Lênin đánh đổ chính anh [50]. Bukharin, lúc ấy còn đứng về phía Stalin, nói về phe đối lập 1 câu mà người Việt mình nghe rất quen: kẻ cắp bao giờ cũng la làng [51].

Cuối năm 1927, Trotsky, Zinoviev, Kamenev bị khai trừ khỏi Đảng [52]. Trotsky bị đày đi Alma-Ata, ông không chịu đi nên bị khiêng xuống cầu thang đưa ra tàu [53]. Tháng 2 năm 1929, ông bị trục xuất hẳn khỏi Liên Xô. Zinoviev và Kamenev thì tự nhận sai và được tạm cho vào Đảng lại [54].

Rồi đến lượt Bukharin. Ngày 11 tháng 7 năm 1928, Bukharin gặp riêng Kamenev, nói rằng Stalin nhượng bộ chỉ để rồi cắt cổ chúng ta [55]. Cũng năm ấy, trong 1 bữa nướng thịt ở Sochi, Tomsky say khướt ghé tai Stalin nói nhỏ rằng rồi công nhân sẽ bắn vào anh, về sau, trong thư tuyệt mệnh, Tomsky viết rằng ông đã ân hận về câu nói ấy suốt từ đó [56]. Bukharin bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị tháng 11 năm 1929, Tomsky tháng 7 năm 1930, Rykov tháng 12 năm 1930 [57].

VI - NGOÀI ĐẢNG, CÁC KỸ SƯ RA TÒA TRƯỚC

Năm 1928, ở thị trấn mỏ Shakhty thuộc vùng Donbas, 55 kỹ sư bị đưa ra tòa vì tội phá hoại, đây là phiên tòa công khai lớn đầu tiên kể từ vụ xử đảng Xã hội Cách mạng năm 1922 [58]. Ở tòa, nhân chứng Nekrasov bị nhốt trong 1 phòng có tường bọc nệm, gào lên rằng có súng đang chĩa vào tim mình, còn 1 kỹ sư Đức khai rằng lời nhận tội của ông là do bị ép [59]. 5 người bị tuyên án tử [60]. Stalin cho chuyền tay nhau bức thư tuyệt mệnh của 1 kỹ sư, trong thư người ấy viết rằng thà chết còn hơn chịu nhục chịu khổ [61].

Paul Gregory ghi rằng đến năm 1931, 1 nửa số kỹ sư và cán bộ kỹ thuật ở Donbas đã bị bắt [62]. Vậy mà theo Philip Boobbyer, chả có chứng cứ gì cho thấy những lời buộc tội ấy là thật [63].

Năm 1930 đến lượt vụ Đảng Công nghiệp, 8 kỹ sư do giáo sư Ramzin đứng đầu. Cuốn Stalin and the Lubianka của Shearer và Khaustov in lại 1 bức thư Stalin viết hồi tháng 10 năm ấy cho Menzhinsky (người đứng đầu ngành an ninh), khen bản cung của Ramzin rất thú vị, dặn phải làm nổi lên chuyện các bị cáo chờ nước ngoài can thiệp vào năm nào, rồi bảo cho Kondratiev, Chayanov và mấy người khác “chạy qua hàng roi” [64]. Thành ra bản cung đã qua tay Stalin, chỗ nào cần nhấn, ai cần đánh, ông đều dặn trước. Khlevniuk viết rằng cơ quan an ninh bịa ra các đảng ấy dưới sự chỉ dẫn sát sao của Stalin [65].

5 người bị tuyên án tử, trong đó có Ramzin, rồi được giảm xuống 10 năm tù. Các vụ xử tương tự ở những ngành khác bắt tổng cộng khoảng 8.000 chuyên gia [66].

Trong khi đó, trong Đảng cũng có 1 đợt thanh lọc lớn. Theo Khlevniuk, trong 2 năm 1932 và 1933 có khoảng 450.000 người bị khai trừ khỏi Đảng, lúc ấy Đảng có 3,5 triệu đảng viên [67]. Có điều tới lúc ấy, những người thua trong Đảng mới chỉ bị cách chức, bị đày, bị đuổi ra nước ngoài. Năm 1932, khi lộ ra 1 văn bản của Riutin kêu gọi lật Stalin, cơ quan an ninh và Stalin đề nghị xử bắn ông, vậy mà Bộ Chính trị vẫn biểu quyết chỉ đày [68].

VII - PHÁT SÚNG Ở ĐIỆN SMOLNY

Ngày 1 tháng 12 năm 1934, Kirov, bí thư Leningrad, bị Leonid Nikolaev bắn chết ngay trong trụ sở Đảng ở điện Smolny. Theo Shearer và Khaustov, Nikolaev cứ thế đi vào tòa nhà, trong người giấu súng mà không bị ai hỏi [69]. Stalin đích thân hỏi cung kẻ ám sát [70].

Vài giờ sau vụ ám sát, Stalin tự tay viết 1 đạo luật, 2 hôm sau Bộ Chính trị mới chính thức thông qua. Theo luật ấy, các vụ khủng bố phải điều tra xong trong 10 ngày, bản cáo trạng giao cho bị cáo trước phiên tòa 1 ngày, không được kháng án, không được xin ân giảm, tuyên án tử xong thì bắn ngay [71]. Bản công bố còn ghi rõ các vụ này xử không có luật sư bào chữa [72].

Ai đứng sau Nikolaev thì đến giờ các sử gia vẫn cãi nhau. Khlevniuk cho rằng theo tài liệu thì nhiều khả năng đây là 1 kẻ giết người hành động 1 mình, có thể là 1 người chồng ghen, bởi vợ Nikolaev làm ở Smolny và theo ông có thể là người tình của Kirov [73]. Peter Kenez thì viết rằng nhiều khả năng Stalin đã sắp đặt vụ này, dù không có chứng cứ chắc chắn [74].

Ngày 16 tháng 12 năm 1934, Zinoviev và Kamenev bị bắt. Ngày 28 và 29 tháng 12, 14 người, trong đó có Nikolaev, bị tuyên án bắn. Sang tháng 1 năm 1935, 19 người trong vụ “Trung tâm Moskva”, có Zinoviev và Kamenev, lĩnh từ 5 đến 10 năm tù. Khlevniuk viết rằng tất cả các vụ ấy đều bịa đặt 1 cách thô thiển [75]. Tháng 2 và tháng 3 năm 1935, 11.702 người thuộc giới thượng lưu cũ của Leningrad bị đưa đi trại hoặc đi đày [76].

Applebaum có ghi lại 1 chuyện của nhà văn Lev Razgon. Ông nông dân Seryogin nghe tin có người giết Kirov thì buột miệng rằng mặc xác, bởi ông chưa bao giờ nghe đến tên Kirov, cứ tưởng đó là người chết trong 1 vụ đánh nhau ở làng bên. Vì câu ấy, ông lĩnh 10 năm tù [77].

VIII - 3 PHIÊN TÒA MOSKVA

Phiên thứ nhất từ ngày 19 đến ngày 24 tháng 8 năm 1936, phiên thứ 2 từ ngày 23 đến ngày 30 tháng 1 năm 1937, phiên thứ 3 từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 3 năm 1938. Cả 3 phiên có 54 bị cáo, 47 người bị bắn [78].

Ở phiên thứ nhất, Zinoviev khai trước tòa rằng mình là người tổ chức chính vụ ám sát Kirov. Kamenev thì nhận tội sau khi Yagoda hứa sẽ tha cho các con trai ông, lời hứa ấy về sau không được giữ [79]. Zinoviev, Kamenev và 14 người khác bị tuyên án tử [80].

1 tháng sau phiên tòa ấy, Stalin đánh điện về rằng Yagoda không đủ sức, ngành an ninh đã chậm mất 4 năm. Ngày 11 tháng 10 năm 1936, Yagoda bị cách chức, “luân chuyển” sang làm Bộ trưởng Bưu điện [81]. Người thay ông là Nikolai Yezhov. Đến tháng 3 năm 1937, Yezhov đã bắt 238 trong số 699 cán bộ của cơ quan công an trung ương [82].

Cuối tháng 2 năm 1937, ở hội nghị Trung ương, Yezhov đọc báo cáo về vụ Bukharin và Rykov, ngày 27 tháng 2 thì 2 người bị bắt ngay khi phiên họp kết thúc [83]. Trong tù, ngày 10 tháng 12 năm 1937, Bukharin viết thư cho Stalin, vẫn nói mình vô tội, trong thư có câu “Xin tha thứ cho tôi, Koba. Tôi vừa viết vừa khóc” [84] (Koba là tên thân mật của Stalin từ thời hoạt động bí mật).

Gregory dẫn lời 1 nạn nhân rằng có những trận hỏi cung kéo dài 15 đến 18 tiếng liền, còn Yezhov hình như đã làm cho Bukharin và Rykov tin rằng nhận tội thì sẽ không bị bắn [85]. Ở phiên tòa thứ 3, Krestinsky rút lại lời khai ngay trước tòa, hôm sau lại khẳng định lời khai cũ [86]. 1 nhân chứng kể rằng sau 1 trận hỏi cung, Krestinsky được đưa vào bệnh xá trong tình trạng bất tỉnh, cả sống lưng chỉ còn là 1 vết thương [87].

Wladislaw Hedeler, người nghiên cứu hồ sơ phiên tòa thứ 3, viết rằng công tố viên Vyshinsky đọc cho các bị cáo phải khai theo trình tự thời gian ra sao, những người hỏi cung thì ngồi hàng ghế đầu trong phòng xử, còn biên bản phiên tòa in ra sau đó đã bị sửa [88]. Chính Vyshinsky đứng giữa tòa đòi phải bắn bọn phản bội như bắn những con chó bẩn [89].

IX - ĐẾN LƯỢT HỒNG QUÂN

Cùng lúc với các phiên tòa, ngày 2 tháng 6 năm 1937, Stalin nói trước Hội đồng Quân sự rằng ngay cả Tukhachevsky cũng là gián điệp, rồi hỏi các tướng đã đọc lời khai của ông ta chưa [90]. Tukhachevsky, người từng cầm quân đánh Kronstadt, cùng 7 chỉ huy cấp cao khác đã bị bắt hồi tháng 4 và tháng 5 năm ấy, bị tra tấn, bị xử kín, rồi cả 8 người bị bắn trong cùng 1 ngày [91]. Ngày 11 tháng 6 năm 1937, Stalin đánh điện cho các tỉnh, bảo tổ chức mít tinh của công nhân, nông dân, binh lính để ra nghị quyết đòi án tử, rồi dặn rằng phiên tòa phải xong trong tối nay [92]. Đến cả “nguyện vọng của quần chúng” cũng được đặt hàng bằng điện tín.

Cuộc thanh trừng quân đội sau đó loại 3 trong 5 nguyên soái, 13 trong 15 tư lệnh tập đoàn quân, 8 trong 9 đô đốc [93]. Simon Sebag Montefiore viết rằng Bộ trưởng Quốc phòng Voroshilov đã điều hành việc giết khoảng 40.000 sĩ quan, nhiều người trong số đó là bạn ông [94].

X - NHỮNG DANH SÁCH ÁN

Đại hội 17 năm 1934 có 1.966 đại biểu, trong vòng 5 năm, 1.108 người bị bắt, 848 người bị bắn [95]. Khlevniuk ghi rằng có 383 danh sách án, phần lớn là án tử, cho hơn 40.000 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Trên giấy tờ thì đó là án của Tòa án Tối cao, còn người quyết là 1 nhóm nhỏ gồm Stalin, Molotov, Voroshilov, Kaganovich, Zhdanov [96]. Trên 1 danh sách 138 người, trong đó có Mezhlauk, người hay vẽ tranh trong các phiên họp Bộ Chính trị, Stalin phê 1 dòng “Bắn tất cả. J. Stalin” [97].

XI - CHỈ TIÊU BẮN NGƯỜI

Ngày 30 tháng 7 năm 1937, Lệnh số 00447 của Bộ Nội vụ chia cho từng tỉnh số người phải bắn và số người phải đưa vào trại. Bản đầu tiên định bắn 75.950 người và bỏ tù 193.000 người, làm xong trong 4 tháng. Paul Gregory tính ra, với tuần làm 5 ngày thì mỗi ngày phải có 883 người bị bắn [98].

Omsk lúc đầu được duyệt bắn 479 người [99]. Rồi Gorbach, trưởng công an Omsk, xin nâng chỉ tiêu bắn lên 8.000, Stalin phê bên lề bức điện “Đồng chí Yezhov. Tôi đồng ý nâng chỉ tiêu lên 8.000. I. Stalin” [100]. Nghĩa là từ 479 lên 8.000, chỉ cần 1 bức điện và 1 dòng phê.

Omsk cũng chẳng phải ngoại lệ. Gregory cộng lại ở 52 tỉnh có số liệu thì tổng chỉ tiêu bắn và bỏ tù từ 256.000 người lúc đầu được nâng lên 503.000 người, trung bình mỗi tỉnh tăng 96% [101]. Ở Belarus, 1 trưởng công an chỉ thẳng vào 1 điều tra viên giữa cuộc họp, nói rằng anh này 1 tuần xử xong 3 vụ mà không có án tử nào, toàn án 5 năm với 7 năm, rồi anh ta bị buộc là do kẻ thù cài vào và bị ra lệnh đem bắn [102]. Có người hỏi Yezhov xử thế nào với những người 70, 80 tuổi bị bắt, Yezhov đáp rằng còn đứng được thì bắn [103].

Các tổ 3 người, tức troika, xử như dây chuyền. Ngày 20 tháng 9 năm 1937, troika của Karelia kết án 231 tù nhân của trại kênh Biển Trắng, Applebaum tính rằng nếu làm 10 tiếng không nghỉ thì mỗi người được xét chưa đầy 3 phút [104].

Theo số liệu của chính Bộ Nội vụ mà Khlevniuk dẫn, trong 2 năm 1937 và 1938 có 1.575.259 người bị bắt, 1.344.923 người bị kết án, trong đó 681.692 người bị tuyên án bắn [105].

XII - NGƯỜI ĐI BẮT BỊ BẮT

Ngày 17 tháng 11 năm 1938, 1 nghị quyết của Bộ Chính trị và chính phủ chấm dứt các chiến dịch bắt bớ hàng loạt, giải tán các troika. Nghị quyết đổ lỗi cho kẻ thù trong ngành công an, đồng thời trách cán bộ công an cho đến gần đây vẫn còn đặt vấn đề về “hạn mức” [106]. Xin thưa, cái hạn mức ấy chính Stalin từng phê cho nâng lên, nay thành lỗi của người bên dưới.

1 tuần sau, Yezhov viết đơn xin thôi chức [107]. Cũng tháng ấy, vợ ông tự tử bằng thuốc độc do chính ông đưa, về sau trong lời khai Yezhov nói ông sợ rằng bị bắt thì bà sẽ khai ra hết [108]. Người thay Yezhov là Beria.

Rồi đến lượt người đi bắt bị bắt. Kenez viết rằng những người vừa đi hỏi cung hôm trước, hôm sau thường ngồi chung xà lim với nạn nhân của mình [109]. Evdokimov, 1 trong những người hăng hái nhất trong chiến dịch, bị tra tấn 7 tháng mới khai, đó là 1 kỷ lục, mà theo Gregory là bởi nghề hỏi cung thì chính ông là người thạo nhất. Còn Yezhov thì khai ngay [110].

Ngày 10 tháng 4 năm 1939, Yezhov bị bắt. Tháng 2 năm 1940, ông bị bắn, với tội cầm đầu 1 tổ chức phản cách mạng ngay trong ngành công an [111]. Cũng năm 1940, Trotsky bị Ramón Mercader giết ở Mexico [112].


Vẫn biết các con số mỗi sách mỗi khác, phần nhiều các vụ án ấy là bịa, biên bản in ra cũng đã bị sửa đổi, tư liệu đến đâu thì chỉ dám nói đến đó. Nhưng đọc lại những bản tốc ký, những danh sách có chữ phê, thấy những người năm 1917 từng hứa bỏ hẳn án tử rồi chính họ lần lượt bị đày, bị bắn, người đi hỏi cung rồi cũng vào chung xà lim với người bị hỏi, mình chỉ còn nghĩ tới câu gió tanh mưa máu, đồng chí tương tàn.

Beria, người thay Yezhov, sẽ sống đến năm 1953. Chuyện những năm từ 1941 đến 1991, xin để sang phần 2.

Nguồn:

[1], [82], [83], [88] - Stalin’s Terror: High Politics and Mass Repression in the Soviet Union - Barry McLoughlin và Kevin McDermott biên tập, chương 3 Ezhov’s Scenario for the Great Terror and the Falsified Record of the Third Moscow Show Trial (Wladislaw Hedeler). [2] - Stalin and Stalinism - Alan Wood, chương 4 The totalitarian dictator. [3], [69], [81], [93] - Stalin and the Lubianka: A Documentary History of the Political Police and Security Organs in the Soviet Union, 1922-1953 - David R. Shearer và Vladimir Khaustov, chương 5 The Great Purges, 1935-1939. [4] - A Century of State Murder? Death and Policy in Twentieth-Century Russia - Michael Haynes và Rumy Husan, Pluto Press 2003, chương 2. [5], [6], [28], [44] - Lenin: A Revolutionary Life - Christopher Read, Routledge 2005, chương 7 Revolutionary war và chương 8 Re-evaluation, succession and testament. [7], [9], [14], [19], [20] - Death Orders: The Vanguard of Modern Terrorism in Revolutionary Russia - Anna Geifman, Praeger, chương 8 When Terrorists Become State Leaders. [8], [10], [22], [24], [25], [27], [31] - The Russian Revolution 1917-1921 - Ronald Kowalski, Routledge 1997, chương 7 The origins of the Bolshevik dictatorship và chương 15 The Communist autocracy challenged: the crisis of 1921. [11], [13], [16], [39] - Terror by Quota: State Security from Lenin to Stalin - Paul R. Gregory, Yale 2009, phần Mở đầu và chương 4 Political Enemies. [12], [18], [21] - Gulag: A History - Anne Applebaum, chương 1 Bolshevik Beginnings và chương 8 Prison. [15] - Red Famine: Stalin’s War on Ukraine - Anne Applebaum, phần Kết, chú thích 18 (dẫn theo Robert Service, Lenin: A Biography). [17], [42] - A History of the Soviet Union from the Beginning to the End - Peter Kenez, Cambridge 2006, chương 2 và chương 3. [23] - The Whisperers - Orlando Figes, chương 1 Children of 1917. [26], [29], [30], [32], [33], [43], [54], [55] - The Rise and Fall of the Soviet Union 1917-1991 - Richard Sakwa, Routledge 1999, chương 3 The Birth of the Soviet State và chương 4 The Paths Diverge. [34], [48], [52], [68] - The Stalin Era - Philip Boobbyer, Routledge 2000, chương 2 From Lenin to Stalin và chương 6 Government. [35], [36], [37], [38] - Lenin’s Brain and Other Tales from the Secret Soviet Archives - Paul R. Gregory, Hoover 2008, chương 8 The Ship of Philosophers. [40], [41] - Russia after Lenin: Politics, Culture and Society, 1921-1929 - Vladimir Brovkin, chương 1 NEP society. [45] - Forgotten Lives: The Role of Lenin’s Sisters in the Russian Revolution - Katy Turton, chương 5 The New Order. [46], [49], [51], [53] - The Lost Politburo Transcripts - Paul R. Gregory và Norman Naimark biên tập, Yale 2008, chương 8 (Leona Toker). [47] - The Lost Politburo Transcripts - Paul R. Gregory và Norman Naimark biên tập, chương 2 (Paul Gregory). [50] - The Lost Politburo Transcripts - Paul R. Gregory và Norman Naimark biên tập, chương 3 (Hiroaki Kuromiya). [56] - The Lost Politburo Transcripts - Paul R. Gregory và Norman Naimark biên tập, chương 6 (Charters Wynn). [57] - Master of the House: Stalin and His Inner Circle - Oleg Khlevniuk, chương 1. [58], [60], [64], [66] - Stalin and the Lubianka - David R. Shearer và Vladimir Khaustov, chương 2 Threats from Abroad, Infiltrating the Economy, 1927-1930. [59] - Red Famine: Stalin’s War on Ukraine - Anne Applebaum, chương 4 The Double Crisis, 1927-9. [61] - Terror by Quota: State Security from Lenin to Stalin - Paul R. Gregory, Yale 2009, chương 7 Simplified Methods. [62] - Terror by Quota - Paul R. Gregory, chương 4 Political Enemies. [63] - The Stalin Era - Philip Boobbyer, Routledge 2000, chương 4 Industrialisation. [65] - Master of the House: Stalin and His Inner Circle - Oleg Khlevniuk, chương 1 The Stalinization of the Politburo, 1928-1930. [67] - Master of the House - Oleg Khlevniuk, chương 2 Power in Crisis, 1931-1933. [70], [78], [79], [85], [87], [95], [97] - Terror by Quota - Paul R. Gregory, chương 5 Deadly Kremlin Politics. [71], [75], [76] - Master of the House - Oleg Khlevniuk, chương 4 Terror and Conciliation, 1935-1936. [72], [84] - The Stalin Era - Philip Boobbyer, chương 5 Terror. [73] - Master of the House - Oleg Khlevniuk, chương 3 A Facade of Liberalization, 1934. [74], [86], [109] - A History of the Soviet Union from the Beginning to the End - Peter Kenez, chương 5 High Stalinism. [77] - Gulag: A History - Anne Applebaum, chương 7 Arrest. [80], [91] - The Whisperers - Orlando Figes, chương 4 The Great Fear. [89] - The Rise and Fall of the Soviet Union 1917-1991 - Richard Sakwa, chương 5 Building Socialism, 1929-1939. [90] - Terror by Quota - Paul R. Gregory, chương 6 Planning Terror. [92] - Lenin’s Brain and Other Tales from the Secret Soviet Archives - Paul R. Gregory, chương 2 The Four Faces of Stalin. [94] - Piggy Foxy and the Sword of Revolution - Alexander Vatlin và Larisa Malashenko biên tập, lời giới thiệu của Simon Sebag Montefiore. [96], [105], [107], [111] - Master of the House - Oleg Khlevniuk, chương 5 Stalin and the Great Terror, 1937-1938. [98] - Lenin’s Brain - Paul R. Gregory, chương 5 The Great Terror: Directive 00447. [99], [106] - Stalin and the Lubianka - David R. Shearer và Vladimir Khaustov, chương 6 Social and Ethnic Cleansing: The Mass Operations, 1937-1938. [100] - Stalin’s Terror - Barry McLoughlin và Kevin McDermott biên tập, chương 6 Mass Operations of the NKVD, 1937-8: A Survey (Barry McLoughlin). [101], [102], [103] - Terror by Quota - Paul R. Gregory, chương 8 The Repressors’ Dilemma. [104] - Gulag: A History - Anne Applebaum, chương 6 The Great Terror and Its Aftermath. [108] - Terror by Quota - Paul R. Gregory, phần Mở đầu. [110] - Terror by Quota - Paul R. Gregory, chương 2 Ranks of the Chekist Elite. [112] - Stalin and the Lubianka - David R. Shearer và Vladimir Khaustov, phần tiểu sử nhân vật.