Ông Thái Gia Tiến ở xã Tường Sơn, Anh Sơn, Nghệ An, năm nay 72 tuổi, là thương binh, lính Trung đoàn 1 U Minh. Năm 1991 ông nằm mơ thấy Đinh Viết Thỏa, người bạn cùng quê đã hy sinh. Tỉnh dậy ông bắt đầu đi tìm, và đi suốt từ đó tới giờ, đã giúp 16 gia đình đón được hài cốt người thân về.
Báo Dân trí hỏi ông vì sao làm việc này. Ông trả lời: “tôi trở về với thân phận thương binh, còn nhiều đồng đội thì mãi mãi nằm lại chiến trường, nghĩ vậy tôi không cho phép mình an nhàn”.
Ông mất 1 phần thân thể trong chiến tranh, theo lẽ thường thì ông đã trả đủ. Vậy mà chính ông lại thấy mình còn nợ.
Bác sĩ Trần Văn Bản đi tìm từ năm 1978 tới nay, giữ gần 50 cuốn sổ tay và hơn 240 sơ đồ, ông nói với báo Sức khỏe và Đời sống: “đó là lời hứa của chúng tôi với đồng đội”. Đọc 1 loạt bài về những người như vậy thì thấy họ dùng gần như cùng 1 bộ từ, dù ở các tỉnh khác nhau, đơn vị khác nhau, chưa từng gặp nhau: món nợ, lời hứa, day dứt.
Toàn là chữ của người đang mắc nợ ai đó.
I - NGÀNH TÂM THẦN NĂM 1968
Năm 1968, bác sĩ tâm thần người Mỹ William Niederland mô tả 1 dạng đau khổ ông thấy ở những người sống sót trại tập trung Đức Quốc xã. Họ không chỉ sợ hãi hay đau buồn, họ còn mang cảm giác có lỗi vì mình còn sống. Ông mô tả nó thành hội chứng người sống sót.
Năm 1980, khi Mỹ đưa rối loạn stress sau sang chấn vào bảng phân loại bệnh dưới sức ép của phong trào cựu binh trở về từ Việt Nam, mặc cảm sống sót được liệt kê vào đó như 1 triệu chứng. Rồi qua các lần sửa nó bị hạ dần, tới bản 2013 thì mất hẳn mục riêng, và nhiều nhà lâm sàng phàn nàn rằng chính vì bị hòa vào nhóm chung như vậy mà nó ít được nghiên cứu hẳn đi.
Về tỷ lệ thì chỉ có số nước ngoài. 1 nghiên cứu năm 1991 trên cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam thấy 46% có mặc cảm sống sót. Còn cựu binh Việt Nam thì mình chưa thấy có 1 khảo sát nào cả.
II - VÌ SAO NGƯỜI TA TỰ NHẬN LỖI CHO 1 CHUYỆN NGẪU NHIÊN
Chuyện ai sống ai chết trong 1 trận đánh phần lớn là ngẫu nhiên: viên đạn đi lệch nửa mét, đứng bên trái hay bên phải, hôm đó được phân công đi đâu. Người sống sót biết rõ điều đó. Vậy vì sao họ vẫn tự nhận lỗi?
Cơ chế thứ nhất là thiên kiến nhận thức muộn, Baruch Fischhoff mô tả từ 1975. Sau khi biết kết cục rồi, người ta tin rằng lẽ ra mình đã có thể đoán trước. Trong ký ức của người sống sót, những dấu hiệu vốn mờ nhạt, lẫn giữa hàng trăm dấu hiệu khác, bỗng nổi bật hẳn lên, thành ra cái chết của đồng đội trở nên có thể thấy trước, mà thấy trước được thì đáng lẽ ngăn được.
Cơ chế thứ 2 là tư duy phản thực. Đầu óc tự động nghĩ ra các kịch bản giá như. Giá như tôi hét lên. Giá như tôi không xin đi hướng đó. Mỗi kịch bản nghĩ ra là 1 lần đem hiện thực đo với 1 hiện thực khác đẹp hơn, và khoảng cách giữa 2 cái đó là chỗ mặc cảm sinh ra.
Trong Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng có 1 chuyện: 2 người phải qua 1 cây cầu địch giữ, chỉ 1 người đi trước. Anh tự nguyện đi. Người đồng đội lôi anh xuống, nói tôi đi, đồng chí có vợ con, rủi có hy sinh thì vợ con đồng chí sẽ cực khổ lắm. Người kia băng lên cầu và hy sinh mấy giây sau đó. Anh trở về đơn vị như kẻ mất hồn.
Ở đây không có lỗi nào cả. Anh đã tình nguyện đi trước và bị gạt lại. Nhưng chuỗi sự việc đó để lại 1 ý nghĩ day dứt: người kia chết vì mình có vợ con.
Cơ chế thứ 3 giải thích vì sao người ta bám lấy cái lỗi đó thay vì buông bỏ. Trong nghiên cứu về người mất thân nhân do tự sát, Alison Wertheimer ghi lại 1 kịch bản thầm kín mà người ở lại tự nói với mình: nếu tôi chịu trách nhiệm cho cái chết này thì dù nó làm tôi thấy tồi tệ tới đâu, vẫn còn hơn cảm giác bất lực. 1 cuốn sổ tay trị liệu cho nạn nhân bạo lực viết rõ hơn: tự đổ lỗi có tác dụng bảo vệ, vì nó giúp người ta giữ được cảm giác kiểm soát trong đúng tình huống họ chẳng kiểm soát được gì.
III - LẼ RA NGƯỜI NẰM XUỐNG PHẢI LÀ TÔI
Bác sĩ tâm thần Jonathan Shay, người điều trị khoảng 200 cựu binh Mỹ trong hơn 20 năm, có riêng 1 chương trong sách đặt tên là tội lỗi và sự thế chỗ sai. Ý của cụm đó là người sống sót tin rằng đã có sự nhầm lẫn trong việc phân chia sống chết, chỗ của người kia đáng lẽ là chỗ của mình.
Nhà văn Đình Kính viết ra ý này trong Sóng chìm: đã dành phần sống của người khác thì dù tồn tại cũng coi như đã chết.
Câu đó giả định số suất “còn sống” là có hạn, ai đó nhận 1 suất thì người khác mất 1 suất, và cái chết của đồng đội không phải chuyện xảy ra song song với việc mình sống, nó là cái giá trả cho việc mình sống. Trên chiến trường thì đôi khi đúng như vậy thật, người đi trước hứng đạn thì người đi sau qua được. Nhưng người mang mặc cảm đem cách tính đó áp lên cả những cái chết không liên quan gì tới mình, và 1 khi đã tin là mình cầm phần sống của người khác thì phần sống ấy không còn là của mình nữa, nó thành đồ giữ hộ.
Thành ra mấy chục năm sau người ta vẫn không yên. Đồ giữ hộ thì phải trả.
IV - MÓN NỢ ĐÒI ĐƯỢC TRẢ BẰNG VIỆC LÀM
Năm 1994, 1 tổng quan của nhóm Roy Baumeister lập luận rằng tội lỗi không phải cảm xúc hướng vào trong, nó là cảm xúc giữa người với người, và chức năng của nó là đẩy người ta đi sửa chữa, đi giúp đỡ thân nhân của người đã mất.
Khổ nỗi với người lính sống sót, anh bạn lính kia đã chết rồi. Không xin lỗi được, không đền được, không có cách nào cứu được họ. Cái duy nhất còn làm được là những việc hướng về người đó, và trong văn hóa mình thì việc rõ nhất là tìm được xác, đưa về, cho họ có mộ có hương khói.
Cũng Đình Kính, trong Huyền thoại tàu không số có viết đại ý: họ đâu biết tôi biểu hiện cái gọi là dũng cảm ấy chỉ vì muốn chuộc lại chút nợ, tôi chỉ vì mình.
Câu đó do chính người trong cuộc nói ra. Người ngoài nhìn vào thấy dũng cảm, thấy nghĩa tình, thấy hy sinh. Người bên trong biết mình đang trả nợ, đang sửa lỗi lầm. Mà đã là trả nợ thì không có chỗ cho lòng biết ơn của ai hết, người ta trả xong thì mới bớt day dứt, mới sống yên được, chứ không phải trả để được khen ngợi.
V - CŨNG MÓN NỢ ẤY LÀM HỌ KHÔNG NHẬN GÌ CHO BẢN THÂN
Món nợ đó đẩy người ta đi làm việc cho người đã chết. Nó cũng làm người ta không dám nhận phần của chính mình.
Vẫn Đình Kính, ghi lời 1 cựu binh nói về quyền lợi của mình: chuyện của mình ừ thì cho rằng có cái gì đó chưa hợp lẽ, nhưng so với nhiều anh em chẳng bao giờ trở về nữa thì có thấm gì đâu, đòi hỏi 1 cái gì thêm họ cứ mặc cảm như có lỗi với những anh em đã hy sinh.
Người này biết mình bị thiệt, biết cái thiệt đó là chưa hợp tình hợp lý. Nhưng anh ta không lấy mình ra làm chuẩn để so đo tính toán, anh ta lấy người đã hy sinh. Mà đã so với người đã mất thì mọi thiệt thòi của người sống đều thành việc nhỏ, và mọi đòi hỏi đều thành có lỗi. Không ai bắt anh ta so như vậy, tự anh ta chọn cái thước đo đó.
Ở Việt Nam, chuyện thương binh đủ điều kiện mà không làm hồ sơ vì mặc cảm gần như không được ghi nhận thành hệ thống, không thống kê, không nghiên cứu. Văn học ghi rất kỹ cái thái độ, còn hành vi thực tế thì chưa ai thống kê. Mà cũng đừng lẫn với chuyện khác, rất nhiều người không làm được hồ sơ vì mất giấy tờ gốc, thất lạc qua bom đạn và mấy lần chuyển kho, cái đó là chuyện thủ tục.
VI - ĐỒNG ĐỘI
Trong Ăn mày dĩ vãng, nhân vật Ba Thành nói với người nước ngoài, đại ý thằng lính Việt Nam sau hậu chiến khổ thật, khổ như chó, nhưng chả có tâm thần tâm thiếc sám hối sám hiếc gì cả. Rồi ông chốt lại: ráo trọi những thằng tỏ ra sám hối, tỏ ra bệnh hoạn đều là lính rởm hết.
Chu Lai không bịa câu này ra, ông từng là lính đặc công và ông viết đúng giọng trong giới. Cái áp lực buộc người lính phải im đến từ chính đồng đội, chứ nhà nước hay dân thường thì không ai nói câu đó. Ý ông không phải chê ai yếu đuối, nhưng suy nghĩ đó tước luôn tư cách: ai thừa nhận mình tổn thương thì không phải lính thật.
Với người đang mang mặc cảm sống sót thì nghe câu đó là thôi hẳn. Anh ta vốn đã tự thấy mình không xứng để nhận công nhận cán gì, giờ nói ra thì khác gì mình ăn bám, mình yếu đuối, mất nốt chỗ đứng trong nhóm người duy nhất hiểu anh ta.
Trong tâm lý học, khi cảm xúc bùng lên là xấu hổ thì người ta tự tách khỏi mọi người, gia đình với bạn bè thành ra không đỡ đần được gì, rồi chính vì không được đỡ đần nên lại càng xa lánh hơn.
VII - TRẢ NỢ THÌ NHẸ ĐI HAY NẶNG THÊM
Mấy chục năm lặn lội đi tìm hài cốt đồng đội có làm người ta nhẹ lòng hơn không, hay nó giữ người ta ở lại mãi trong cái ngày đó?
Chưa ai chứng minh được. Không có nghiên cứu nào trên thế giới đo tác động tâm lý của việc quy tập hài cốt lên chính người đi làm việc đó, càng không có ở Việt Nam. Những gì mình viết dưới đây là suy từ lý thuyết ra.
Nhóm June Tangney tách bạch tội lỗi với xấu hổ. Tội lỗi hướng vào hành vi, tôi đã làm 1 việc tồi, và nó đẩy người ta đi sửa chữa. Xấu hổ hướng vào con người, tôi là kẻ tồi, và nó đẩy người ta tới né tránh, thu mình.
2 người có thể làm cùng 1 việc là đi tìm đồng đội.
Người thứ nhất mang cảm giác tội lỗi. Việc đi tìm là món nợ anh ta trả, trả được bao nhiêu thì nhẹ bấy nhiêu, tìm thấy 1 bộ hài cốt là 1 lần thấy mình còn làm được gì đó.
Người thứ 2 mang cảm giác xấu hổ. Cái anh ta tin là mình không đáng sống, mà chuyện đó thì đi tìm bao nhiêu bộ hài cốt cũng không giúp được gì, nên mỗi lần tìm chỉ là 1 lần nhắc lại rằng mình còn nợ.
Nelissen và Zeelenberg năm 2009 thấy khi người mang tội lỗi không có cơ hội đền bù thật, họ chuyển sang tự làm đau chính mình. Đây mới là thí nghiệm đơn lẻ nên chỉ nên coi là gợi ý. Có điều phần lớn liệt sĩ sẽ không bao giờ được tìm thấy, tức là món nợ này về bản chất không trả hết được. Edwin Shneidman, 1 trong những người mở đường cho ngành nghiên cứu tự sát, cũng ghi nhận có người khi được đề nghị giúp đỡ lại muốn giữ lấy nỗi khổ của mình, vì tin rằng mình đáng bị trừng phạt.
1 dòng nghiên cứu về người tị nạn Campuchia thì lại đề nghị coi trạng thái này là đau buồn văn hóa, tức phản ứng bình thường của con người trong nền văn hóa đó chứ không phải bệnh cần chữa.
Trong nghiên cứu về người mất thân nhân do tự sát còn có 1 quan sát lâm sàng khác. Mong muốn đi cứu người khác vừa có thể là chữa lành thật sự, vừa có thể là cách người ta đẩy những cảm xúc mình không chịu nổi sang chỗ khác. Dồn hết chú ý vào việc cứu người khác thì người cần được cứu là những người kia, chứ không phải mình.
Áp vào chuyện đi tìm hài cốt thì chừng nào ngoài kia còn người chưa được đưa về, người cựu binh còn có việc để làm, và còn việc để làm thì chưa phải ngồi xuống nhìn lại chính mình.
Mấy nghiên cứu mình dẫn ở trên làm trên người mất thân nhân do tự sát chứ không phải cựu binh, mình lấy phần cơ chế chứ không lấy số liệu.
Vậy nên khi thấy 1 ông cụ 70 tuổi vẫn lặn lội trong rừng tìm đồng đội và nói làm việc này ông thấy thanh thản, thì cũng chưa biết cái thanh thản đó từ đâu ra. Có thể ông đã nguôi thật. Cũng có thể ông vẫn còn việc để làm nên chưa phải ngồi xuống.
Ông Thái Gia Tiến, sau khi giúp 16 gia đình đón được người thân về, nói với báo 1 câu nữa: vẫn còn mấy trăm đồng đội chưa được tìm thấy.