Tháng 9 nhuận năm 1042, vua Lý Thái Tông xuống chiếu: “kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm vợ cả, vợ lẽ người ta, người chủ đánh chết, ngay lúc bấy giờ thì không bị tội” [1]. Tức là bắt được tại trận trong nhà mình thì đánh chết cũng không ai bắt đền.

Từ đó tới hết đời Nguyễn, luật về ngoại tình đổi nhiều lần, từ mấy chục roi lên tới thắt cổ. Có điều lần nào luật cũng hỏi trước nhất là bắt được ở đâu, lúc nào, người đàn bà ấy là vợ ai.

I - BẮT ĐƯỢC TẠI TRẬN THÌ CHỒNG ĐƯỢC GIẾT

Luật nhà Lê ghi trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú: đàn ông gian dâm với vợ người thì “xử lưu hoặc tử” (lưu là đày đi xa, tử là xử chết), người vợ thì “đều xử lưu, điền sản phải trả lại chồng” [2]. Chồng tự tay xử thì đêm tối bắt được mà “chưa kịp phân biệt đen trắng mà đánh chết tức thời thì không xử tội”, đã trói lại rồi mới đánh chết thì vẫn bị tội [2].

Luật Gia Long ghi chồng “chính tay bắt được cả gian phu gian phụ ngay ở chỗ thông dâm, giết chết cả đôi ngay lúc bấy giờ, thì không bắt tội” [3]. Nhưng giết vợ mà để thằng kia chạy thoát thì chồng bị 80 trượng, đuổi ra tới ngoài cửa mới giết cũng 80 trượng, để mấy hôm sau mới giết thì bị tội đồ, tức là bắt đi làm khổ sai [3]. Nghĩa là luật cho chồng đúng 1 lúc để ra tay, là lúc mở cửa thấy cả 2 người còn đang ở với nhau.

Không giết thì sao? Luật Gia Long phạt thuận tình gian dâm 80 trượng, gái có chồng 100 trượng, rồi người vợ “do người chồng đem gả bán cho người khác”, chồng không muốn giữ cũng được [3]. Năm 1827, ông Minh Mạng chê luật cũ chỉ đánh trượng “thì nhẹ quá”, sửa luôn: đàn bà có chồng có con mà thông dâm thì cả 2 người bị xử giảo, nghĩa là thắt cổ, mà thắt ngay, có chồng chưa có con thì giảo nhưng giam lại chờ xét [3].

Giáo sĩ Cristoforo Borri ở Đàng Trong những năm 1618 tới 1622 ghi ngoại tình thì “dù là chồng hay vợ cũng bị trừng phạt bằng cách cho voi giày” [5]. Khoảng 60 năm sau, Samuel Baron (con lai Hà Lan Việt sinh ở Kẻ Chợ, viết về Đàng Ngoài những năm 1680) lại bảo người chồng có địa vị bắt được vợ ngoại tình thì “có thể tự tay kết liễu kẻ lăng loàn đó cùng với tình nhân”, không thì “đem vợ ra cho voi giày” [4]. Mình đoán 2 ông này nghe kể lại nhiều hơn là tận mắt thấy. Đến Gustave Dumoutier (nhà nghiên cứu người Pháp, sang Hà Nội năm 1886) thì có năm có chỗ hẳn hoi: trước khi Pháp tới, đàn bà bị bắt quả tang ngoại tình “thường giao cho các con voi”, năm 1892 vẫn có 1 người đàn bà Hà Nội bị xử treo cổ ở gần Cầu Giấy [6].

Đầu thế kỷ 20, theo Phan Kế Bính, vẫn có chồng “gọt gáy bôi vôi” vợ rồi đuổi về hoặc bắt cả đôi “mà đóng bè chuối thả trôi sông” [7]. Dumoutier gặp hẳn 1 cái bè như thế trên sông Hồng tháng 5 năm 1898, chở 1 ông sư và 1 người đàn bà [6].

Theo Toan Ánh, khoảng năm 1917, 1918, ở phủ Lý Nhân, Hà Nam, nhà chồng còn thả 1 người vợ ngoại tình trên bè chuối ra sông Đáy, trên bè để sẵn mâm cơm, ấm nước, âu trầu với tấm biển ghi tội [11]. Cái này thì không bộ luật nào có, toàn là cơn giận của nhà chồng với cái lệ của làng thôi.

II - KHÔNG BẮT ĐƯỢC THÌ THÔI, TRỪ KHI CÓ CHỬA

Luật Gia Long ghi: “còn không bắt được ngay ở chỗ gian dâm, cùng là đổ tội cho là gian dâm, thì không bắt tội” [3]. Hàng xóm đồn thì cứ đồn, quan không xử.

Luật Lê thì bắt được tại chỗ mới xử lưu hoặc tử, còn “thông gian với vợ người”, tức là đi lại với nhau mà không bắt được quả tang, thì “xử 60 trượng, biếm 2 tư” (biếm là hạ bậc, 2 tư là 2 bậc phẩm tước) [2]. Nặng nhẹ chênh nhau hơi bị xa, chỉ vì có người mở cửa đúng lúc hay không.

Có 1 trường hợp không cần bắt tại trận. Luật Gia Long ghi nếu người đàn bà có chửa mà không biết người đàn ông là ai, “thì bắt tội người đàn bà ấy thôi” [3]. Năm 1804, Gia Long định lệ cho các làng ở Bắc Hà phạt kẻ “cẩu hợp chửa hoang” 30 quan, phạt luôn cha anh 3 quan, trong khi tiền cheo cưới của nhà giàu chỉ 1 quan 2 tiền [8]. Khoản phạt nặng trịch ấy nhắm vào người đàn bà với cha anh cô ta. Còn người đàn ông làm cô ta có chửa thì sao? Lệ không nhắc tới chữ nào.

Đến năm 1827, Minh Mạng ghi thêm cho chắc: không bắt được tại trận cũng được, cứ người đàn bà “nhân việc gian dâm có chửa, xét ra có chứng cớ đích xác” là xử, đứa con thì giao cho họ hàng người đàn ông nuôi [3].

III - CHƯA AI CÓ CHỒNG THÌ SAO?

Luật Lê phạt trai gái lấy nhau “không đủ sính lễ” mà “kết hợp nhau cẩu thả” bị biếm 1 tư, phải nộp tiền tạ cho cha mẹ cô gái, còn “người con gái bị xử 50 roi” [2]. Nghĩa là cùng 1 chuyện mà con trai bị hạ bậc, nộp tiền, con gái thì ăn roi. Riêng tội dụ dỗ con gái nhà người thì luật Lê bắt người đàn ông chịu, “người con gái (bị dỗ) thì không xử tội” [2].

Luật Gia Long phạt 2 người thuận tình với nhau 80 trượng [3]. Từ năm 1827, Minh Mạng đổi thành 2 người “đều đem đóng gông 1 tháng, rồi xử phạt 100 trượng” [3]. Con gái từ 12 tuổi trở xuống thì dù cô bé có thuận tình, luật vẫn xử người đàn ông như tội hiếp [2], [3].

Ở Quảng Bình, Phan Thị Đam “đã nhận đồ sính lễ, chưa cưới về nhà chồng, mà thông dâm với tên Phan Công Luật đã có chửa”, vua xử luôn “theo luật gái đã có chồng” [3], tức là mức thắt cổ. Đến năm 1841, ở Hà Tĩnh, Trần Thị Trinh “đã nhận lễ vấn danh gả cho tên Bùi Sáng là người làng rồi, thế mà lại thông dâm với tên Trần Lận”. Tỉnh không biết xử thế nào, gửi lên bộ Hình, bộ Hình cũng chịu, phải tâu lên vua. Ông Thiệu Trị bảo xử như gái có chồng thì “e rằng nặng quá”, xử như gái chưa chồng thì “không khỏi có phần nhẹ quá”, cuối cùng cho cả 2 người “phạt 70 trượng đồ 1 năm rưỡi”, Thị Trinh bị đánh ngay, nhà gái còn phải trả lại lễ vật cho nhà trai [3].

Đàn ông đi chơi gái điếm thì luật nhà Nguyễn chỉ có 1 điều, mà là điều dành cho quan: “Phàm quan lại (dù văn hay võ) mà ngủ với gái điếm thì xử phạt 60 trượng, uống rượu với gái điếm cũng phạm vào luật này” [3]. Năm 1827 tăng lên 80 trượng, vì “tuy không ví như tội gian dâm, nhưng phẩm hạnh đã kém” [3]. Dân thường đi chơi thì luật không nhắc tới.

IV - CÙNG 1 TỘI MÀ KHÁC ÁN

Năm 1251, vua Trần Thái Tông định gả công chúa Thiên Thành cho Trung Thành Vương, mở hội 7 ngày đêm chuẩn bị lễ cưới. Trần Quốc Tuấn, tức Hưng Đạo Vương sau này, muốn lấy công chúa, bèn “nhân ban đêm lẻn vào chỗ ở của công chúa thông dâm với nàng”. Bà cô là công chúa Thụy Bà chạy vào cung kêu cứu cho cháu, hôm sau dâng luôn 10 mâm vàng sống làm lễ, bà này không phải dạng vừa đâu. Vua “bất đắc dĩ phải gả công chúa Thiên Thành cho Quốc Tuấn”, lấy 2.000 khoảnh ruộng đền cho nhà trai cũ [1].

Mấy chục năm sau, Trần Khánh Dư “thông dâm với công chúa Thiên Thụy”, là vợ con trai Quốc Tuấn. Lần này vua sợ mất lòng Quốc Tuấn, sai người đánh Khánh Dư ở Hồ Tây nhưng dặn “chớ đánh đau quá, để không đến nỗi chết”, rồi tước hết quan tước, tịch thu tài sản [1]. Ông Dư về Chí Linh đi bán than củi, đến khi đánh quân Nguyên mới được gọi về dùng lại. Cũng thông dâm với công chúa cả, khác mỗi chỗ Thiên Thành mới hứa gả, Thiên Thụy thì đã là vợ người ta, mà chồng lại là con ông Quốc Tuấn.

Thời Lý, năm 1174, thái tử Long Xưởng “thông dâm với cung phi”, tức là với vợ của chính bố mình. Vua Lý Anh Tông “không nỡ bắt tội chết” nên phế luôn làm thường dân, bắt giam [1].

Còn chồng đi ngoại tình thì sao? Luật chỉ phạt khi người chồng đụng vào vợ, con gái nhà người khác. Còn lại thì nhẹ bẫng, mọi người đọc Dumoutier sẽ thấy ông ghi tội ngoại tình của chồng “trong thực tế chỉ bị xét xử bằng những lời nhiếc móc của bà vợ” [6].

V - CHỒNG BAO NHIÊU VỢ CŨNG ĐƯỢC, VỢ THÌ 1 CHỒNG

Năm 970, Đinh Tiên Hoàng lập 5 hoàng hậu một lúc. Lê Văn Hưu chê “Từ xưa chỉ lập (hoàng hậu) một người… chưa từng nghe nói lập đến 5 người”, rồi than thở là các triều Lê, Lý sau cũng bắt chước [1]. Theo Baron, chúa Trịnh có cung tần “lên đến 300 hoặc 500, hoặc thậm chí nhiều hơn nữa” [4]. Michel Đức Chaigneau (con 1 người Pháp làm quan cho Gia Long, sinh ở Huế) viết thê thiếp trong hậu cung Gia Long phải đếm bằng hàng trăm, quan to thì 10, 20 thê thiếp [9]. Dân thường thì có câu “Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ có một chồng” [7], miễn có tiền nuôi và theo Dumoutier thì phải được vợ cả bằng lòng [6].

Còn vợ thì luật Lê ghi tự tiện bỏ đi rồi “lấy chồng khác thì xử đồ thung thất tỳ”, tức là bị đày làm tì xay giã gạo, người với của phải trả về cho chồng trước [2]. Luật Gia Long còn nặng hơn: vợ bỏ trốn thì 100 trượng, để chồng “đem gả bán”, nhân lúc trốn mà lấy chồng khác thì bị giảo (thắt cổ cho chết) [10]. Chồng chết rồi cũng chưa được đi bước nữa ngay. Năm 1470, Lê Thánh Tông ra lệnh vợ để tang chồng mà “nhận lễ hỏi của người khác, hay đi lấy chồng khác đều phải tội chết cả” [1], còn người ở vậy thờ chồng thì nhà Nguyễn ban biển “Trinh tiết khả phong” [12].

Luật Lê, luật Gia Long đều cho chồng bỏ vợ theo 7 cớ mà sách cũ gọi là thất xuất, luật Gia Long còn cho 2 vợ chồng không hợp nhau được thuận tình bỏ nhau mà không phải tội [10]. Tái giá thì ngay trong cung cũng có. Năm 982, Lê Hoàn lập bà Dương Vân Nga, vợ vua Đinh, làm Đại Thắng Minh hoàng hậu [1]. Thời Trần, Trần Thị Dung là hoàng hậu của Lý Huệ Tông, sau lấy Trần Thủ Độ. Lý Chiêu Hoàng làm vợ Trần Thái Tông, không có con nên bị giáng làm công chúa, rồi bị gả cho Lê Phụ Trần, sống với ông hơn 20 năm, sinh được con trai, con gái [1].

Ngô Sĩ Liên chê hết, bảo Lê Hoàn “thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn”, bảo bà Dung “sau lấy Trần Thủ Độ là thất tiết” [1]. Còn dân Hoa Lư thì lập đền, “tô tượng hai vua Tiên Hoàng và Đại Hành và tượng Dương hậu cùng ngồi”, mãi tới đầu đời Lê mới có ông An phủ sứ Lê Thúc Hiển cho bỏ đi [1].

Nguồn:

[1] - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản dịch Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Bản kỷ nhà Đinh, nhà Tiền Lê (5 hoàng hậu, Dương Vân Nga), Bản kỷ nhà Lý (chiếu năm 1042, thái tử Long Xưởng năm 1174), Bản kỷ thực lục Lê Thánh Tông (lệnh năm 1470 về để tang), Bản kỷ nhà Trần (Quốc Tuấn và công chúa Thiên Thành năm 1251, Trần Khánh Dư, Chiêu Thánh, Linh Từ quốc mẫu). [2] - Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí tập 2 - Phan Huy Chú, Hình Luật Chí, luật hộ hôn và luật gian dâm thời Lê. [3] - Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ tập 12, Bộ Hình, mục Giết chết kẻ thông gian với vợ mình, quyển Phạm gian (luật gốc, lệ năm Minh Mạng thứ 8, án năm Thiệu Trị thứ 1, mục Quan lại ngủ với gái điếm). [4] - Mô Tả Vương Quốc Đàng Ngoài - Samuel Baron, chương Về hôn nhân của người Đàng Ngoài và chương về triều đình. [5] - Xứ Đàng Trong - Cristoforo Borri. [6] - Tiểu Luận Về Dân Bắc Kỳ - Gustave Dumoutier, các mục Việc xét xử, Vợ lẽ nàng hầu, Ngoại tình ly dị. [7] - Việt Nam Phong Tục - Phan Kế Bính, các mục Vợ chồng, Vợ chồng ly dị. [8] - Đại Nam Thực Lục tập 1, chiếu định điều lệ hương đảng cho các xã ở Bắc Hà, đời Gia Long. [9] - Souvenirs De Hué - Michel Đức Chaigneau, bài về địa vị đàn bà ở xứ Nam Hà. [10] - Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ tập 11, Luật Hộ, mục Bỏ vợ. [11] - Nếp Cũ Con Người Việt Nam - Toan Ánh, mục Ngoại tình và gian dâm. [12] - Đại Nam Thực Lục tập 2, các đợt ban biển cho tiết phụ đời Minh Mạng.