Đầu tháng 3 năm 1953, Stalin ngã gục trong phòng riêng ở biệt thự, nằm dưới sàn gần 1 ngày mà người phục vụ không ai dám vào. Chưa đầy 1 tháng sau đám tang, Liên Xô thả khoảng 1 triệu tù. Cũng mùa hè năm ấy, tù chính trị ở mấy trại lớn nhất tại Norilsk và Vorkuta, những người không có tên trong lệnh ân xá, nổi dậy, rồi bị dẹp bằng súng máy.

Stalin chết rồi, người khác đã được về nhà, cớ sao họ vẫn phải đổ máu?

I - ĐÊM Ở BIỆT THỰ KUNTSEVO

Theo cuốn Cold Peace của Yoram Gorlizki và Oleg Khlevniuk (2 nhà sử học làm việc nhiều năm trong kho lưu trữ của Bộ Chính trị Liên Xô), tối 28 tháng 2 năm 1953, Stalin ở lại Điện Kremlin xem phim, rồi mời 4 người thân cận nhất về biệt thự Kuntsevo ở ngoại ô Moskva uống rượu, đến khoảng 4 giờ sáng mới tan. Cả ngày 1 tháng 3, khác hẳn mọi khi, ông không gọi người phục vụ. Đến 22 giờ 30, phó quản lý biệt thự mang thư vào phòng thì thấy ông nằm dưới sàn. Malenkov và Beria được báo tin trước tiên, vậy mà đến 3 giờ sáng ngày 2 tháng 3 mới có mặt. Khrushchev đến lúc 7 giờ 30. Khoảng 1 tiếng sau bác sĩ mới tới, kết luận lãnh tụ bị xuất huyết não [1].

Lúc ấy những bác sĩ giỏi nhất của Điện Kremlin đang ngồi tù. Cũng theo Cold Peace, đầu năm 1952, giáo sư Vinogradov, bác sĩ riêng của Stalin, thấy sức khỏe lãnh tụ sa sút rõ rệt nên khuyên ông bớt việc. Stalin nổi giận, cho Vinogradov nghỉ. Đến ngày 4 tháng 11 năm 1952, Vinogradov bị bắt cùng hơn 25 bác sĩ khác, bị buộc tội đã chữa chết 2 lãnh đạo cấp cao là Zhdanov và Shcherbakov [2].

Lại nói, lãnh tụ còn thở mà những người quanh giường đã lo việc khác. Trưa ngày 2 tháng 3 họ đã họp. 20 giờ ngày 5 tháng 3, họ mở phiên họp liên tịch Đoàn Chủ tịch và Trung ương để chia lại các ghế. 21 giờ 50 phút hôm ấy Stalin mới tắt thở [3].

Svetlana, con gái ông, có mặt bên giường lúc cuối. Bà viết rằng cơn hấp hối thật khủng khiếp, ông chết ngạt dần ngay trước mắt mọi người. Vào giây phút cuối cùng ông bỗng mở mắt nhìn khắp lượt những người đứng quanh, 1 cái nhìn như điên dại, như giận dữ, đầy nỗi sợ chết [4]. Còn Anne Applebaum thì viết rằng Beria đứng cạnh thi hài mà không giấu nổi vẻ hả hê [5].

Đám tang cũng chẳng yên. Theo Karen Ryan, thi hài Stalin được đặt ở Nhà Hội trường Cột suốt 3 ngày, dân kéo đến đông đến nỗi xảy ra giẫm đạp, khoảng 500 người chết. Rồi ông được đặt nằm cạnh Lênin trong lăng, ở đó 8 năm. Trong dân gian thì bắt đầu có lời đồn rằng Stalin chưa chết thật, mà đang giả làm 1 ông nông dân đi lang thang khắp nước Nga, y như người ta từng đồn về Lênin, trước nữa là về Sa hoàng Alexander I [6].

II - TIN STALIN CHẾT VỀ TỚI TRẠI

Trong cuốn Gulag: A History, Anne Applebaum dành nguyên chương 23 cho những ngày này. Theo bà, mấy năm cuối đời Stalin, tù chính trị mong ông chết lắm mà không ai dám nói ra, vì trong trại đầy chỉ điểm. Họ chỉ thở dài bảo nhau “người Gruzia sống dai lắm”, nói thế thì ai cũng hiểu mà không thành tội phản quốc. Khi ông ốm nặng, 1 bà tù nghe tin từ miệng 1 người bà biết chắc là chỉ điểm, bà chỉ đáp rằng thì sao, ai mà chẳng có lúc ốm, bác sĩ của ông ấy giỏi, sẽ chữa khỏi thôi. Lúc ấy bác sĩ riêng của Stalin cũng đang ở tù [7].

Đến khi tin chết được đọc thì mỗi trại 1 kiểu. Ở Vorkuta, chỉ huy trại đọc thông báo trong nhà ăn, đọc xong cả phòng im như tờ, không ai nói 1 câu, cả chỉ huy lẫn tù. Tù nữ ở Kolyma thì khóc lãnh tụ rất chăm chỉ. Còn tù Vyatlag tung mũ lên trời hô hurra, trên đường phố Magadan có người tù gặp bạn tù thì chúc mừng anh nhân ngày phục sinh [8].

Ở 1 trại tại Norilsk, tù bị gọi ra sân xếp hàng, nghe đọc rằng lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Xô viết và của những người tự do khắp thế giới đã qua đời. Cả sân im 1 lúc lâu. Rồi 1 người tù giơ tay xin nói. Anh thưa với chỉ huy rằng vợ anh có gửi vào tài khoản cho anh ít tiền, ở trong này anh chẳng dùng làm gì, nên xin được lấy số tiền ấy mua 1 bó hoa viếng vị lãnh tụ kính yêu [9].

Cán bộ thì khóc thật. 1 bà làm ở tổng cục Gulag tại Moskva kể rằng hôm ấy cả cơ quan khóc, đàn ông cũng khóc. Applebaum viết họ khóc lãnh tụ thì ít mà lo cho cái ghế của mình thì nhiều, vì ai cũng đoán sắp có 1 đợt thanh trừng mới. Nhiều sếp trại lên huyết áp, có người sốt li bì, Applebaum bảo là ốm vì sợ [10].

Tù thì người mừng người im, mà hầu như ai cũng tin rằng thế nào cũng phải thay đổi. 1 bà đang bị đày ở Karaganda nghe tin, run bắn lên, phải lấy 2 tay che mặt để người làm cùng không thấy mình mừng. Bà nghĩ bụng bây giờ mà không đổi thì chẳng bao giờ đổi nữa [11].

III - BERIA RA TAY

Người ra tay trước tiên là Lavrentiy Beria, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, người nắm công an và hệ thống trại từ cuối năm 1938 [12]. Ngày 6 tháng 3, Stalin còn chưa chôn, Beria đã ra lệnh giao Gulag sang Bộ Tư pháp, chỉ giữ lại các trại đặc biệt giam tù chính trị, rồi chuyển các mỏ, các xưởng của trại sang những bộ kinh tế. Ngày 12 tháng 3, ông cho dừng hơn 20 công trình lớn dùng sức tù, nào kênh Đại Turkmen, kênh Volga-Ural, nào đường hầm ra đảo Sakhalin. Tuyến đường sắt Salekhard-Igarka, mà tù vẫn bảo nhau là con đường chết, bỏ dở từ hôm ấy và không bao giờ làm xong [13].

Ngày 26 tháng 3, Beria gửi lên Đoàn Chủ tịch Trung ương 1 công văn về tình hình các trại. Theo Applebaum và Cold Peace, công văn ghi trong trại lúc ấy có 2.526.402 người, mà chỉ có 221.435 người bị coi là tội phạm nguy hiểm cho nhà nước. Có 438.788 phụ nữ, trong đó 6.286 người đang mang thai, 35.505 người đang nuôi con dưới 2 tuổi ngay trong trại. Có 238.000 người trên 50 tuổi. Có 31.181 em dưới 18 tuổi, phần lớn bị án vì trộm vặt với đánh nhau. Có khoảng 198.000 người mắc bệnh nan y, không còn làm được việc gì [14].

Công văn viết tiếp rằng ai cũng biết người tù bỏ lại bố mẹ, vợ con trong cảnh rất khó khăn, nhà cửa nhiều khi tan nát, hậu quả kéo theo suốt đời [15].

Beria đề nghị ân xá cho mọi người bị án từ 5 năm trở xuống, phụ nữ có thai, phụ nữ có con nhỏ và người dưới 18 tuổi, cộng lại khoảng 1 triệu người. Ngày 27 tháng 3 lệnh ân xá được công bố, người ta ra trại ngay [16]. Theo Cold Peace, chỉ qua mùa xuân và mùa hè năm ấy, số tù trong trại giảm đi 1 nửa [17].

Ngày 4 tháng 4, Beria còn dừng vụ án các bác sĩ, báo Pravda đăng tin những kẻ điều tra sai trái đã bị bắt. Ông ra lệnh cấm công an dùng vũ lực với người bị bắt, tức là cấm tra tấn. Đến ngày 16 tháng 6, ông viết thẳng ra ý định xóa bỏ chế độ lao động khổ sai, vì nó không có hiệu quả kinh tế và không có tương lai [18].

Vì sao Beria làm thế, đến giờ giới sử học vẫn chưa ngã ngũ. Có người cho rằng ông vốn muốn cải cách, chỉ chờ Stalin chết. Đồng chí của ông thì nghi ông muốn công an mạnh hơn Đảng. Applebaum thì nghiêng về 1 lý do đơn giản hơn, ấy là hơn ai hết Beria biết các trại lỗ vốn ra sao và phần lớn tù vô tội thế nào, vì chính ông là người quản trại [19].

IV - NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC ÂN XÁ

Bạn để ý, 1 triệu người được về ấy là tù án ngắn, phần lớn là thường phạm. Còn tù trong các trại đặc biệt thì gần như không ai được ra, vì án của họ là 10 năm, 15 năm, 25 năm. Mấy tháng sau khi Stalin chết, đời sống của họ chỉ khác chút ít. Họ được nhận quà, mỗi năm 1 gói, trại cũng cho các đội bóng trong trại đá với nhau, còn áo vẫn đánh số, tối đến lán vẫn khóa cửa [20].

Phần đông tù trong các trại này là người Tây Ukraine, người Ba Lan, người các nước Baltic, nhiều người từng cầm súng chống Liên Xô sau chiến tranh. Từ năm 1948 họ bị giam riêng, tách khỏi tù thường phạm, nên có thời gian tự tổ chức theo từng nhóm dân tộc. Suốt mấy năm, họ nhịn được là vì còn hy vọng Stalin chết thì sẽ được thả. Stalin chết rồi mà trong trại vẫn y nguyên, họ không nhịn nữa [21].

Ở Gorlag, trại đặc biệt trong khu Norilsk, mùa thu năm trước người ta vừa chuyển tới khoảng 1.200 tù từ Karaganda, toàn người bị án vì hoạt động ở Tây Ukraine và vùng Baltic. Mùa xuân 1953, thấy lệnh ân xá bỏ qua mình, nhóm này tức lắm. Ngày 25 tháng 5, lính áp giải bắn chết 1 người tù trên đường đi làm. Sáng hôm sau, 2 phân trại đình công. Mấy hôm sau, lính lại bắn vào đám tù đang ném thư qua bức tường ngăn trại nam với trại nữ. Ngày 4 tháng 6, tù phá rào khu biệt giam, thả 24 người bị nhốt trong đó, bắt 1 cán bộ trại làm con tin. Lính nổ súng, 5 người chết, 14 người bị thương. Từ đó cả khu Gorlag đình công [22].

Trong khi đó ở Vorkuta, trong trại đặc biệt Rechlag, tù cắt cử người nghe lén đài phương Tây bằng những chiếc radio ăn cắp hoặc mượn được, rồi viết thành bản tin chuyền tay nhau. Nhờ thế họ biết tin Beria bị bắt hồi cuối tháng 6, biết cả tin công nhân Đông Berlin đình công ngày 17 tháng 6 rồi bị xe tăng Liên Xô dẹp. Applebaum dẫn lời John Noble, 1 người Mỹ bị bắt ở Dresden sau chiến tranh, đang ở tù tại đây, rằng mấy ngày liền cả trại chẳng bàn chuyện gì khác, công nhân Berlin đã dám đình công thì mình cũng dám. Ngày 19 tháng 7, 350 tù mới chuyển từ Karaganda tới mỏ số 7 bỏ làm. Tàu than chạy giữa các mỏ cũng do tù lái, thế là tin đình công theo tàu than lan sang các mỏ khác [23].

V - SÚNG MÁY Ở NORILSK VÀ VORKUTA

Trong các trại đình công, sếp trại bỏ chạy hết. Tù tự bầu ra ủy ban đình công, tự lo chia cơm, có nơi còn phải giữ cho đám đông khỏi đánh chết mấy tên chỉ điểm giờ không còn ai che chở. Tù Gorlag căng 1 tấm băng rôn viết “Hỡi các đồng chí, cư dân Norilsk! Hãy giúp chúng tôi đấu tranh”. Không ai đáp lại, vì dân Norilsk phần đông cũng là tù cũ, sợ lắm [24].

Tù đòi gặp người của Moskva, vì họ biết sếp trại ở đây chẳng tự quyết được gì. Và Moskva cử người xuống thật. Applebaum viết rằng trước đó chưa bao giờ có chuyện người của Moskva ngồi nghe tù nói. Ở Vorkuta, tướng Maslennikov mang xuống 1 danh sách nhượng bộ, nào ngày làm 9 tiếng, bỏ số trên áo, được gặp người nhà, được nhận thư và tiền gửi. Nhiều thủ lĩnh đình công không nhận. Ở Norilsk tù cũng trả lời y như thế. Họ chỉ đòi được ân xá như những người đã ra trại hồi tháng 3 [25].

Ở Norilsk, ủy ban của Bộ Nội vụ hứa sẽ xem xét yêu sách, rồi quyết định giải tán bằng vũ lực. Lính vây từng phân trại, gọi tù ra ngoài, ai ra thì hứa không phạt. Ở trại nữ, các bà nắm tay nhau thành 1 vòng tròn, treo 1 lá cờ đen ở giữa để tưởng nhớ những người bạn tù bị bắn oan, rồi la hét suốt 5 tiếng đồng hồ. Lính phải dùng vòi rồng xịt tan vòng tròn mới lôi được người ra. Báo cáo chính thức ghi hôm ấy có 23 người chết. Nhân chứng thì kể qua mấy ngày ở Norilsk chết tới vài trăm người [26].

Ở Vorkuta, tướng Maslennikov hứa sẽ xem lại án cho tất cả, hứa không bắn thủ lĩnh, phần lớn tù tin ông nên ra khỏi trại. Chỉ có trại bên mỏ số 29 là không tin. Lính kéo xe cứu hỏa tới định xịt nước, tù khoác tay nhau thành 1 bức tường người tiến lên, đẩy cả chiếc xe ra khỏi cổng. Lính bắn 1 loạt thẳng vào đám đông, rồi loạt thứ 2, thứ 3, thứ 4, rồi đến súng máy hạng nặng. Báo cáo chính thức ghi 42 người chết, 135 người bị thương. Nhân chứng thì nói thương vong lên tới hàng trăm [27].

Còn Beria, người ký lệnh ân xá, thì đã bị bắt từ cuối tháng 6, giữa 2 cuộc đình công. Tháng 12 ông bị đem ra xử. Applebaum viết rằng ông bị bắn sau phiên tòa hay đã bị bắn từ trước, đến giờ không ai biết chắc, chỉ biết đến cuối năm 1953 thì ông không còn sống [28].

Những người thay ông bỏ đi khá nhiều việc ông làm. Có điều họ không thu hồi lệnh ân xá, cũng chẳng ai cho làm lại mấy công trình lớn đã dừng, tù vẫn tiếp tục được thả dần. Theo Applebaum, cả Bộ Chính trị đều biết trại lỗ và phần lớn tù vô tội, chứ chẳng riêng gì Beria [29].

Trong trại thì chưa bao giờ yên lại hẳn. Tháng 11 năm 1953, 530 tù ở Vyatlag bỏ làm đòi tăng lương. Trại đồng ý, hôm sau họ lại bỏ làm, lần này đòi được hưởng lệnh ân xá của Beria. Thủ lĩnh bị bắt, đình công tan [30].

John Noble về sau bị chuyển sang làm ở chính mỏ số 29. Ông kể những người sống sót ở đó vạch áo cho ông xem vết đạn, ai cũng có vẻ tự hào về mấy cái sẹo ấy [31].

P/S: Năm 2008, Paul Gregory ở Viện Hoover xuất bản 1 cuốn sách viết từ hồ sơ mật của Liên Xô, trong đó có tờ trình Beria gửi Stalin đề nghị bắn các sĩ quan, cảnh sát Ba Lan bị bắt năm 1939, xét án “không cần gọi người bị bắt tới, không cần nêu tội danh”. Tờ trình được duyệt, khoảng 22.000 người Ba Lan bị bắn, rừng Katyn chỉ là 1 trong mấy nơi. Tờ trình ấy đề ngày 5 tháng 3 năm 1940. Đúng 13 năm sau, ngày 5 tháng 3 năm 1953, Stalin chết [32].

Nguồn:

[1], [2], [3] - Cold Peace: Stalin and the Soviet Ruling Circle, 1945-1953 - Yoram Gorlizki và Oleg Khlevniuk, Oxford University Press 2004, chương 6 Stalin’s Last Struggle. [4], [5], [7], [8], [9], [10], [11], [13], [15], [16], [18], [19], [20], [21], [28], [29] - Gulag: A History - Anne Applebaum, Anchor 2004, chương 23 The Death of Stalin. Lời Svetlana ở [4] là lời đề từ đầu chương. [6] - Stalin in Russian Satire, 1917-1991 - Karen L. Ryan, University of Wisconsin Press 2009, chương 6 The Corpse and the Revenant. [12], [32] - Lenin’s Brain and Other Tales from the Secret Soviet Archives - Paul R. Gregory, Hoover Institution Press 2008, chương 1 “Scurrilous Provocation”: The Katyn Massacre. [14] - Cold Peace - Yoram Gorlizki và Oleg Khlevniuk, chương 5 Awakening to Crisis. Các con số trong công văn cũng có ở Gulag: A History của Applebaum, chương 23. [17] - Cold Peace - Yoram Gorlizki và Oleg Khlevniuk, phần Kết luận. [22], [23], [24], [25], [26], [27], [30], [31] - Gulag: A History - Anne Applebaum, chương 24 The Zeks’ Revolution.