Năm 1947, ở Dar es Salaam, thủ phủ xứ Tanganyika thuộc Anh, nay thuộc Tanzania, người Anh lập dịch vụ truyền máu. Dịch vụ không có xe riêng nên mượn xe cứu hỏa chở người đi hiến. Chỉ ít lâu sau cả vùng đồn rằng mấy chiếc xe ấy, thường có 1 người châu Âu ngồi chỉ huy, đi gom đàn ông Phi về lấy máu và đó là âm mưu của người da trắng làm cho họ hết đường con cái [1].
Gần nửa thế kỷ sau, ở thị trấn Phúc Yên, Vĩnh Phúc, đoàn hiến máu của Giáo sư Đỗ Trung Phấn thu được hơn 20 đơn vị máu ở Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2. Đang chuẩn bị về thì đoàn bị chặn lại. Mẹ của 1 sinh viên vừa cho máu đi gọi thêm mấy phụ huynh khác, nhờ cả công an can thiệp, vì tin rằng trường đã lấy máu con họ bán cho Đại Học Y Hà Nội để bán ra nước ngoài [2]. Cách nhau nửa vòng trái đất, gần 50 năm, mà người ta lo đúng 1 chuyện: máu mình bị lấy đi đâu, để làm gì.
I - MÁU CHỈ CHẢY TRONG NHÀ
Truyền máu có trước hiến máu hơn 250 năm, mà thời đầu người ta không lấy máu người.
Năm 1667, thầy thuốc Pháp Jean-Baptiste Denis, có sách nói là ngự y của vua Louis XIV, truyền máu cừu cho 1 cậu bé 15 tuổi sốt mãi không dứt. Theo nhà sử học y khoa Mỹ Lois Magner, Denis còn cho rằng máu thú tốt hơn máu người, vì máu thú không bị đam mê và thói hư tật xấu làm cho bẩn đi [4]. Cùng thời ấy ở London, sau mấy thí nghiệm truyền máu giữa 2 con chó, có người đã tính tới chuyện lấy máu 1 tín đồ phái Quaker, phái vốn nổi tiếng hiền lành, truyền sang 1 vị tổng giám mục, may ra tính khí ông ấy dịu đi [4]. Ngay từ đầu, người ta đã tin máu chở theo cả tính nết của người cho.
Tháng 11/1667 ở London, Richard Lower truyền máu cừu cho Arthur Coga, 1 người có tiếng “hơi chập cheng”. Coga qua khỏi, theo người chứng kiến thì còn khỏe khoắn vui vẻ, uống 1, 2 ly rượu rồi châm tẩu thuốc [6]. Mấy nhà văn trào phúng thì được dịp chế giễu đáo để. Trong vở hài kịch The Virtuoso của Thomas Shadwell, ông tiến sĩ truyền máu cừu cho 1 kẻ điên, kẻ điên liền kêu be be, nhai lại, mọc cả bộ lông cừu, sau mông thò ra cái đuôi và ông tiến sĩ định truyền thêm cho thật nhiều kẻ điên để lấy lông bán [4].
Còn bên Pháp thì có người chết thật. 1 bệnh nhân 34 tuổi của Denis chết sau mấy lần được truyền máu bê. Lúc đầu Denis đổ cho ông này rượu chè, gái gú, thuốc lá, sau lại nói chính bà vợ đã đầu độc chồng. Tòa không kết tội Denis nhưng theo Magner thì “truyền máu bị kết tội” [4]. Pháp, Anh, Ý lần lượt cấm hoặc bỏ và truyền máu nằm im khoảng 150 năm [5].
Khoảng năm 1820, bác sĩ sản James Blundell ở London làm lại để cứu sản phụ băng huyết. Người cho máu thường là ông chồng đứng ngay cạnh giường [5]. Ở Mỹ, bác sĩ William Halsted rút máu từ tay mình truyền cho em gái Minnie bị băng huyết sau sinh, hồi chưa ai biết gì về nhóm máu, may mà hợp [6]. Suốt thế kỷ 19, máu chỉ chảy từ người nhà sang người nhà, chồng cho vợ, anh cho em, chẳng ai phải thuyết phục ai.
Ở Việt Nam cũng vậy. Trên đường Trường Sơn, bộ đội, y bác sĩ cho máu thương binh ngay tại chỗ. Bảo tàng Lịch Sử Quân Sự Việt Nam còn giữ bảng danh sách cho máu của y bác sĩ Đội Điều Trị 52 và bộ dây lấy máu do y sĩ Đội Điều Trị 14 tự chế, đã lấy được 6,65 lít máu truyền cho 58 thương binh. Bà Nguyễn Thị Thoa, y tá Đội Điều Trị 14 năm ấy, nhớ lại: “chưa hề có túi lấy máu, chưa có chất chống đông nên truyền trực tiếp cho thương binh luôn. Khi lấy máu các chiến sĩ là tính giọt, đếm giọt…” [3].
Đồng đội cũng là người nhà. Hết chiến tranh, năm 1984 ngành y vận động bằng khẩu hiệu “Một người cần truyền máu, ba người thân cho máu” [3], đúng cái lẽ 1 giọt máu đào hơn ao nước lã. Ai có người nằm viện thì anh em, họ hàng kéo nhau đi cho máu, còn người dưng thì thôi.
II - NGƯỜI LẠ ĐẦU TIÊN CHÌA TAY RA
Tối tháng 10/1921, Bệnh Viện King’s College ở London gọi điện sang Chi Hội Camberwell của Hội Chữ Thập Đỏ Anh, xin gấp 1 người cho máu. Thư ký chi hội là Percy Lane Oliver, 1 công chức chứ không phải bác sĩ. Ông cùng 3 đồng nghiệp đến bệnh viện, 1 người hợp nhóm máu, ca truyền thành công [7].
Oliver về nhà lập 1 danh sách những người đã biết nhóm máu, sẵn sàng đi cho bất cứ lúc nào bệnh viện gọi. Ban đầu là 20 người quen của ông, văn phòng đặt ngay trong nhà ông. Đến năm 1926 danh sách có 450 người, đến năm 1938 khoảng 2.700 người [7].
Người trong danh sách không ai được trả tiền. Hồi đó ở Mỹ và nhiều nơi ở Anh, cho máu là việc có tiền và người cho máu lấy tiền thì mang tiếng là hạng người chẳng ra gì. Oliver thì cứ khoe người của ông đến từ “mọi tầng lớp trong cộng đồng: đàn ông, đàn bà làm nghề tự do, luật sư, nhà báo, người bán hàng, thợ học việc, phu làm đường, người hầu gái, người lau dọn” [7].
Ông bắt người cho máu phải nằm, cấm bệnh viện rạch to cánh tay để tìm ven như thói quen hồi ấy. Ông không muốn người ta coi người cho máu là anh hùng xả thân. Ông còn cấm người cho gặp người nhận, vì theo ông, “mỗi người cho máu phải hiểu mình là 1 đơn vị của 1 tổ chức lập ra và hoạt động vì lợi ích của nhân loại nói chung, theo chỉ định của bác sĩ, chứ không phải theo lời nhờ vả của 1 cá nhân nào” [7].
Nói cách khác, Oliver cố tình xóa mặt người nhận. Người cho chỉ biết máu mình sẽ chảy vào người 1 ai đó và không bao giờ biết là ai. Gần 50 năm sau, nhà xã hội học Anh Richard Titmuss viết cả 1 cuốn sách ca ngợi đúng cái việc cho máu 1 người lạ không biết mặt [10]. Thời ấy chắc không ít người thấy bọn họ dở hơi, nhà sử học y khoa Kim Pelis còn đặt tên bài nghiên cứu về Oliver là “Một lũ điên dưới Camberwell” [7].
Từ năm 1916, máu trộn chất chống đông đã cất trữ được, đem ra mặt trận được [5]. Sang Thế Chiến II, dân thường được kêu gọi hiến máu cho lính bị thương [5]. Ở Mỹ, hiến máu thành 1 việc yêu nước, ngang với chào cờ, hát quốc ca, đi lính [8].
Cũng vì hiến máu đã thành lòng yêu nước mà có người quay lưng. Giáo phái Nhân Chứng Giê-hô-va (Jehovah’s Witnesses), 1 nhánh Tin Lành gốc Mỹ, cấm tín đồ nhận máu từ năm 1945. Nhà xã hội học Anh Andrew Holden dẫn nghiên cứu của Richard Singelenberg rằng lệnh cấm thành hình đúng lúc nước Mỹ biến hiến máu thành nghi thức yêu nước, cùng loại với quân đội, quốc ca, quốc kỳ, những thứ giáo phái này vốn chống kịch liệt [8].
Ngay trong nước Mỹ, không phải ai cũng được hiến. Charles Drew, bác sĩ người Mỹ gốc Phi, là người đi đầu trong việc thu gom và cất trữ máu quy mô lớn cho quân Đồng Minh và Hội Chữ Thập Đỏ Mỹ, vậy mà lúc đầu chính ông bị loại khỏi danh sách hiến máu vì da đen [9]. Người dạy cả nước Mỹ cách cất máu, mà máu của ông thì không được nhận?!
III - NỖI SỢ CỦA NGƯỜI BỊ LẤY MÁU
Nhà sử học Mỹ Luise White phỏng vấn khoảng 130 người ở Đông Phi và Trung Phi. Phần đông nói “ma cà rồng da trắng” bắt đầu đi bắt người khoảng năm 1918 đến 1925 [1]. Ở Kenya, Tanganyika, Uganda, người ta gọi bọn ấy là wazimamoto, nghĩa là lính cứu hỏa. Ở Bắc Rhodesia, nay là Zambia, thì gọi là banyama. Theo lời đồn, bọn này bắt người ban đêm, rút máu đem về cho người da trắng [1].
Thời Thế Chiến II, ở vùng quê Tanganyika có 1 đợt quyên máu gửi huyết tương ra mặt trận. Đợt ấy thất bại, vì cạnh cái sân bay nhỏ lúc nào cũng có 1 chiếc xe cứu hỏa đậu sẵn và dân tin chắc máu sẽ bị người châu Âu uống [1]. Rồi tới vụ xe cứu hỏa chở người hiến ở Dar es Salaam năm 1947, đồn thành âm mưu làm đàn ông Phi hết đường con cái [1]. Đầu những năm 1960 vẫn có bác sĩ châu Âu than thở với nhà báo rằng ông khó tìm người hiến máu, vì dân tin chính ông uống máu ấy [1].
Năm 1920, 1 nhà truyền giáo ở Congo thuộc Bỉ làm người giúp việc sợ khiếp vía khi đem đôi găng cao su đen đi luộc tiệt trùng, trông y như đang luộc bàn tay. Phải đến lúc thấy ông đeo găng vào tay chứ không ăn, anh kia mới hoàn hồn [1]. Thời đầu thuộc địa, bác sĩ phẫu thuật thường cho người Phi đứng xem mổ, để chứng minh bộ phận cơ thể cắt ra không bị lấy đi hay đem ăn [1]. Nhà nhân học Mỹ T. O. Beidelman hồi trẻ hiến máu cho 1 người Maasai ở Tanganyika, 1 thanh niên Maasai liền hỏi ai sẽ uống chỗ máu ấy [1].
Đọc đến đây chắc nhiều bạn bảo người Phi hồi đó lạc hậu, không hiểu y học. Có ông chính khách Uganda cũng nghĩ vậy: “dân Baganda chúng tôi có những ý nghĩ kỳ lạ về người Anh. Họ nghĩ người Anh uống máu và giết trẻ con, vì họ không hiểu chuyện gì xảy ra trong bệnh viện” [1]. White thì đọc khác. Theo bà, những câu chuyện ấy nói về 1 điều có thật: người da trắng nắm cái hiểu biết về máu, nắm bệnh viện, nắm quyền, còn người Phi thì không [1]. Như lời 1 ông được bà phỏng vấn: “những người đó được học về cách dùng máu, họ biết máu dùng để làm gì” [1].
Sở dĩ người ta ngờ là do kẻ cầm kim cũng chính là kẻ đã lấy đất, bắt người đi phu. Ngờ hắn lấy cả máu thì cũng chẳng phải chuyện điên rồ.
Ở Ấn Độ, 2 nhà nhân học Jacob Copeman và Dwaipayan Banerjee, chuyên nghiên cứu chuyện máu ở nước này, ghi lại rằng nhiều đàn ông tin hiến máu làm người ta suy kiệt, thậm chí vô sinh, liệt dương, mất là mất luôn như hiến thận. Có anh từ chối vì “tháng sau em cưới vợ” [13]. Phụ nữ ít hiến, vì người ta tin lượng máu trong người phụ nữ quyết định chuyện sinh được con trai, theo 1 nghiên cứu ở Pakistan mà 2 tác giả dẫn lại [13]. Nhiều bệnh nhân nam nằm viện còn đòi máu truyền cho mình phải là máu đàn ông [13].
Ở Việt Nam, những năm đầu Giáo sư Phấn cùng mấy sinh viên Đại Học Y Hà Nội đi vận động, hiệu trưởng nhiều trường hỏi ông đúng 1 câu: “hiến máu xong liệu sinh viên có bị ốm không?”. Phần đông sinh viên rụt rè, sợ ốm. Thầy trò không dám vận động thẳng chuyện hiến máu, phải đi nói chuyện HIV, viêm gan B trước [2]. Lên Sơn La còn khó hơn. Bà Cầm Thị Chuyên, Chủ Tịch Hội Chữ Thập Đỏ tỉnh, nhớ lại: “trước đây người dân có quan niệm không bao giờ cho máu, nghĩ rằng hiến máu có hại cho sức khỏe” [3]. Dân mình xưa nay vẫn nói 1 giọt máu bằng mấy bát cơm, mất 1 giọt là mất ngần ấy cơm gạo.
Bà mẹ ở Phúc Yên thì lo chuyện khác, bà sợ máu con mình bị đem bán.
IV - KHI MÁU THÀNH HÀNG
Năm 1970, Titmuss so 2 cách lấy máu. Ở Anh, toàn bộ máu truyền là máu hiến không lấy tiền. Ở Mỹ, 1 phần là máu mua, chủ yếu của người nghèo, người thất nghiệp, người ở mấy khu ổ chuột như Skid Row cần tiền gấp. Theo ông, hệ thống Mỹ thiếu máu kinh niên, phí nhiều, đắt hơn, máu lại dễ nhiễm bệnh hơn. Máu chảy “từ người nghèo sang người giàu” và ông viết về 1 “giai cấp mới” gồm những người bị bóc lột vì cho được nhiều máu [10].
Titmuss lo nhất là tiền làm mòn lòng tốt. Khi máu đã thành hàng mua bán, người ta ít thấy mình có bổn phận cho không [10]. Nhà kinh tế Mỹ Kenneth Arrow (ông này về sau được giải Nobel kinh tế) cãi lại: có thêm lựa chọn bán thì cũng chỉ là thêm lựa chọn, ai thích cho vẫn cứ cho, sao lại làm giảm lòng vị tha được [10].
Theo Freakonomics, những năm 1970 đã có 1 nghiên cứu cho thấy khi người hiến được trả 1 khoản nhỏ thay vì chỉ được khen là tốt bụng, họ hiến ít đi. Khoản tiền ấy biến 1 việc từ thiện cao quý thành 1 cách kiếm vài đô la mà còn bị đau [11]. Năm 2008, 2 nhà kinh tế Thụy Điển Carl Mellstrom và Magnus Johannesson cho 1 nhóm người ở Gothenburg cơ hội đăng ký thành người hiến máu, chia 3 nhóm: không được gì, được 50 krona (khoảng 7 đô la) hoặc được chọn giữa nhận 50 krona và tặng 50 krona cho từ thiện. Với đàn ông, 3 nhóm chẳng khác gì nhau. Với phụ nữ, cứ có tiền vào là số người đăng ký giảm gần 1 nửa, còn nếu được chọn đem tiền tặng từ thiện thì số người lại về như cũ [12].
Người ta chùn tay vì cái nghĩa của đồng tiền: cầm tiền thì mình thành người bán máu, chuyển tiền ấy đi làm từ thiện thì mình vẫn là người cho. Quả tình lời Arrow không sai hẳn, đàn ông Thụy Điển đúng là chẳng đổi gì. Có điều với rất nhiều người, cho máu là để thấy mình tử tế và 50 krona đủ phá cái cảm giác ấy.
Những năm 1950, 1960, máu truyền ở Nhật chủ yếu là máu mua, của người nghèo bán đi bán lại tới mức máu loãng, người ta gọi là “máu vàng”. Năm 1964, đại sứ Mỹ Edwin Reischauer bị 1 thanh niên tấn công bằng hung khí, được truyền máu rồi mắc viêm gan. Chuyện 1 ông đại sứ bị nhiễm bệnh vì máu mua làm cả nước Nhật bẽ mặt, cùng năm ấy Nội Các quyết định chuyển sang máu hiến. Vậy mà 20 năm sau vẫn chưa thoát. Những năm 1980, khoảng 40% người Nhật mắc bệnh máu khó đông nhiễm HIV vì chế phẩm máu nhập từ Mỹ, năm 1989 họ kiện chính phủ và các hãng dược, đến năm 1996 mới được xin lỗi và bồi thường [9].
Ở Ấn Độ, mãi đến tháng 1/1998 Tòa Án Tối Cao mới cấm trả tiền cho máu. Trước đó có lúc tới 1/3 lượng máu là máu bán, người bán thì mang tiếng là phu xe nghiện ngập [13]. Năm 1988, đảng Cộng Sản Ấn Độ (Mác-xít) ở Tây Bengal còn xếp hàng đảng viên đi bán máu gây quỹ, nghe thì lạ tai mà hồi ấy chuyện đó hợp pháp hẳn hoi [13]. Cấm rồi vẫn có người mua bán ngầm. Hồi 2 tác giả điền dã ở Delhi (2003 đến 2005), có người mời: “1 người cho máu 1.800 rupee, cần bao nhiêu người cũng có”. Năm 2011 người ta còn phát hiện 1 “trại máu” ở Gorakhpur, nhốt những người đã kiệt sức để rút máu bán [13].
Ở Việt Nam, năm 1993, cả nước nhận được hơn 100.000 đơn vị máu, trên 90% là máu của người cho máu lấy tiền. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, gần như toàn bộ người cho máu là người bán máu chuyên nghiệp [15]. Năm 1993 lúc Giáo sư Phấn về làm Viện Trưởng Viện Huyết Học, đó gần như là nguồn duy nhất. Máu ít mà chất lượng không cao, vì người ta bán quá nhiều lần. Việt Nam lại chưa sàng lọc được HIV, viêm gan B, nên người nước ngoài ở Việt Nam mà cần truyền máu thì bay sang Thái Lan hay Singapore. Máu thu về thì cất trong tủ lạnh đựng rau [2].
Vậy thì bà mẹ ở Phúc Yên nghĩ thế cũng chẳng có gì lạ. Xưa nay bà chỉ thấy người ta bán máu, chưa thấy ai cho không, mà máu bán thì đúng là thứ vừa bẩn vừa rẻ bèo, đi đường nào thì người cho chẳng bao giờ biết.
V - ĐỔI NGƯỜI CẦM KIM, ĐỔI NGƯỜI CHÌA TAY
Sau vụ Phúc Yên, Giáo sư Phấn đi gặp ông Đặng Hữu, Trưởng Ban Khoa Giáo Trung Ương. Ban Khoa Giáo mở luôn 1 buổi tập huấn về hiến máu, rồi gửi công văn xuống đảng bộ các trường, các địa phương [2]. Ngày 24/1/1994, Viện Huyết Học ở Bạch Mai phát động phong trào hiến máu nhân đạo. Hôm ấy có lãnh đạo các ban, bộ, có người của mấy đại sứ quán, có cả 7 phụ nữ Úc đạp xe dọc quốc lộ 1 từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội để vận động. Cả ngày thu được 30 đơn vị máu. Giáo sư Phấn nhớ lại: “ngày đầu tiên phát động chỉ được 30 đơn vị thôi, nhưng rất quý rồi, vì có thể giúp được cho Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức thực hiện phẫu thuật” [3].
Ông Phạm Tất Dong, lúc ấy là Phó Trưởng Ban Khoa Giáo Trung Ương, nói lại cách làm hồi đó: “phải làm sao để cho người dân họ hiểu được, ai cũng hiến máu được, đặc biệt là người khỏe mạnh và đây là chúng ta hiến máu, chứ không phải bán máu”. Ông chọn bộ đội và sinh viên đi đầu, còn lãnh đạo thì phải hiến trước [3].
Giáo sư Phấn đi đâu cũng mang theo 1 xấp ảnh toàn người có máu mặt: Fidel Castro hiến máu, Thủ Tướng Ấn Độ, Tổng Thống Philippines, Công Chúa Thái Lan cho máu. Dần dần có thêm ảnh Phó Thủ Tướng Nguyễn Khánh, Phó Chủ Tịch Nước Trương Mỹ Hoa, nhiều bộ trưởng cho máu. Về tỉnh nào ông cũng vận động bí thư tỉnh ủy, hiệu trưởng xắn tay áo trước [2].
Nghe thì giống làm phong trào. Nhưng thử đặt vào chỗ bà mẹ Phúc Yên, bà thấy con mình chìa tay ra là nghĩ ngay tới người bán máu. Giờ người chìa tay ra là ông bí thư, ông bộ trưởng, đố ai nghĩ các ông ấy thiếu tiền mà đi bán máu. Oliver ở London năm 1921 khoe danh sách của mình có luật sư, nhà báo cũng vì thế.
Ở Ấn Độ thì người ta gỡ nỗi sợ suy kiệt bằng cách ngộ hơn. 1 hội hiến máu ở Jalandhar lập trang Facebook đăng toàn ảnh đàn ông vừa hiến máu vừa gồng cơ, ảnh nào cũng in chữ “Blood Commando” (biệt kích máu). 1 phòng gym còn quảng cáo ai hiến máu thì được tập miễn phí 15 ngày [13]. Đã hiến máu được thì là khỏe, khỏe tới mức dư máu cho người khác. Copeman và Banerjee nhận xét những “biệt kích” ấy hiến bất chấp nỗi sợ để chứng tỏ mình thừa chất đàn ông [13].
Nước Nhật thì đổi người cầm kim. Bỏ máu mua, giao hết việc thu máu cho Hội Chữ Thập Đỏ, người cho không còn phải đứng cạnh hạng “máu vàng” nữa.
1 ông ở miền tây Kenya kể với White rằng khi biết “ngày nay người ta phải hiến máu cho người thân bị bệnh”, ông bắt đầu “tin chắc” rằng mấy chuyện wazimamoto ngày xưa kỳ thực là nói về “khoa học hiến máu” [1]. 1 ông khác, tên Omondo, nói: “ngày nay ta nghe bảo cần nhóm máu này nhóm máu kia, chứ ngày xưa chẳng ai muốn cho máu cả” [1]. Người cầm kim giờ là người của mình, máu lấy ra để cứu người nhà mình.
VI - 30 NĂM Ở VIỆT NAM
Năm 1994, năm đầu phát động, cả nước nhận được 138.000 đơn vị máu, 14,5% là hiến tình nguyện [14]. Năm 1999 tỷ lệ ấy mới lên 21% [15]. Ngày 7/4/2000, Thủ Tướng ký quyết định lấy ngày 7/4 làm Ngày Toàn Dân Hiến Máu Tình Nguyện [3]. Năm 2023, cả nước nhận hơn 1,5 triệu đơn vị máu, 99% là máu hiến tình nguyện, tương đương 1,5% dân số [3].
Chính Viện Huyết Học viết rằng trước đây người đi hiến máu “bị gia đình ngăn cấm hay bị kỳ thị”, còn bây giờ thì thành “niềm tự hào của gia đình hay cơ quan công tác” [14]. Bạn thử hỏi bố mẹ mình xem, hồi những năm 90 nhà mình có ai dám đi hiến máu không.
Hơn 100 năm nay cái kim cũng chỉ nhỏ đi và sạch hơn, mà người ta thì đã thôi sợ, vì người cầm kim và người chìa tay ra đều đã khác. Ở Tanzania, 1 ông kể với White rằng chính quyền Anh hồi trước chẳng cần ai hiến máu, vì đã lấy được máu theo cái cách kia rồi, “nhưng khi độc lập thì chính phủ này dừng lại. Vì thế mà bệnh viện lúc nào cũng phải xin người ta tình nguyện cho máu” [1].
Nguồn:
[1] - Speaking with Vampires: Rumor and History in Colonial Africa - Luise White, University of California Press, 2000, chương 1 và các chương về wazimamoto, bệnh viện. [2] - Cha đẻ của phong trào hiến máu - Báo Tiền Phong, bài về Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Đỗ Trung Phấn, nguyên Viện Trưởng Viện Huyết Học Truyền Máu Trung Ương. [3] - Hành trình 30 năm giữ dòng máu luôn chảy - Viện Huyết Học Truyền Máu Trung Ương, trang vienhuyethoc.vn, 20/1/2024. [4] - A History of Medicine - Lois N. Magner, tái bản lần 2, Taylor and Francis, 2005, chương 6, mục Blood Transfusion. [5] - Kill or Cure: An Illustrated History of Medicine - DK, mục truyền máu và nhóm máu. [6] - The Body: A Guide for Occupants - Bill Bryson, 2019, chương về máu. [7] - Percy Lane Oliver - Wikipedia tiếng Anh, mục Percy Lane Oliver (dẫn Stanton 2004, Oxford Dictionary of National Biography; Pelis 2007; Whitfield 2013). [8] - Jehovah’s Witnesses: Portrait of a Contemporary Religious Movement - Andrew Holden, Routledge, 2002, đoạn về lệnh cấm truyền máu. [9] - The Story of Medicine - ấn phẩm chuyên đề, 2026, mục niên biểu (Charles Drew) và mục về HIV/AIDS những năm 1980. [10] - What Money Can’t Buy: The Moral Limits of Markets (bản tiếng Việt: Tiền không mua được gì) - Michael Sandel, 2012, chương 3, mục bán máu. [11] - Freakonomics - Steven Levitt, Stephen Dubner, bản sửa đổi và bổ sung, chương 1. [12] - Crowding Out in Blood Donation: Was Titmuss Right? - Carl Mellstrom, Magnus Johannesson, Working Papers in Economics số 180, Đại Học Gothenburg, bản tóm tắt; đăng trên Journal of the European Economic Association, 2008. [13] - Hematologies: The Political Life of Blood in India - Jacob Copeman, Dwaipayan Banerjee, Cornell University Press, 2019, phần mở đầu. [14] - 30 năm cách mạng thay đổi nhận thức người dân về hiến máu tình nguyện - Báo Đầu Tư, 2024. [15] - Thành phố Hồ Chí Minh tri ân người hiến máu nhiều lần có hoàn cảnh khó khăn - Báo Văn Hóa, 2024.