Chuyện quân Mông Cổ 3 lần sang đánh nước ta, người Việt đi học ai cũng thuộc: hội nghị Diên Hồng, Hịch tướng sĩ, cọc Bạch Đằng… Nhưng mình toàn nghe kể từ phía mình, còn cũng đạo quân ấy, người ở châu lục khác nhìn nó ra sao thì mình ít khi được biết. Mình lôi mấy cuốn của các sử gia phương Tây ra đọc, trong đó họ dẫn lại rất nhiều ghi chép của người châu Âu và người Hồi giáo thời đó, có người tận mắt thấy, có người chạy nạn rồi ngồi viết lại. Nguồn của các bên nhiều chỗ ghi chép khác nhau, nhất là số quân và số người chết, chỗ nào có khác biệt mình ghi cả 2 để bạn đọc tự so.

I - NGƯỜI HỒI GIÁO HỨNG ĐÒN TRƯỚC

Người Hồi giáo hứng đòn trước mình mấy chục năm. Từ năm 1219, quân Thành Cát Tư Hãn đánh sang đế quốc Khwarazm ở Trung Á và Iran. Peter Jackson, trong cuốn The Mongols and the Islamic World, dẫn lời sử gia Ibn al-Athir ở Mosul: ông né chuyện này nhiều năm không dám viết vì quá kinh hãi, rồi tự hỏi ai có thể dễ dàng viết cáo phó cho đạo Hồi và người Hồi giáo. Ông so rằng từ lúc có trời đất chưa có tai họa nào như vậy, kể cả việc vua Nebuchadnezzar phá Jerusalem, rồi bảo ngay cả quỷ Dajjal ngày tận thế còn tha cho kẻ theo mình, còn quân Mông Cổ thì không tha ai [1].

Cũng Ibn al-Athir ghi lại chuyện 1 lính Mông Cổ đi 1 mình vào 1 thành đã bị chiếm, giết lần lượt mấy người dân, họ cứ đứng yên để bị giết, có người còn nghe lời đứng chờ tại chỗ cho tên lính đi lấy kiếm quay lại [1]. Juvaini, 1 quan chức Ba Tư làm việc cho chính người Mông Cổ, ghi lời 1 người trốn thoát khỏi Bukhara: “They came, they sapped, they burnt, they slew, they plundered, and they departed”, tức là họ tới, họ đào tường, họ đốt, họ giết, họ cướp rồi họ đi [2].

Các con số trong nguồn Hồi giáo thì lớn tới mức khó tin. Ở Merv, Ibn al-Athir nghe nói khoảng 700.000 người bị giết, người cung cấp tin cho Juvaini thì bảo hơn 1.300.000. Ở Herat, Juzjani đưa ra con số 2.400.000, cách tính là lấy 600.000 người chết ở 1 khu phố rồi nhân 4, cứ như thành phố nào cũng có đúng 4 khu đông người như nhau. Jackson bảo những con số ấy không thể tin được, theo ông các con số nghe hợp lý hơn thì nhỏ hơn nhiều, như hơn 40.000 người ở Qazvin, khoảng 70.000 ở Sabzawar. Ông cũng lưu ý người Mông Cổ đếm xác bằng cách cắt tai, và chính họ cũng cố tình thổi phồng số người chết để dọa các thành khác [1]. Năm 1258 tới lượt Baghdad. Vị khalip cuối cùng bị cuộn trong nỉ rồi đánh cho tới chết, vì người Mông Cổ kiêng làm đổ máu người hoàng tộc xuống đất.

Người Hồi giáo thời đó tìm đủ cách giải thích tai họa. Juvaini viết rằng ở Bukhara, Thành Cát Tư Hãn trèo lên bục giảng thánh đường, bảo dân chúng rằng họ phạm tội lớn nên trời mới sai 1 hình phạt như ông tới. Chuyện nghe rất hay, nhưng Timothy May trong cuốn The Mongol Empire cho rằng bài giảng này nhiều khả năng không có thật, vì chỉ những người viết sử ăn lương nhà Mông Cổ mới kể, còn Ibn al-Athir tả trận Bukhara không hề nhắc 1 chữ [3]. Phải tới năm 1260, quân Mamluk ở Ai Cập mới đánh bại được Mông Cổ ở Ain Jalut [4].

II - CHÂU ÂU TỪ MỪNG RỠ TỚI KINH HÃI

Người châu Âu thì ngây thơ hơn, lúc đầu còn tưởng người Mông Cổ là đồng minh. Theo Peter Jackson trong cuốn The Mongols and the West, năm 1221 các thủ lĩnh cuộc Thập tự chinh thứ 5 ở Ai Cập gửi thư về báo tin có 1 đạo quân Cơ đốc giáo dưới quyền 1 vị vua tên David đang từ phương Đông tới đánh người Hồi giáo [5].

Chẳng bao lâu thì hết mừng. Tu sĩ người Anh Matthew Paris ghi rằng năm 1238 ở cảng Yarmouth bên Anh cá trích ế đầy, vì thương lái vùng biển Baltic sợ quân Mông Cổ nên không dám rời cảng [5]. Lúc ấy quân Mông Cổ còn đang đánh tận nước Nga, cách nước Anh mấy nghìn cây số, vậy mà dân buôn cá Anh đã phải bán rẻ hàng! Cái tên Tartar mà châu Âu dùng về sau dính với chữ Tartarus, tức địa ngục trong thần thoại cổ, còn Matthew Paris thì tự hỏi dân tộc này đã nấp ở đâu suốt bao lâu nay [5].

Năm 1241 quân Mông Cổ đánh thẳng vào Ba Lan và Hungary. Ngày 9/4/1241 ở Legnica, quân Mông Cổ cắt 1 bên tai của mỗi xác chết, gom được 9 bao lớn gửi về cho Batu. Công tước Henry xứ Silesia tử trận, xác bị lột trần, bị chém nát tới mức vợ ông chỉ nhận ra nhờ bàn chân trái ông có 6 ngón [6]. Ngay hôm sau ở Mohi, quân Hungary thua tan, trong số người chết có 2 tổng giám mục và 3 giám mục. Thomas xứ Split tả 2 thị trấn bị cướp phá tới mức không còn lấy 1 người đàn ông đứng tè vào tường [5].

Người châu Âu thời đó còn thêu dệt về họ đủ thứ chuyện. Người Hungary tả họ là bọn Tartar mặt chó (có lẽ vì cái mũ lông họ đội), còn thư của Ivo xứ Narbonne thì viết rằng các hoàng tử Mông Cổ có đầu chó, lính ăn thịt người chết [6]. Năm 1242 quân Mông Cổ bất ngờ rút về, sau khi đại hãn Ögedei chết cuối năm 1241, châu Âu thở phào. Jackson thì nghiêng về khả năng chiến dịch ấy vốn chỉ nhằm trừng phạt vua Hungary, nghĩa là người Mông Cổ chưa hề dốc sức đánh châu Âu [5].

III - QUÂN MÔNG CỔ Ở ĐẠI VIỆT

Giờ quay về nước mình. Năm 1257, tướng Ngột Lương Hợp Thai (sách phương Tây ghi là Uriyangqadai) từ Vân Nam kéo xuống, vào được Thăng Long. Sử mình ghi quân Trần phá quân Mông Cổ ở Đông Bộ Đầu đầu năm 1258, quân Mông Cổ phải rút về. Các sử gia phương Tây, vốn dựa nhiều vào nguồn phía quân Nguyên, thì kể theo 1 cách khác. Morris Rossabi, người viết tiểu sử Hốt Tất Liệt, tả quân Mông Cổ kiệt sức vì cái nóng, rừng rậm, côn trùng và muỗi [7]. John Man bảo họ rút khá vội vì nóng, sốt rét và sức kháng cự quyết liệt [8]. James Delgado thì viết người Việt bỏ kinh thành vào rừng đánh du kích [9]. Bên mình ghi trận thắng, bên họ ghi khí hậu và bệnh tật, mình thấy 2 cách viết sử này không loại trừ nhau.

Sau đó nhà Trần vẫn gửi cống phẩm nhưng từ chối 6 điều Mông Cổ đòi, trong đó có việc vua phải đích thân sang chầu, gửi con tin và nhận 1 quan cai trị Mông Cổ ngồi ở kinh đô. Chi tiết này mình lấy từ Jung-pang Lo, sử gia người Mỹ gốc Hoa, cháu ngoại nhà cải cách Khang Hữu Vi, từng dạy sử ở Đại học California, Davis. Cuốn China as a Sea Power của ông dựa chủ yếu vào lịch sử nhà Nguyên, có đối chiếu Đại Việt sử ký toàn thư qua sách của học giả Nhật Yamamoto Tatsuro, nên chỗ nào ông lấy từ Nguyên sử mình sẽ ghi rõ [10].

Tới năm 1285, riêng số quân các nguồn đã ghi khác nhau rất xa. Sử mình ghi quân Nguyên kéo sang 50 vạn (nửa triệu người), John Man ghi đạo quân của Thoát Hoan được nói là 30 vạn, có nguồn nói 50 vạn [11], còn mấy cuốn khác lại đưa ra những con số nhỏ hơn nhiều. Lo dẫn Toàn thư kể cảnh vua Trần hỏi các bô lão, cả vạn người cùng hô 1 tiếng đánh [10]. Man dịch khá dài Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo sang tiếng Anh, có nhắc chuyện binh lính thích chữ Sát Thát [11]. Chỗ tướng Toa Đô tử trận thì mỗi sách ghi 1 nơi, Lo ghi là bị giết lúc chạy qua sông sau trận Chương Dương [10], Rossabi ghi ở vùng biên giới, John Man ghi Tây Kết, trùng với sử mình [11].

Rồi ngày 1/2/1286, theo Lo, Hốt Tất Liệt ra chiếu hủy lần đánh Nhật Bản thứ 3, lý do ông nêu là Nhật không xâm phạm mình, còn An Nam mới đang đe dọa biên giới [10]. Người Nhật hay kể bão thần kamikaze cứu họ 2 lần, còn lần đánh thứ 3 bị hủy thì theo chính chiếu của Hốt Tất Liệt, lý do là An Nam.

Lần thứ 3, năm 1287 tới 1288, Nguyên sử theo Lo dẫn lại ghi quân Nguyên có 94.000 người, chưa kể thủy thủ trên 500 chiến thuyền và thuyền vận tải [10], sử mình thì ghi con số lớn hơn nhiều, 2 bên chênh nhau khá xa. Đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị Trần Khánh Dư đánh tan ở Vân Đồn, quân Nguyên vào Thăng Long thì thành trống trơn, không còn hạt gạo [10].

Ngày 9/4/1288, thủy quân Nguyên đi ngang cửa sông Bạch Đằng lúc nước lên, thuyền Việt ra khiêu chiến rồi rút vào sông, nhử quân Nguyên đuổi theo, tới khi nước rút thì lộ ra hàng cọc gỗ cắm dưới lòng sông, có phủ lau sậy che. Thuyền Nguyên mắc cọc, hàng ngàn lính nhảy xuống nước chết đuối, tướng Ô Mã Nhi bị bắt, 1 tướng Nguyên khác bị thương nhảy xuống sông thì bị móc câu kéo lên giết. Trận đánh kéo dài từ sáng tới tối, Lo dẫn Toàn thư cho biết 400 chiến thuyền Nguyên bị bắt. Về sau vua Trần trả Ô Mã Nhi về nước, Lo ghi rằng Trần Hưng Đạo đã sắp xếp cho con thuyền chở Ô Mã Nhi chìm giữa biển [10].

Thoát Hoan chạy về theo đường mòn, bị Hốt Tất Liệt cấm về triều và đày đi giữ 1 chức hư danh ở Dương Châu [12]. Lo cho biết Hốt Tất Liệt vẫn chưa bỏ ý định, tới năm 1293 đã gom khoảng 65.000 quân và 1.000 thuyền cho lần thứ 4, rồi ông chết đầu năm 1294, vua mới cho dừng hẳn [10]. Delgado viết rằng trách nhiệm cho các thất bại ở Nhật, Việt Nam và Java nằm ở chính Hốt Tất Liệt, ông còn cho rằng vì quân Nguyên thua cả ở Việt Nam lẫn Java nên chuyện Nhật Bản thoát nạn chỉ nhờ bão thần đáng bị nghi ngờ [9]. John Man thì kết chương về Việt Nam bằng 1 lời khuyên nửa đùa nửa thật, đại ý là đừng bao giờ dây vào người miền Bắc Việt Nam, bài học mà theo ông cả Hốt Tất Liệt lẫn người Mỹ đều sẽ gật đầu [11]. Đánh thắng rồi, nhà Trần vẫn sai sứ sang Nguyên, trả tù binh, giữ hòa hiếu [10].

Cọc Bạch Đằng thì vẫn còn. Delgado tả khúc sông ấy bây giờ thuộc xã Yên Giang, dân ở đó sống bằng trồng lúa và nuôi cá. Cọc lộ ra lần đầu năm 1953 khi người ta đắp đê cắt qua lớp phù sa, năm 1959 các nhà khảo cổ đào lên 1 số cây đem về trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử tại Hà Nội. Cuối năm 2005, dân đào ao nuôi cá lại gặp thêm cọc, vẫn cắm nghiêng khoảng 45 độ như lúc được đóng xuống hơn 700 năm trước [9].

P/S: Các câu trích và con số trong bài mình đã đối chiếu lại với bản gốc. Những chỗ ghi sử mình chép là theo cách chép quen thuộc trong Đại Việt sử ký toàn thư và sách sử phổ thông của mình.

Nguồn:

[1] - The Mongols and the Islamic World - Peter Jackson, chương 6, dẫn biên niên al-Kamil của Ibn al-Athir, sử của Juvaini và Juzjani. [2] - The Mongols and the Islamic World - Peter Jackson, phần Kết, dẫn Juvaini. [3] - The Mongol Empire - Timothy May, chương 12. [4] - The Mongols and the Islamic World - Peter Jackson, chương 5. [5] - The Mongols and the West, 1221 to 1410 - Peter Jackson, dẫn Chronica majora của Matthew Paris và ghi chép của Thomas xứ Split. [6] - The Devil’s Horsemen: The Mongol Invasion of Europe - James Chambers, dẫn thư của Ivo xứ Narbonne. [7] - Khubilai Khan: His Life and Times - Morris Rossabi, chương 2. [8] - Kublai Khan - John Man, chương 3. [9] - Khubilai Khan’s Lost Fleet - James P. Delgado. [10] - China as a Sea Power, 1127 to 1368 - Jung-pang Lo (Bruce Elleman biên tập), dẫn Nguyên sử và Đại Việt sử ký toàn thư. [11] - Kublai Khan - John Man, chương 15. [12] - Khubilai Khan: His Life and Times - Morris Rossabi, chương 8.