Ngày 19 tháng 5 năm Đinh Mão (1867), tàu Pháp kéo tới bến sông Vĩnh Long, đưa thư mời quan kinh lược sứ (quan được vua phái vào trông coi cả 1 vùng) Phan Thanh Giản ra nói chuyện. Ông xuống tận thuyền Pháp mà cãi lý, cãi không được, đành xin họ đừng nhiễu dân, tiền gạo trong kho thì vẫn để quan ta coi giữ. Viên tướng Pháp ưng thuận. Vậy mà lúc ông quay về thì quân Pháp đã vào thành từ 4 mặt rồi! Ngày 20 họ lấy An Giang, ngày 23 lấy Hà Tiên. Nghĩa là 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ mất trong vòng 5 ngày [1].
Việc đầu tiên ông làm sau đấy là đem số tiền gạo còn trong kho 3 tỉnh trừ vào khoản 100 vạn đồng bạc phải bồi thường cho Pháp năm ấy. Rồi ông gói mũ áo chầu, ấn triện gửi về Kinh, kèm 1 tờ sớ, trong có câu “tôi nghĩa nên chết không dám tạm sống, để hổ thẹn đến vua cha”, rồi nhịn ăn [1]. Sử gia Nhật Yoshiharu Tsuboi có dẫn lời Lê Thanh Tường tả những ngày cuối của ông, rằng nhịn 17 ngày mà vẫn chưa chết, ông bèn lạy 5 lạy về phía Huế, rồi uống 1 chén thuốc độc [2]. Năm ấy ông 71 tuổi [3].
Sang năm sau, triều đình kết án. Bản án viết rằng, ông “tuy sau khi việc đã rồi, xét phải tội chết, chưa đủ che được tội”, vậy cho truy đoạt chức hàm (tước lại hết chức tước, phẩm hàm của người đã chết), “đẽo bỏ tên ở bia Tiến sĩ, để mãi cái án trảm giam hậu. Giết kẻ đã chết để răn về sau” [4]. Trảm giam hậu là án chém nhưng giam lại chờ xét, ông đã chết rồi thì án ấy chỉ để lại cái tội.
Ô! 1 ông già 71 tuổi sắp chết, sao còn ngồi trừ từng khoản tiền gạo vào nợ bồi thường? Ông đã tự chết rồi, sao vua còn phải “giết” thêm 1 lần nữa? Mình có đọc lại tiểu truyện của ông trong Đại Nam liệt truyện, rồi dò theo tên ông trong Đại Nam thực lục từ đời Minh Mạng trở đi, thì thấy hơn 40 năm làm quan, ông bị phạt rồi làm việc chuộc tội không biết bao nhiêu lần.
I - MẮC TỘI RỒI CHUỘC TỘI
Phan Thanh Giản đỗ tiến sĩ năm 1826, là người Nam Kỳ đầu tiên đỗ tiến sĩ [3]. Năm 1831, ông làm quan ở Quảng Nam, đem quân đánh người Man (sử nhà Nguyễn gọi các tộc miền núi là Man) xuống cướp ở nguồn Chiên Đàn, bị đánh úp, quân thua. Vua Minh Mạng xét rằng ông “khinh địch, hỏng việc”, đáng khép vào tội nặng, song vì “Phan Thanh Giản là văn quan, chưa quen việc quân” nên chỉ cho cách chức, “được cố sức làm việc dưới quyền bộ để chuộc tội” [5]. Cũng trong tờ dụ ấy, nói tới 1 ông võ quan bị giặc bắt, vua viết “dù có muốn tự tử cũng không làm sao được”, rồi mới tha cho [5]. Thì ra quan để thua mà bị bắt, vua còn xét cả chuyện người ấy có tự tử hay không!
Năm 1836, vua định tháng 5 đi tuần Quảng Nam. Ông đang làm bố chính (quan coi tiền thuế, sổ sách của tỉnh) ở đấy, bèn dâng sớ xin hoãn, vì năm ấy lúa chiêm mất mùa, mà tháng 4, tháng 5 lại đúng mùa cày cấy, đón vua thì “nhìn chỗ này thì hỏng chỗ kia”. Minh Mạng đọc không vui, bảo viện Cơ mật rằng ông “ngầm đem việc Mạnh Kha thưa với Tề vương mà chê bai” (Mạnh Tử từng can vua Tề, nói dân nghe tiếng xe vua đi chơi thì nhăn mặt). Vua vẫn hoãn chuyến đi mà lại sai 1 viên ngự sử vào xét. Ngự sử về tâu rằng dân đều mong vua tới, lại kê thêm 1 loạt lỗi của tỉnh, thế là ông bị giáng làm thuộc viên lục phẩm. 2 tháng sau lại được nhắc lên [3].
Năm 1838, có tờ sớ vua đã phê mà quên đóng ấn, ông là quan bộ đang trực không phát hiện ra, bị giáng chức. Năm 1839, đình thần (các quan lớn trong triều họp bàn) xét tội 1 ông quan cùng làng với ông, ông xin xử nhẹ, vua ghét là bênh vực nhau, lại giáng. Năm 1840, ông làm phó chủ khảo, để lọt 1 bài phú trùng vần, bị giáng 1 cấp [3].
Như ta thấy, chỉ trong 10 năm cuối đời Minh Mạng, ông bị cách chức, giáng chức 5 lần, mà lần nào cũng được nhắc lên lại, có lần chỉ sau 2 tháng. Thua trận cũng thế, chấm sót 1 bài phú cũng thế, ông đều nhận tội, làm việc dưới án, rồi được tha. Theo mình, làm quan 10 năm kiểu ấy thì ông coi chuyện với vua như chuyện vay nợ: có lỗi là mắc nợ, làm được việc là trả dần, trả xong thì vua lại tin.
Sang đời Thiệu Trị, ông lên tới thượng thư, vào viện Cơ mật (viện cùng vua bàn việc quân, việc lớn). Năm 1843, vua xuống chiếu cầu lời nói thẳng, ông viết vào sớ 1 câu, rằng “lòng đại thần mở bảo, hãy còn có sự lo ngại rụt rè” [3]. Nghĩa là ông thấy các quan to còn sợ, không dám nói hết. Đầu đời Tự Đức, ông được thưởng cái kim khánh khắc 4 chữ “liêm bình cần cán” [3], tức là thanh liêm, công bằng, siêng năng, giỏi việc.
II - MÓN NỢ 3 TỈNH
Năm 1862, tàu Pháp vào cửa Thuận An đưa thư đòi nghị hòa. Lâm Duy Thiếp xin đi, Phan Thanh Giản cũng xin đi. Vua Tự Đức dặn, “tạm thời khuất mình, tạm thời chịu phí, mà có thể cứu được quân dân, không bị mất đất đai thì nên lắm” [6]. Vậy mà vào tới Gia Định, Pháp ép phải nhường 3 tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, lại phải bồi 4.000.000 đồng [3].
Hòa ước gửi về, đình thần tâu rằng chỗ cắt đất, bồi bạc 2 ông ấy làm “phần nhiều chưa hợp”, xin bắt 2 ông ở lại gần đấy bàn tính sửa dần “để chuộc lỗi trước”, lại xin bắt tội. Vua đáp, “bây giờ há có người hiền tài nào mà đổi hết được du?”. Thế là Phan Thanh Giản được cho làm tổng đốc Vĩnh Long, Lâm Duy Thiếp làm tuần phủ, ở lại “cùng với tướng nước Phú biện bác để chuộc tội” [6]. Triều đình còn bàn gửi thư sang tận vua Pháp, nói việc mất đất là do “Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp nhẹ dạ nhường đất, Phô-na bắt ép” (Phô-na là đô đốc Pháp Bonard), về sau mới thôi [7].
Ở trong Nam, người theo nghĩa quân đánh Pháp thì truyền nhau câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khi dân”, nghĩa là Phan, Lâm bán nước, triều đình khinh dân [2]. Tức là ông bị cả 2 phía cùng đổ lỗi: trong triều bảo ông nhẹ dạ, ngoài dân bảo ông bán nước.
Năm 1863, Lâm Duy Thiếp chết. Vua bảo “Duy Thiếp chưa hay lập công chuộc tội”, còn xử tội gì thì sau sẽ bàn. Cùng năm ấy, Phan Thanh Giản với mấy ông đi thương thuyết tự xin chịu tội. Án dâng lên, ông với Lâm Duy Thiếp bị nghĩ tội trảm giam hậu. Vua giảm cho ông xuống cách lưu (cách chức nhưng vẫn giữ lại làm việc), còn Lâm Duy Thiếp đã chết thì truy đoạt chức hàm [8]. Vậy là 4 năm trước khi chết, ông đã tận mắt thấy người cùng ký hòa ước với mình chết rồi vẫn bị xử.
Cũng năm 1863, vua cử ông làm chánh sứ sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh. Trước khi đi, vua dặn, nếu người ta không nghe thì phải ở lại mà nói cho chuyển lòng họ, “nếu đi không về không hoặc đi không mà đến chết, thì có bổ ích gì cho nước” [9]. Rồi vua hỏi thẳng, “khanh trước đây chuyên ý bỏ 3 tỉnh ấy, hẳn là đã cân nhắc nặng nhẹ mà làm, hay là có ý gì khác?”. Ông thưa, “thần xem thời thế đã kỹ, không làm thế không được. Nay thần vâng mệnh đi sứ, việc thành hay không thành là do ở 2 nước kia, thần chỉ biết hết lòng hết sức mà thôi” [9].
Năm 1864, sứ Pháp là Aubaret (sử ta ghi là Hà Bá Lý) tới Huế bàn lại hòa ước, vua lại cử ông làm toàn quyền. Ông cố từ, xin chọn người “vững như cột đá, như Trương Đăng Quế”, thì bị vua quở là “có phần thiếu ý hồn hậu” [10]. Các quan nhỏ ở bộ, viện dâng sớ mật xin cứ giữ ước cũ, lại thêm 1 câu, “nếu có thiếu sót sai lầm, xin do bọn sứ thần phải chịu trách nhiệm”. Vua bảo ông, “nên biết công luận không bằng lòng đâu”. Ký xong, sứ Pháp về, ông lại dâng sớ nhận lỗi. Nội các xin kết tội, vua cho đợi xem việc ra sao rồi bàn tội 1 thể [10]. Mà bản ước ấy, về sau chính bên Pháp lại không chịu phê chuẩn [2]!
Việc chưa làm mà các quan đã ghi sẵn ai sẽ chịu lỗi, chắc ông cũng biết người ấy là mình, nên mới cố từ. Mà từ thì bị quở, đi mà hỏng thì có tội. Thật khó cho ông.
III - XIN ĐƯỢC CHỊU PHẠT TIẾP
Năm 1865, ông gần 69 tuổi, xin về hưu, vua vời vào Nội các truyền chỉ quở mắng [11]. Cuối năm ấy, Pháp lại gây chuyện ở An Giang. Vua bảo, “nếu được người nào, Tây dương vốn tín phục, hoạ chăng mới êm được”, các quan bèn cử ông. Vua cho ông làm kinh lược đại thần 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, mà án cách lưu thì vẫn giữ nguyên [12]. Vậy là ông vào Nam giữ 3 tỉnh mới, trong khi cái án 3 tỉnh cũ vẫn chưa xóa. Hôm ấy vua có nói, “trẫm chỉ duy ở hết tình nghĩa mà thôi, há lại muốn lấy pháp luật trói buộc ư?”. Ông cùng mấy ông đại thần đáp, “bọn chúng tôi chỉ có tâm, không có tài, biết là xấu hổ, biết là có tội” [12].
Đầu năm 1866, vua cho xóa án cách lưu, khôi phục chức cho ông [13]. Ai ngờ ông lại dâng sớ xin trả, rằng “tôi cùng với người đã chết rồi là Lâm Duy Thiếp, sự tình cùng nhân việc giống nhau, tôi không có công trạng gì, may được khai phục, mà người bạn chết đi, ở dưới đất một mình tự ngoảnh mặt vào góc tường khóc, trong khoảng u minh, lòng không được yên”. Ông xin thu lại ơn ấy, cho ông được như cũ để “tự ra sức báo hiệu chuộc tội”. Vua khen ông “có lòng thành trách mình lại nhớ bạn cũ”, rồi theo lời ông xin [14].
Được tha mà xin chịu án lại, bạn thử nghĩ xem ngoài đời mấy ai làm thế! Theo mình, ông không tin vào cái ơn tha. Vua tha thì hôm nay tha, mai giận lại xử, như Lâm Duy Thiếp đấy, chết rồi vẫn bị truy đoạt. Còn tự làm việc mà chuộc thì mới là trả, trả hết thì mới yên lòng. Lại nữa, người cùng ký hòa ước với ông còn đang chịu tội dưới đất, ông nhận ơn 1 mình thì thấy như mình bỏ bạn.
Cũng năm ấy, ông lại xin nghỉ vì già yếu, vua quở, “ta đương bắt phải làm cho có thành hiệu, mà chưa làm xong, ý kiến của lão thần sao lại phát ra câu ấy” [3].
IV - CẤM ĐÁNH MÀ BẮT GIỮ
Mùa thu năm 1866, Pháp đòi nốt 3 tỉnh miền Tây. Viện Cơ mật tâu kế, “xin tư cho quan Kinh lược không đánh nhau với quân Pháp, tự phải rút lui”. Pháp lấy Vĩnh Long thì dời sang An Giang, Hà Tiên, lấy hết thì “tất phải chuyển về Bình Thuận để đợi lệnh triều đình” [15]. Cùng lúc ấy, vua dụ rằng, hôm ông vào từ biệt, vua đã “đinh ninh uỷ thác, phải hết sức đợi cơ hội theo tình thế mưu lấy lại 3 tỉnh, viên ấy cũng xin đảm đương để bù lỗi trước”, vậy mà vào Nam rồi “thăm thẳm không được việc gì”. Vua nghe nhiều người nói người Pháp tin ông lắm, bèn bắt ông phải hết sức nói cho họ nghe, “được chuộc lại là nhất”, không thì đổi lấy tỉnh khác là thứ nhì, chia thêm thuế là thứ ba, “ngõ hầu rửa được lỗi trước” [15].
Tóm lại, không được đánh, mà vẫn phải đòi lại đất bằng miệng, đòi không được thì vẫn là lỗi của ông.
Tháng 5 năm 1867, Pháp kéo tới, thành Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên mở cửa, không chống cự, chính ông là người bảo quan 3 tỉnh nộp thành [2]. Trong bản tấu xét tội các quan 3 tỉnh còn giữ được trong Châu bản triều Tự Đức, các đại thần Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình, Trần Tiễn Thành, Phan Huy Vịnh, Phạm Phú Thứ ghi rằng, các ông ấy bỏ thành không kháng cự là vì trước đó đình thần đã bàn như thế, rồi thêm 1 câu, là các ông ấy cũng đã không liệu trước được tình thế [16].
Ông ngồi trừ tiền gạo vào nợ bồi thường, mình nghĩ, đấy là việc của 1 người đang tính sổ. 40 năm ông quen 1 lối, mắc lỗi thì làm việc mà trả. Nhưng tới năm 1867 thì nợ 3 tỉnh miền Đông chưa trả được, đã thêm 3 tỉnh miền Tây, còn ông thì đã 71 tuổi, chẳng còn việc gì để làm mà trả nữa, chỉ còn cái mạng. Tsuboi cho rằng nếu ông không tự tử thì nhiều phần cũng bị xử chết, vì đấy là phận chung của các ông quan được giao toàn quyền mà để thua [2].
Tự chết trước khi bị xử thì ít ra ông còn tự quyết được cái chết của mình. Tờ sớ cuối, ông không thanh minh câu nào, chỉ nhận tội, rồi khuyên vua “lo trước tính sau, thay đổi đường lối, thế lực còn có thể làm được” [1]. Đến lúc chết, ông vẫn làm phận bề tôi. Mình đoán ông tin rằng mình trả bằng mạng thì món nợ coi như xong.
V - CÁI CHẾT KHÔNG ĐƯỢC TRỪ VÀO TỘI
Nhưng triều đình không tính như ông. Bản tấu của Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình năm 1867 viết, “quan Kinh lược trước là Phan Thanh Giản chỉ biết một chết, còn thì đã không lo toan trước khi có việc” [17]. Thì đấy, năm 1863 vua đã nói đi không mà đến chết thì có bổ ích gì cho nước [9], năm 1867 ông chết thật, triều đình cũng chẳng tính cái chết ấy vào đâu cả.
Cuối năm 1867, Tự Đức xuống dụ bàn công tội việc mất 6 tỉnh. Dụ kể Nguyễn Tri Phương cùng mấy ông tướng “đánh giữ bất lực để mất trước”, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp “nghị hoà coi nhẹ bỏ mất hỏng ở quãng giữa”, Phan Thanh Giản cùng sứ bộ “không được công trạng gì, bỏ mất ở sau”, rồi Phan Thanh Giản cùng quan 3 tỉnh miền Tây “nhân theo cẩu thả hèn kém, mất ở sau cùng” [18]. 4 lần mất đất thì tên ông có mặt trong 3 lần!
Đầu năm 1868, vua bảo công tội của ông “từ trước đến nay chưa có bàn định, người bàn còn dám nói để che chở, huống chi ơn điển một khi quá lạm, người đều bắt chước cái dở, thì việc nước hầu không thể làm được”, phải sửa ngay phép tắc [19]. Tháng 11 năm ấy thì có bản án kia [4].
Đọc câu ấy thì thấy, trong triều vẫn có người bênh vực ông, mà vua thì sợ tha ông rồi các quan khác sẽ học theo. Theo mình, án này xử cho người sống xem. “Giết kẻ đã chết để răn về sau”, thì người bị răn đe là các ông quan đang giữ thành ở Bắc Kỳ, ở miền Trung. Mà muốn răn đe thì phải có 1 cái tên đứng đầu bản án. 6 tỉnh mất, từ vua tới viện Cơ mật đều có dính, mà lời dặn bỏ thành không đánh cũng do đình thần bàn. Đặt tên 1 người đã chết lên đầu bản án thì không ai phải đối chất, vì người chết không cãi được.
Lại nhớ Nguyễn Tri Phương, người viết câu “chỉ biết một chết”, 6 năm sau cũng chết y như thế. Năm 1873 ông giữ Hà Nội, con trai là phò mã Nguyễn Lâm bị bắn chết, ông bị thương, thành mất, ông bị Pháp bắt, “tuyệt không ăn uống, người Pháp đem cháo và thuốc đổ cho, đều phun nhổ ra cả” [20]. Năm 1874, đình thần xét án Hà Nội, nghĩ cho ông “cách mất chức hàm, còn án trảm giam hậu mãi”, y như án Phan Thanh Giản.
Lần này vua không chịu. Vua phê, “người chết về việc nước thì có thờ tự, người để mất đất thì có luật pháp”, rồi cho khôi phục chức tước cho Nguyễn Tri Phương, vì ông “suốt đời trung thành dũng cảm”, “cả nhà có tiết nghĩa”. Cũng trong tờ phê ấy, ông tổng đốc Bùi Thức Kiên vì “chịu nhẫn nhục để sống cho qua” thì bị trảm giam hậu, đục tên khỏi bia [21].
Cũng là 2 ông quan già nhịn ăn mà chết sau khi mất thành. Nguyễn Tri Phương đánh rồi mới chết thì được tính là chết về việc nước, Phan Thanh Giản vâng lời triều đình không đánh rồi mới chết thì bị tính là để mất đất. Cái chết được tính công hay tính tội là tùy lúc sống người ta đã làm gì. Mà Phan Thanh Giản không đánh là vì đình thần dặn ông đừng đánh!
VI - KHẮC LẠI TÊN MÀ KHÔNG CHO VÀO ĐỀN
Năm 1886, vua Đồng Khánh mới lên ngôi, Nguyễn Hữu Độ tâu xin khôi phục chức cho mấy ông đại thần cũ đã chết, vì “năm trước phải tội, đều là tội vì việc công cả” [22]. Đình thần bàn, cho Nguyễn Tri Phương được thờ ở đền Hiền Lương. Còn Phan Thanh Giản thì “khi sống hay hoặc dở, công hoặc tội, hãy còn nghe thấy”, nên không cho thờ. Có điều xét ông “biết tội, tự dẫn mình đến chỗ chết, thực là ở vào cảnh ngộ người không thể làm được”, nên cho khôi phục chức, còn bia thì giao bộ Công khắc lại tên như cũ [22].
Quốc sử quán nhà Nguyễn viết tiểu truyện của ông, cũng kết bằng 1 câu tương tự, “thực là ở vào chỗ người ta khó xử” [3]. Họ khắc lại tên ông lên bia mà không cho ông vào đền. Còn lời đình thần dặn ông bỏ thành năm 1866, thì cả bản án năm 1868 lẫn tờ khôi phục năm 1886 đều không nhắc tới.
Nguồn:
[1], [4], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15], [17], [18], [19], [20], [21] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ tứ kỷ, phần chép các năm Tự Đức thứ 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 26 và 27, tức các năm 1862 đến 1868, 1873 và 1874. [5] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ nhị kỷ, quyển LXIV, năm Minh Mệnh thứ 12, tức năm 1831. [22] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ ngũ kỷ, năm Đồng Khánh thứ 1, tức năm 1886. [3] - Đại Nam liệt truyện - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Nhị tập, quyển 26, truyện Phan Thanh Giản. [1] - Bộ sưu tập sử liệu Pháp xâm lược Việt Nam 1847-1887, bản dịch trọn vẹn Dương sự thủy mạt - Đông Hào, Trương Sỹ Hùng, Hàn Khánh biên dịch, Trần Đại Vinh hiệu đính, phần chép năm Tự Đức thứ 20, tức năm 1867. [2] - Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa - Yoshiharu Tsuboi, Nguyễn Đình Đầu dịch, chương V Các nhân vật chủ yếu của chính quyền Tự Đức, mục 3 Phan Thanh Giản. [16] - Châu bản triều Tự Đức 1848-1883, tuyển chọn và lược thuật - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, bài tấu của Nguyễn Tri Phương, Vũ Trọng Bình, Trần Tiễn Thành, Phan Huy Vịnh, Phạm Phú Thứ xét tội các quan 3 tỉnh miền Tây năm Tự Đức thứ 20, tức năm 1867.