Năm 1496, ở khoa thi Đình có 2 bài thi được điểm ngang nhau. Vua Lê Thánh Tông nhớ đêm trước nằm mơ thấy hổ ăn đầu người, bèn chọn người tên Viên làm Trạng nguyên.
Theo sách của Trần Hồng Đức thì vua vốn giỏi chữ nghĩa, thấy chữ Viên (con khỉ) với chữ Hổ “có nét giống nhau, âu là điềm trời báo trước chăng?”. Cho ông đỗ Trạng nguyên xong, vua còn đổi tên ông thành Viện “để tránh điềm gở trong giấc mơ kia” [2].
Cũng khoa ấy, thi Hội chọn được 43 người đỗ, đến lúc vào điện thi Đình thì theo Đăng Khoa Lục Sưu Giảng của Trần Tiến, “vua xét dung mạo lấy 30 người” [1]. Tức là có 13 ông đã qua đủ 4 kỳ thi mà vẫn bị loại, chỉ vì cái mặt.
Trần Tiến ghi lại chuyện này vào sách ở thế kỷ 18, rồi ông kêu lên: “ôi! Khoa danh trúng hay không, thứ bực cao hay thấp, phải chăng có tiền định”. Ông khuyên người đi thi lo làm việc phúc đức, “chứ đừng chỉ cậy là có văn chương và sức học của mình” [1].
Người ta hay bảo khoa cử ngày xưa là cái cân để đo tài học, ai học giỏi thì đỗ. Vậy sao chính người trong cuộc lại đi khuyên nhau đừng cậy sức học?
I - CÙNG 1 BÀI VĂN, NGƯỜI BẮC TRƯỢT MÀ NGƯỜI NAM ĐỖ
Từ năm 1834, nhà Nguyễn bắt các quan trường thi Hương đánh dấu bằng mực màu lên bìa từng bài thi, mỗi quê 1 màu. Ở trường Thừa Thiên, người Thừa Thiên màu vàng, Quảng Bình màu xanh, Quảng Trị màu đỏ, Quảng Nam màu đen [3].
Rồi triều đình chia suất đỗ theo màu: bài dấu vàng, dấu lục mỗi loại cho đỗ 8 người, dấu xanh, dấu đen mỗi loại 7 người, dấu đỏ 5 người, cộng lại cho đủ 35 cử nhân. Đỗ Thị Hương Thảo viết, làm thế để “giúp cho các giám khảo không lấy vượt quá số người mà mỗi tỉnh được phép lấy” [3]. Nói nôm na, chưa đọc chữ nào trong bài, người chấm đã biết bài này của người quê nào, quê ấy còn mấy suất.
Đã chia suất thì trường nhiều trường ít. Khoa thi Hương năm 1858, trường Hà Nội cứ 152 người thi mới có 1 người đỗ cử nhân, trường Nghệ An 191 người, còn trường Gia Định chỉ 75 người. Sách ước chung cả miền Bắc 150 người thi mới đỗ 1, miền Nam khoảng 45 [4].
Gia Định có khoa còn thiếu cả người để đỗ. Năm 1843, trường ấy không chọn đủ số cử nhân được chia, triều đình đành cho 1 ông tú tài tên Nguyễn Đức Nhuận lên luôn hàng cử nhân “cho đủ” [4].
Năm 1826, thi Hội có 9 người đỗ, cả 9 đều là người Bắc. Vua Minh Mệnh hỏi thẳng: “Nam Bắc đều là tôi con của trẫm… học lực tưởng cũng không hơn kém nhau, thế mà nay 9 quyển đỗ đều là người Bắc là sao thế?”, rồi bảo chọn thêm 1, 2 người trong Nam cho đỗ “để cổ lệ sĩ phong” [4]. 40 năm sau, đến lượt Tự Đức ghi trong 1 lời phê bằng mực son là từ Nghệ An trở ra Bắc “có truyền thống văn học lâu đời” nên số người đỗ thi Hội hơn phía Nam 2, 3 lần, vì vậy mới cho các trường thi Hương chọn thêm người đỗ [4].
Theo mình, các vua chẳng làm gì sai lẽ. Đất Nam mới mở, triều đình cần quan người Nam để giữ đất Nam thì phải chia suất. Khổ nỗi, ông học trò ở Bắc Ninh, Nam Định học bằng ông học trò ở Gia Định, có khi hơn, mà cửa đỗ hẹp gấp đôi gấp ba.
Trượt rồi, ông ta biết đổ cho ai?
II - AI CHỌN NGƯỜI ĐỖ ĐẦU?
Khoa năm 1508 đời Lê Uy Mục, theo Bảo An thì các quan trường đã định cho Hứa Tam Tỉnh đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Giản Thanh đỗ Bảng nhãn. Hôm các tân khoa vào chầu, bà Kinh phi (mẹ nuôi vua) thấy Giản Thanh “khôi ngô tuấn tú hơn cả”, liền chỉ ông mà hỏi: “người này chắc là Trạng nguyên? Chà! Xứng đáng quá!”.
Vua “cũng biết văn của Hứa Tam Tỉnh hơn Nguyễn Giản Thanh nhưng vì muốn chiều lòng mẹ nuôi”, bèn ra đề thêm 1 bài phú, rồi hỏi Giản Thanh làng ông cách quê ngoại vua bao xa. Giản Thanh biết là xa mà vẫn tâu “hai làng liền một cánh đồng”. Vua mừng, cho Giản Thanh đỗ Trạng. Nho sĩ Kinh Bắc không phục, gọi ông là “mạo Trạng nguyên”, tức Trạng nguyên nhờ cái mặt [5].
Đăng Khoa Lục Sưu Giảng thì ghi ngược hẳn, ở mục Hứa Tam Tỉnh: Giản Thanh “mặt mũi xấu xí”, còn Tam Tỉnh “mặt mũi tươi đẹp”, vua thấy Tam Tỉnh đẹp thì mến, hỏi “Người này không cho đỗ Trạng ư?”, nên người đời gọi Tam Tỉnh là “Mạo Trạng Nguyên” [6]. Ai đẹp ai xấu thì 2 sách cãi nhau chí chóe, mà chẳng sách nào thấy lạ khi ngôi Trạng nguyên được chọn bằng mặt mũi.
Khoa thi Hội năm 1904 thì chẳng ai bàn chuyện mặt mũi nữa. Huỳnh Thúc Kháng và Nguyễn Mai cùng được 11 phân, mà lệ khoa ấy chỉ cho 1 người đỗ đầu. Quan trường họp lại, đưa 2 bài ra, “cho một người lính không biết chữ bắt thăm”, bắt trúng tên ai thì người ấy đỗ đầu.
Anh lính bắt trúng tên Huỳnh Thúc Kháng [7]. Thế là cái danh Hội nguyên (đỗ đầu thi Hội) của 1 nhà nho cỡ cụ Huỳnh do 1 người không đọc được chữ nào rút ra.
Còn triều Nguyễn thì sao? Suốt 97 năm khoa cử, chẳng có 1 ông Trạng nguyên nào. Sách Khoa Cử Và Các Nhà Khoa Bảng Triều Nguyễn giải thích, vua nào cũng đặt ra mức điểm để được Trạng nguyên “song đòi hỏi quá cao, quá khó khăn chẳng ai đạt được”. Có khoa người đỗ đầu thi Đình chỉ được xếp vào hạng Đệ tam giáp, tức hạng thấp nhất [8]. Vua đặt chuẩn, vua duyệt bài, rồi vua bảo chẳng ai tới chuẩn, thì cái chuẩn ấy đặt ra để làm gì?
III - TRƯỢT VÌ 1 CHỮ
Năm 1847, Đặng Huy Trứ vào thi Đình, trong bài có câu “Hữu hại gia miêu” (cỏ năn làm hại giống lúa tốt). Gia Miêu lại là quê tổ dòng họ nhà vua, mà chữ Hán không có viết hoa, nên câu ấy đọc thành “có hại cho làng Gia Miêu”. Ông bị quan tâu hặc tội, “phải chịu tội mà chẳng thanh minh vào đâu được”, không những bị đánh trượt ở thi Đình “mà còn bị cách tuột luôn cả học vị Cử nhân” [9].
Chữ Hán lại không có dấu ngắt câu, nên chữ cuối câu trước đọc liền với chữ đầu câu sau, có khi ghép thành tên húy của vua. Chữ “Long” đứng liền chữ “An” thôi cũng bị bắt lỗi phạm húy [9]. Đề ra về đời Tống thì bài phải kiêng tên vua Tống, đề về đời Đường thì kiêng tên vua Đường. Ai phạm húy ở thi Hội, thi Đình thì bị đánh 70, 80 trượng, đã đỗ cử nhân thì bị tước học vị, đang làm huấn đạo, giáo thụ (quan coi việc học ở huyện, ở phủ) thì bị giáng 4, 5 bậc [9].
Khoa năm 1898, bài của Bùi Thức được 6 điểm, cao nhất trong hạng của ông. Cuối bài phải viết “Thần cẩn đối”, ông sơ ý chỉ viết “Thần cẩn”, sót chữ “đối”, vì thế mà “bị đánh xuống vị trí cuối cùng hạng Tam giáp Tiến sĩ” [10].
Khoa thi Hương năm 1897 ở trường Nghệ An, Phan Bội Châu bị loại mà trong bài chẳng sai chữ nào. 1 thí sinh mang tài liệu “viết chữ nhỏ bằng con kiến” sang lều ông hỏi bài, thấy lính đi xét trường thì sợ, quăng luôn vào lều ông. Mang sách vở, tài liệu vào trường là tội “huề hiệp văn tự”, xử trọn đời không được đi thi. Phan Bội Châu chịu đúng án ấy. Phải nhờ Nguyễn Thượng Hiền, Khiếu Năng Tĩnh, Đào Tấn vận động triều đình hủy án, đến khoa năm 1900 ông mới được thi lại, rồi đỗ Giải nguyên (đỗ đầu thi Hương) [7].
Đến vua Tự Đức cũng thấy bắt bẻ như thế là quá tay. Có lần 1 ông quan chức kiểm thảo đi thi Hội viết nhầm 1 chữ đọc trùng tên vua Thiệu Trị, việc trình lên, vua phê: “lập khoa thi cốt để chọn anh tài mà bới móc quá cũng không phải là ý của Trẫm. Luật thì nhẹ mà lệ thì nặng”, rồi bảo bộ xét lại mà châm chước [9]. Xưa nay người ta bảo phép vua thua lệ làng, ở trường thi thì chính vua nhận luật của mình thua lệ quan trường. Còn Đặng Huy Trứ thì đã bị tước học vị từ đời vua trước rồi.
Thử hỏi, ông học trò ngồi trong lều viết hết bài văn sách dài, mà biết rằng chỉ cần 2 chữ đứng cạnh nhau thành tên húy, hay quên viết 1 chữ, là mất hết, thì ông ta sợ cái gì hơn: sợ văn mình dở, hay sợ 1 chữ mình không nhìn ra?
IV - GIẤC MỘNG CHƯA BAO GIỜ SAI
Đăng Khoa Lục Sưu Giảng ghi lại đời những người đỗ đại khoa, mà cứ vài trang lại có 1 người nằm chiêm bao, 1 người được thần báo mộng, 1 ông thầy địa lý đi xem đất cho nhà nào đó.
Học trò thời Lê còn rủ nhau đi cầu mộng. Theo Đăng Khoa Lục Sưu Giảng, quán Chân Võ phía bắc thành Thăng Long được coi là “linh thiêng nhứt”, học trò đi thi “đều ăn chay đến đó cầu mộng” [11]. Bùi Sĩ Tiêm thì không tin, ăn bữa thịt chó rồi mới đến, nằm suốt đêm chẳng mơ thấy gì, chỉ 1 người đi cùng mơ thấy 1 người cởi trần rót dầu vào cây đèn trước bàn thờ.
Về nhà trọ, ông chủ trọ giải giấc mơ ấy bằng lối chiết tự (tách chữ, ghép chữ): cởi trần là “phi y”, 2 chữ ấy ghép lại thành chữ Bùi, dầu đọc giống chữ “do”, viết lộn ngược thành chữ “giáp”, dầu màu vàng là chữ “hoàng”, cây đèn là chữ “đăng”. Họp lại thành 5 chữ “phi y đăng Hoàng giáp”, tức người họ Bùi đỗ Hoàng giáp. Khoa năm 1715, Bùi Sĩ Tiêm đỗ Hoàng giáp thật, lại đứng đầu khoa thi Đình, năm ấy 26 tuổi [11]. Gặp người giải giỏi chiết tự đến thế thì 1 ông cởi trần rót dầu cũng ra được cái bảng vàng, khéo ra trò.
Phần nhiều giấc mộng khác trong sách thì người ta chỉ hiểu ra sau khi bảng đỗ đã treo lên. Nguyễn Bá Dương lúc trẻ nằm mơ thấy thần bảo 4 chữ “Chung thân tiểu thập bát”, ông hiểu là cả đời mình không đỗ được. Đến khoa năm 1766 ông đỗ Tiến sĩ, mà đầu bài khoa ấy có câu “Tiểu thập bát thiên hạ vinh chi”, nghĩa là nhỏ mười tám, thiên hạ cho là vinh quý [11].
Theo mình, giả như ông trượt thì người ta vẫn bảo giấc mộng đúng, thần đã báo trước là cả đời không đỗ cơ mà. Mộng thế nào cũng trúng, cứ chờ có kết quả thi rồi hẵng giải nghĩa.
Lời thầy địa lý cũng vậy. Trong sách, ông thầy chỉ đất cho nhà nào thường kèm 1 điều kiện, kiểu đất này “chỉ có phát quý mà không có phát phú”, đất này “lợi ngành thứ, ngành trưởng bị sát”, hay “vào thi cẩn thận thì đỗ Tam-Khôi” [11]. Kết quả thế nào cũng khớp được với lời thầy. Mà sách thì chỉ ghi chuyện đất cát của những nhà đã có người đỗ.
Lại xem chuyện Nguyễn Khuê. Ông được Bằng Quận Công tin cẩn, nên các quan trong triều ai cũng ghét. Khoa năm 1787, quan trường quyết đánh trượt ông, còn 1 ông danh sĩ ở làng Kim Sơn thì định cho đỗ.
Bài thi đã rọc phách (cắt rời phần ghi tên người thi), nên quan trường chỉ đoán mò. Tìm được 1 bài cho là của Khuê, các quan mừng rỡ bảo nhau: “đã tóm được chú đây rồi”. Bài ấy hay quá, không có chỗ nào chê, họ cố bới ra 1 chỗ để phê trượt. Đến lúc ghép lại phần tên thì bài bị đánh trượt lại là của ông Kim Sơn, còn Nguyễn Khuê thì đỗ, vì văn 2 người giống nhau, chữ viết cũng giống [12].
Rành rành là quan trường muốn chọn người theo ý mình, chỉ là đoán sai bét. Trần Tiến thì kết luận: “coi vậy đủ rõ khoa danh có thiên mệnh, không chút tư ý nào ở trong ấy được cả” [12].
Đến nỗi sợ trong trường thi, sách cũng đổ cho số mệnh. Ở mục Nguyễn Lý, sách ghi người có số đỗ thì vào trường “có quỷ thần ngầm giúp”, còn người không có số đỗ thì dù ở nhà làm văn hay gấp trăm người, vào trường “lại sinh quẫn bí, lẩn quẩn nghĩ không ra, cử chỉ hốt hoảng, phập phồng lo sợ, văn chương khô khan. Đó đều là do sự thất đức, nên ma quỷ đến quấy nhiễu” [13]. Cái cảnh ngồi trước đề thi mà đầu trống rỗng, tay run, người đi thi đời nào cũng gặp. Ông cha ta gặp thì bảo là nhà mình thất đức.
Nguyễn Q. Thắng thì viết rằng lối chọn nhân tài ngày xưa “kĩ lưỡng mà rộng rãi, công bằng (bất kì ai cũng được dự thi không phân biệt thành phần xã hội, cùng thi một chương trình một trường…)” [14]. Bài thi được rọc phách cho giấu tên, đến thi Hội còn có người chép lại bài bằng mực son để quan chấm không nhận ra nét chữ.
Có đúng thế không? Đúng 1 phần. Con nhà nghèo được vào thi là thật, chuyện Nguyễn Khuê cũng cho thấy rọc phách chặn được quan trường chọn người theo ý mình. Có điều, màu mực ghi quê trên bìa, cái mặt người thi lúc vào chầu, 1 chữ trùng tên làng vua, rọc phách chẳng che được cái nào. Chính Nguyễn Q. Thắng, ở cuối sách, cũng dẫn lại câu cửa miệng của nhà nho: “nhất duyên, nhì mạng, tam phong thổ, tứ tích âm công, ngũ độc thư” [15]. Việc đọc sách, người ta tự xếp xuống tận hàng thứ 5.
V - TRƯỢT MÃI VẪN ĐI THI
Khoa thi Hương năm 1858, cả nước có 17.349 người dự thi, đỗ cử nhân chỉ 0,72%, đỗ tú tài 4,7% [16]. Vậy sao người ta vẫn bám lấy lều chõng? Theo mình là vì trượt rồi vẫn có cái mà hưởng.
Từ đời Gia Long, Minh Mệnh đã có lệ: ai qua được kỳ thứ nhất thì được miễn đi lính 2 năm, qua kỳ thứ hai thì được miễn 3 năm. Năm 1858 có 5.556 người, tức 1/3 số người đi thi, được miễn lính 2 năm, thêm 1.767 người được miễn 3 năm, còn hơn 900 người đỗ tú tài, cử nhân thì được miễn binh dịch, lao dịch suốt đời [16].
Bạn nhẩm thử mà xem: cứ 3 người lều chõng đi thi thì có 1 người về nhà chưa đỗ gì mà vẫn khỏi đi lính. Phần thưởng nhỏ mà chắc, khoa nào cũng có người được, nên chẳng ai muốn bỏ thi. Còn đỗ cử nhân, tiến sĩ hay không thì như mấy phần trên, phần nhiều chẳng nằm trong tay người đi thi. Trượt thì đổ cho số, khoa sau lại khăn gói đi.
Người đi thi được miễn thì phần thuế, phần lính dồn sang người ở nhà. Đặng Xuân Bảng, người đỗ tiến sĩ năm 1856 đời Tự Đức, nhận xét: “triều đình rất coi trọng việc thi cử, nhiều người có chí cứ đi theo con đường đó và suốt đời trở thành kẻ vô dụng đối với nhân dân” [16].
Ở trường thi Hà Nam, khoa năm 1900 có ông Vũ Đình Thự người Thái Bình đỗ cử nhân năm 84 tuổi. Cùng khoa ấy ở trường Nghệ An, ông Đoàn Tử Quang người Hương Sơn, Hà Tĩnh đỗ cử nhân năm 82 tuổi, “lúc này mẹ của ông đã 98 tuổi” [16]. Ông đỗ thứ 29 trên 30 người [7]. (Người đỗ đầu khoa ấy chính là Phan Bội Châu, người từng bị án cấm thi trọn đời 3 năm trước.)
Nguyễn Như Bổng dự 15 khoa thi Hương trong 45 năm, chỉ đỗ tú tài 2 lần, đến 60 tuổi mới đỗ cử nhân [16]. Người không đỗ thì ở lại làng dạy học. Sách Khoa Cử Và Các Nhà Khoa Bảng Triều Nguyễn viết, trẻ con đi học với những ông thầy đồ, mà những ông thầy đồ này “thường cũng là những người đã từng dự thi nhiều năm nhưng không đỗ” [17]. Người thi trượt dạy lũ trẻ, để lũ trẻ lớn lên lại đi thi.
Nửa đêm hôm sĩ tử vào trường thi, quan trường mặc áo đại triều ngồi ở 8 cổng, lính cầm bài thi đứng gọi tên từng người kèm quê quán. Trước khi gọi tên, bao giờ lính cũng xướng 1 câu: “báo oán giả tiên nhập, báo ân giả thứ nhập, sĩ tử thứ thứ nhập”, tức là hồn những người đến báo oán vào trước tiên, hồn những người đến báo ân vào kế tiếp, sau cùng sĩ tử mới vào [18].
Nguồn:
[1] - Đăng Khoa Lục Sưu Giảng - Trần Tiến, Nguyễn Đức Đạm dịch, mục Phụ Dẫn. [2] - Các Vị Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa Qua Các Triều Đại Phong Kiến Việt Nam - Trần Hồng Đức, mục Nghiêm Viện. [3] - Thi Hương Thời Nguyễn (Qua Hai Trường Thi Hà Nội Và Nam Định) - Đỗ Thị Hương Thảo, chương 1, mục Quan trường. [4] - Thi Hương Thời Nguyễn (Qua Hai Trường Thi Hà Nội Và Nam Định) - Đỗ Thị Hương Thảo, chương 4 Một số đặc điểm thi Hương thời Nguyễn. [5] - Kể Chuyện Trạng Nguyên Việt Nam - Bảo An, mục Nguyễn Giản Thanh. [6] - Đăng Khoa Lục Sưu Giảng - Trần Tiến, Nguyễn Đức Đạm dịch, mục Hứa Tam Tỉnh. [7] - Khoa Cử Và Giáo Dục Việt Nam - Nguyễn Q. Thắng, chương V Ứng thí. [8] - Khoa Cử Và Các Nhà Khoa Bảng Triều Nguyễn - Phạm Đức Thành Dũng, Vĩnh Cao chủ biên, phần Thay lời kết. [9] - Khoa Cử Và Các Nhà Khoa Bảng Triều Nguyễn - Phạm Đức Thành Dũng, Vĩnh Cao chủ biên, phần Lược khảo khoa cử triều Nguyễn, mục Thí sinh, Trường qui. [10] - Khoa Cử Và Các Nhà Khoa Bảng Triều Nguyễn - Phạm Đức Thành Dũng, Vĩnh Cao chủ biên, mục Khoa Mậu Tuất (1898). [11] - Đăng Khoa Lục Sưu Giảng - Trần Tiến, Nguyễn Đức Đạm dịch, các mục Bùi Sĩ Tiêm, Nguyễn Bá Dương, Bùi Xương Trạch, Ninh Đạt, Nguyễn Quốc Trịnh và Nguyễn Đình Trụ. [12] - Đăng Khoa Lục Sưu Giảng - Trần Tiến, Nguyễn Đức Đạm dịch, mục Nguyễn Khuê. [13] - Đăng Khoa Lục Sưu Giảng - Trần Tiến, Nguyễn Đức Đạm dịch, mục Nguyễn Lý. [14] - Khoa Cử Và Giáo Dục Việt Nam - Nguyễn Q. Thắng, chương II Sơ lược về khoa cử Việt Nam. [15] - Khoa Cử Và Giáo Dục Việt Nam - Nguyễn Q. Thắng, phụ lục 90 năm học vị Phó bảng. [16] - Thi Hương Thời Nguyễn (Qua Hai Trường Thi Hà Nội Và Nam Định) - Đỗ Thị Hương Thảo, chương 4 Một số đặc điểm thi Hương thời Nguyễn. [17] - Khoa Cử Và Các Nhà Khoa Bảng Triều Nguyễn - Phạm Đức Thành Dũng, Vĩnh Cao chủ biên, phần Lược khảo khoa cử triều Nguyễn, mục Thí sinh, Học tập. [18] - Khoa Cử Và Các Nhà Khoa Bảng Triều Nguyễn - Phạm Đức Thành Dũng, Vĩnh Cao chủ biên, phần Lược khảo khoa cử triều Nguyễn, mục Thí sinh, Vào trường thi.