Nhắc tới săn phù thủy ở châu Âu, phần đông chúng ta nghĩ ngay tới Giáo hội Công giáo, Tòa dị giáo và con số 9 triệu phụ nữ bị thiêu sống, mấy thứ mà phim ảnh với sách báo nhắc đi nhắc lại nhiều năm nay. Mình ngồi đọc mấy cuốn của các sử gia viết riêng về đề tài này, có cuốn là bách khoa, có cuốn là bộ hồ sơ xét xử được dịch ra tiếng Anh, thấy nhiều chỗ khác với những gì mình vẫn nghe. Riêng con số 9 triệu đã sai, còn nơi thiêu nhiều người nhất lại không phải Tây Ban Nha hay Ý. Mình ghi lại theo từng mục, có số chú thích để ai muốn thì tra lại.
I - CON SỐ 9 TRIỆU
Con số 9 triệu, theo William E. Burns trong cuốn bách khoa Witch Hunts in Europe and America, do Matilda Joslyn Gage (1826 tới 1898) đưa ra. Bà là 1 nhà nữ quyền người Mỹ, muốn chứng minh Giáo hội thù ghét phụ nữ, và Burns viết thẳng rằng con số ấy không dựa trên nghiên cứu nào [1]. Julian Goodare trong The European Witch-Hunt chỉ ra thêm 1 đường khác: năm 1869 Gustav Roskoff lấy hồ sơ 1 đợt hoảng loạn ở 1 vùng nước Đức, coi như mức ấy kéo dài đều đều suốt mấy thế kỷ rồi nhân lên cho cả châu Âu, ra 9 triệu, sau đó con số này được chép đi chép lại hơn 1 thế kỷ [2].
Con số giới sử học dùng bây giờ là khoảng 50.000 người bị hành quyết, cộng thêm ít nhất chừng ấy người nữa bị tố cáo chính thức mà không bị xử tử (người được tha, người bị trục xuất, người chết trong tù) [2]. Khoảng 80% số người bị xử tử là phụ nữ, ở Anh, miền bắc Hà Lan và Hungary thì trên 90%, riêng ở Iceland và Normandy đàn ông lại đông hơn [3]. 50.000 vẫn là 50.000 mạng người, nhưng nó kém con số 9 triệu tới 180 lần.
II - TÒA DỊ GIÁO LÀ NƠI DẬP LỬA
Goodare viết rằng Tòa dị giáo, cơ quan xét xử tội phù thủy ở Tây Ban Nha và Ý, thường coi đây là tội phải sám hối và rất ít khi xử tử. Theo ông, tiếng xấu về săn phù thủy mà cơ quan này mang là không xứng [2].
Vụ xứ Basque đầu thế kỷ 17 là 1 ví dụ. Sau đợt thiêu người ở Logroño tháng 11/1610, Hội đồng tối cao Tòa dị giáo ở Madrid cử Alonso de Salazar Frías về các làng vùng Pyrenees. Ông là người trẻ nhất trong 3 quan tòa ở Logroño, Hội đồng cố ý cho ông đi 1 mình, không cho 2 đồng nghiệp đi cùng vì 2 ông kia đang muốn mở rộng cuộc săn. Salazar làm hơn 1.800 cuộc thẩm vấn, hỏi kỹ từng người về chỗ họp, ai có mặt, đi tới bằng cách nào, rồi đem các lời khai so với nhau thì thấy chúng không khớp. Mấy lọ thuốc mỡ được cho là của phù thủy, ông đưa dược sĩ xem rồi cho súc vật ăn thử, con nào cũng bình thường. Lời khai của trẻ con thì ông đặc biệt không tin [4].
Kết luận của Salazar, theo bộ tư liệu do Gustav Henningsen biên dịch, là ông không tìm được 1 bằng chứng nào, dù nhỏ nhất, cho thấy có 1 hành vi phù thủy nào xảy ra thật, kể cả chuyện bay tới hội quỷ lẫn chuyện gây hại cho người. Ông còn viết rằng ở 1 làng không có phù thủy cũng chẳng có ai bị ếm “cho tới khi người ta bắt đầu nói và viết về chuyện đó” [5]. Salazar vẫn tin có ma quỷ đấy, ông chỉ không tin những lời khai ấy thôi. Ngày 29/8/1614, Hội đồng tối cao ban hành bộ quy định mới cho các vụ án phù thủy gồm 32 điều, trong đó 16 điều lấy từ bản thảo của Salazar [5]. Từ đó Tòa dị giáo Tây Ban Nha thôi thiêu phù thủy, Burns đánh giá Salazar là người có công lớn nhất trong chuyện này [4].
III - NƠI CÓ CẤP TRÊN XEM LẠI HỒ SƠ
Ở nhiều nơi khác cũng có cấp trên xem lại hồ sơ. Bên Pháp, Nghị viện Paris đóng vai 1 tòa tối cao, theo Brian Pavlac thì trong các vụ phù thủy đưa lên tới đây chỉ khoảng 1/5 kết thúc bằng án tử [6].
Năm 1615, bà Katharina Kepler, 1 bà góa ở Leonberg, mẹ của nhà thiên văn Johannes Kepler, bị 1 người quen cũ là Ursula Reinbold tố là đã đầu độc mình [7]. Kepler tự tay viết phần lớn bản bào chữa cho mẹ [8]. Khoa Luật Đại học Tübingen được hỏi ý kiến và phán 1 câu lưng chừng, rằng chứng cứ không đủ để tra tấn mà cũng không đủ để tha, nên bà chỉ bị dẫn tới trước dụng cụ tra tấn để dọa [7]. Đao phủ đưa từng món cho bà xem, tả tỉ mỉ món nào sẽ làm gì với thân thể bà, bà vẫn không nhận [8]. Cuối năm 1621 bà được tha, tháng 4 năm sau thì bà mất [7].
Ở Vaduz, từ năm 1648 tới 1680, ông bá tước cai quản vùng này mở các đợt săn làm chết tới 300 người. Khi các đợt săn đụng tới những gia đình quý tộc, họ kiện lên Hội đồng triều đình đế chế, cuộc điều tra xác nhận ông bá tước làm quá tay, ông bị bắt giam. Vùng đất ấy sau đó bị bán cho dòng họ Liechtenstein, là dòng họ vẫn đang trị vì nước Liechtenstein tới bây giờ [6].
Ở Salem năm 1692, 19 người bị treo cổ, ông già Giles Cory thì bị chất đá lên ngực tới chết vì từ chối trả lời trước tòa, không ai bị thiêu cả [9]. Cũng năm đó mục sư Increase Mather viết bản luận Cases of Conscience, đề nghị quan tòa đòi chứng cứ cho tội phù thủy khắt khe như với mọi tội tử hình khác, trong đó có câu “thà để 10 người bị nghi là phù thủy thoát tội còn hơn kết án 1 người vô tội” [10].
Nhiều bài viết cho rằng người ta săn phù thủy để tịch thu tài sản. Goodare không đồng ý. Ông cho biết phần lớn người bị xử có rất ít của cải, chi phí xử án thường còn cao hơn số của cải ấy, và người đứng ra thúc đẩy vụ án mới là người phải bỏ tiền ra trả. Ở Quiévy, vùng Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, năm 1664 tới 1665 có 8 vụ xử phù thủy tốn hết 1.702 florin, dân làng trả 1 nửa (bằng giá 65 con bò), nửa còn lại chính quyền trung ương trả [2]. Năm 1592 ở giáo phận Basel, bà Marie Joly bị dân làng tố làm hại người và gia súc, bị thẩm vấn 2 ngày, bị treo ròng rọc tra tấn mà vẫn không nhận. Khi bà được thả, những người tố cáo bị buộc trả toàn bộ chi phí điều tra [6].
IV - BAMBERG
Theo ước tính của Brian Levack mà Burns dẫn lại, riêng các vùng nói tiếng Đức của Đế quốc La Mã Thần thánh đã có ít nhất 30.000 vụ xử, hơn 1 nửa cả châu Âu. Burns giải thích rằng đế quốc ấy gồm rất nhiều lãnh địa nhỏ, 1 đợt săn ở địa phương có thể cứ thế lan ra vì không có cơ quan trung ương nào giống Nghị viện Paris bên Pháp hay các thẩm phán lưu động bên Anh, còn tòa án đế chế ở Speyer thì gần như không có quyền gì với phần lớn các lãnh địa đó [11].
Friedrich Spee, linh mục Dòng Tên từng nghe xưng tội những người bị giam vì tội phù thủy ở Würzburg và Mainz [12], năm 1631 xuất bản ẩn danh cuốn Cautio Criminalis. Trong sách ông kể 1 quan tòa lúc say rượu khoe rằng nếu chính giáo hoàng rơi vào tay ông ta và bị tra tấn thì rồi cũng sẽ nhận mình là phù thủy, Spee viết thêm rằng bản thân ông cũng sẽ nhận, gần như ai cũng thế [13]. Ông tả cái vòng người bị tra khai ra người khác, người kia bị tra lại khai tiếp, và cho rằng chỉ nhà cầm quyền ra tay mới chặn được (nhận định cuối này thì Burns cho là không đúng) [12].
Bamberg là 1 trong những nơi ấy. Robert Rapley dẫn hồ sơ thành phố: năm 1626 có 15 người bị tố cáo, năm 1627 có 85, năm 1628 có 137, năm 1629 có 167, năm 1630 còn 54 rồi gần như dừng hẳn. Georg Haan là phó chưởng ấn thành phố, từng tỏ ra nương tay với bị cáo. Năm 1627 vợ và con gái ông bị bắt, cha con ông kháng cáo lên tòa phúc thẩm đế chế ở Speyer và xin được lệnh cấm xử tiếp, về tới Bamberg thì 2 mẹ con đã bị xử và bị thiêu. Hoàng đế ra lệnh thả nhà Haan vì bắt họ là trái luật đế chế, ông hoàng tử giám mục Bamberg làm như không biết. Georg Haan bị tra tấn, khai ra 5 thị trưởng rồi cũng bị thiêu [14].
1 trong 5 người đó là Johannes Junius, 55 tuổi. Ông bị kẹp ngón tay rồi bị ép khai những ai đã dự hội quỷ cùng mình, ông nói không nhận ra ai, quan tòa dọa gọi đao phủ rồi bảo ông đi lần lượt từng phố, bắt đầu từ chợ, đi xuống phố này rồi quay về bằng phố kia, riêng phố Lange Gasse ông phải khai ra 8 người. Ngày 24/7/1628, trong ngục, ông viết lén cho con gái Veronica 1 lá thư, 2 tay đã liệt nên viết mấy ngày mới xong. Trong thư có câu “cha vô tội mà vào tù, vô tội mà bị tra tấn, vô tội mà phải chết”, ông giải thích cho con rằng ai đã vào nhà ngục phù thủy thì hoặc phải thành phù thủy hoặc bị tra tấn tới khi tự bịa ra được điều gì đó trong đầu. Ở lề thư ông ghi thêm rằng 6 người đã khai ra ông đều xin ông tha lỗi trước khi bị hành quyết, vì họ cũng bị ép như ông. Rapley ghi lại 1 nghi vấn của giới nghiên cứu: lá thư được lưu chung với hồ sơ vụ án, nên có thể nó chưa bao giờ tới tay Veronica [14].
Lệnh của tòa Speyer có thật, có điều nó về tới Bamberg khi giàn thiêu đã cháy xong.
Nguồn:
[1] - Witch Hunts in Europe and America: An Encyclopedia - William E. Burns, mục Numbers of Witches Executed. [2] - The European Witch-Hunt - Julian Goodare. [3] - Witch Hunts in Europe and America: An Encyclopedia - William E. Burns, mục Gender. [4] - Witch Hunts in Europe and America: An Encyclopedia - William E. Burns, mục Salazar Frias, Alonzo de. [5] - The Salazar Documents: Inquisitor Alonso de Salazar Frías and Others on the Basque Witch Persecution - Gustav Henningsen biên dịch, các báo cáo của Salazar năm 1612 và Quy định về các vụ phù thủy của Hội đồng tối cao Tòa dị giáo, Madrid, 29/8/1614. [6] - Witch Hunts in the Western World: Persecution and Punishment from the Inquisition through the Salem Trials - Brian A. Pavlac. [7] - Witch Hunts in Europe and America: An Encyclopedia - William E. Burns, mục Kepler, Katharina. [8] - Kepler’s Witch - James A. Connor. [9] - Witch Hunts in Europe and America: An Encyclopedia - William E. Burns. [10] - Witch Hunts: From Salem to Guantanamo Bay - Robert Rapley, chương 6, dẫn Cases of Conscience của Increase Mather (1692). [11] - Witch Hunts in Europe and America: An Encyclopedia - William E. Burns, mục Germany, Witch-Hunting in, dẫn ước tính của Brian P. Levack. [12] - Witch Hunts in Europe and America: An Encyclopedia - William E. Burns, mục Spee, Friedrich von. [13] - Cautio Criminalis, or a Book on Witch Trials - Friedrich Spee, bản dịch của Marcus Hellyer. [14] - Witch Hunts: From Salem to Guantanamo Bay - Robert Rapley, chương 2, dẫn thư của Johannes Junius gửi con gái (Bamberg, 24/7/1628).