Mùa hè năm 1667 ở Paris có 1 cậu bé 15 tuổi sốt mãi không dứt. Để hạ nhiệt, thầy thuốc đã trích máu cậu 20 lần trong 2 tháng, tới mức cậu lờ đờ, ngủ gà ngủ gật, bị coi là đần độn, chẳng làm nổi việc gì [1].

Ngày 15/6, Paul Emmerez, 1 thầy thuốc ngoại khoa kiêm dạy giải phẫu, mở tĩnh mạch tay cậu, rút ra chừng 3 ounce máu (khoảng 90 ml). Rồi Jean-Baptiste Denis bơm vào đó chừng 10 ounce máu lấy thẳng từ động mạch 1 con cừu. Cậu bé tỉnh ra, vui vẻ, ăn ngon trở lại, chỉ kêu cánh tay nóng ran [1].

Con cừu phải có mặt ngay tại chỗ, vì hồi ấy máu ra khỏi người là đông lại. Mãi tới năm 1916, người cho máu vẫn phải nằm sát người nhận.

I - UỐNG MÁU

Theo nhà báo Mỹ Mary Roach, ở Đấu Trường La Mã có chỗ bán máu của đấu sĩ vừa bị giết, tin là chữa được động kinh, mà phải uống lúc máu còn ấm [2]. Sang thế kỷ 18, ở Đức, ở Pháp, đao phủ kiếm thêm bằng cách hứng máu chảy từ cổ tử tù bị chém. Máu ấy được kê cho cả bệnh gút, bệnh phù và phải là máu của người chết lúc còn trẻ khỏe, người ốm lâu rồi chết thì không ăn thua [2].

Ở nước ta, năm 1028, Lý Thái Tông dựng miếu thờ thần núi Đồng Cổ bên hữu thành Đại La, đọc lời thề “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”, rồi các quan “cùng uống máu ăn thề, hàng năm lấy làm lệ thường” [3]. Nhà Trần giữ lệ ấy, ai vắng mặt phạt 5 quan tiền, còn dân thì “trai gái bốn phương đứng chật ních bên đường để xem như ngày hội lớn” [3]. Đời Lê Nhân Tông, Tư Khấu Lê Khắc Phục xin bắt cả các quan chấm thi uống máu ăn thề cho khỏi tư túi, “nhưng thói tư túi vẫn không thể nào hết được” [3] (máu uống rồi, thần minh chưa thấy giết ai).

II - CHO MÁU CHẢY RA ĐỂ CHỮA BỆNH

Tháng 12/1799, George Washington cưỡi ngựa dưới mưa rét cả ngày rồi đau họng, khó thở. 3 bác sĩ tới, mở tĩnh mạch tay ông lấy ra 18 ounce máu, thấy không đỡ lại trích thêm 3 lần nữa. Trong 2 ngày ông mất chừng 40% lượng máu. “Tôi chết khó thật”, ông nói thế rồi đi [4].

Sau đó còn 1 bác sĩ đến, đề nghị xoa da và truyền máu cừu để ông sống lại. Gia đình xin thôi [4]. Trích mất 40% máu của người ta rồi lại định lấy máu cừu cho người chết dậy?! Vua Phổ Frederick Đại Đế thì còn trích máu trước trận cho đỡ căng thẳng [4], kiểu như bây giờ có người uống viên an thần trước khi lên phát biểu.

III - CÁI ỐNG NỐI VỚI CON CỪU

Năm 1657, đại sứ Pháp đem cho Christopher Wren, người vừa làm kiến trúc sư vừa mổ thú làm thí nghiệm, 1 gia nhân mà ông bảo là “đáng bị treo cổ” để thử tiêm vào mạch máu người. Gã hầu vừa nhìn thấy đồ nghề đã ngất, thí nghiệm bỏ dở [5]. Nhà thương điên Bedlam ở London thì không chịu đưa người bệnh ra làm thí nghiệm [5].

Tháng 2/1666, Richard Lower rút máu 1 con chó tới gần chết, rồi cho máu từ động mạch cổ 1 con chó to hơn chảy sang. Con chó tỉnh lại, khâu tĩnh mạch cổ xong nó chạy về với chủ [1]. Sở dĩ phải nối thẳng là do máu cứ gặp không khí là đông, hồi ấy chưa ai biết cách chặn, nên máu phải chạy theo ống từ thân con này sang thân kẻ kia [6].

Ở London, người được chọn là Arthur Coga, 1 học giả lập dị, đầu óc hơi có vấn đề, được thuê tiền [1], [6]. Tháng 11/1667, trước đông đủ các vị trong Hội Hoàng Gia, Lower cho gần 300 ml máu cừu chảy vào tay Coga, rồi cả phòng ngồi chờ xem chuyện gì xảy ra. Chẳng có chuyện gì ghê gớm cả. 1 người có mặt ghi lại là Coga “khỏe và vui”, uống 1, 2 ly vang ngọt, hút 1 tẩu thuốc [4].

Thấy Coga sống, các nhà khoa học khắp châu Âu đua nhau thử, càng thử càng quái: người tình nguyện bị truyền cả sữa, rượu vang, bia, thủy ngân, máu đủ loại gia súc. Nhiều người chết đau đớn trước mặt bao người [4]. Ở Paris, 1 bệnh nhân của Denis chết sau mấy lần truyền máu bê, kéo theo cả 1 trận bút chiến [1]. Nhà viết kịch Thomas Shadwell thì chế giễu đáo để: trong vở The Virtuoso, người điên được truyền máu cừu xong kêu be be, nhai lại, mọc cả bộ lông cừu, ông khoa học kia còn tính truyền cho thêm người điên để lấy lông [1]. Truyền máu bị cấm ở Pháp, Anh, Ý rồi nằm im khoảng 150 năm [6].

Nói chung là thời ấy người bị đem ra thử nếu không phải hạng chẳng ai tiếc thì cũng là người lấy tiền: 1 gia nhân “đáng treo cổ”, 1 người điên được thuê, 1 người 45 tuổi khỏe mạnh được trả tiền để nhận máu cừu [1].

IV - ÔNG CHỒNG ĐỨNG CẠNH GIƯỜNG

Khoảng năm 1820, bác sĩ sản James Blundell ở London làm lại, lần này từ người sang người, để cứu sản phụ băng huyết. Người cho thường là ông chồng đứng ngay cạnh giường, máu chảy theo ống sang vợ [6]. Có lúc máu được rút ở tĩnh mạch tay người cho rồi bơm ngay vào động mạch tay người nhận, phải nhanh tay cho kịp trước khi máu đông [7]. Có người chết, có người sống. Mà khốn nỗi, người sau Blundell chế thêm quả bóp cao su, bơm, van, khóa, có người pha máu với nước muối, kết quả vẫn lúc được lúc không [6].

Cả thế kỷ 19, người ta đi tìm hóa chất chống đông chính là để khỏi phải có người cho máu nằm cạnh bệnh nhân lúc truyền mà cứ thất bại [7]. Thành ra người cho chỉ có thể là người đứng được cạnh giường, thường là người nhà [7].

Ở ta, thời chống Mỹ, bộ đội, y bác sĩ trên đường Trường Sơn cũng cho máu thương binh ngay tại chỗ. Bảo Tàng Lịch Sử Quân Sự Việt Nam còn giữ bộ dây lấy máu do y sĩ Đội Điều Trị 14 tự chế, đã lấy được 6,65 lít máu truyền cho 58 thương binh. Bà Nguyễn Thị Thoa, y tá đội ấy, nhớ lại: “chưa hề có túi lấy máu, chưa có chất chống đông nên truyền trực tiếp cho thương binh luôn. Khi lấy máu các chiến sĩ là tính giọt, đếm giọt, cứ bao nhiêu giọt thành 1 ml…” [8].

Hết chiến tranh, năm 1984 ngành y vận động bằng khẩu hiệu “Một người cần truyền máu, ba người thân cho máu” [8], đúng cái lẽ 1 giọt máu đào hơn ao nước lã.

V - CÁI CHAI

Năm 1914, giữa Thế Chiến I, bác sĩ Bỉ Albert Hustin thấy natri citrat với đường glucose giữ được máu khỏi đông [7]. Thêm ướp lạnh nữa thì từ tháng 1/1916 máu đã trữ sẵn được, không cần người cho có mặt [6].

Máu để được trong chai thì người cho chẳng cần đứng cạnh giường nữa. Năm 1921 ở London, Percy Lane Oliver, 1 công chức Hội Chữ Thập Đỏ, lập danh sách người cho máu không lấy tiền. Ông còn cấm người cho gặp người nhận, vì “mỗi người cho máu phải hiểu mình là 1 đơn vị của 1 tổ chức…” [9]. Người cho chìa tay ra rồi về, máu mình chảy vào ai, ở đâu, chịu.

Ở Đông Phi và Trung Phi, theo nhà sử học Mỹ Luise White, nhiều người kể “ma cà rồng da trắng” bắt đầu đi bắt người từ khoảng năm 1918 đến 1925, rút máu đem về cho người da trắng [10]. Năm 1947 ở Dar es Salaam, thủ phủ xứ Tanganyika thuộc Anh, nay thuộc Tanzania, dịch vụ truyền máu không có xe nên mượn xe cứu hỏa chở người đi hiến. Rồi cả vùng đồn xe ấy đi gom đàn ông Phi về rút máu, âm mưu làm họ tuyệt đường con cái [10].

Năm 1955 gần Kigoma, cũng ở Tanganyika, 1 đoàn khảo sát sức khỏe của WHO phải rút hết người chỉ vì 1 trợ lý lấy miệng hút mẫu máu qua ống pipet. Qua 1 đêm cả vùng hoảng loạn, đồn rằng người châu Âu lại uống máu. 1 cô y tá tô son môi cũng bị lấy làm bằng chứng [10].

Tin đồn ấy sai bét. Có điều người châu Âu nghe thì cũng khó cười to, vì 2 thế kỷ trước, máu tử tù ở Đức, ở Pháp vẫn được bán cho người ta uống thật [2]. Còn White thì cho rằng chuyện ma cà rồng nói về 1 điều có thật, là người da trắng nắm cái hiểu biết về máu, nắm bệnh viện, nắm quyền [10].

VI - BÀ MẸ Ở PHÚC YÊN

Ở ta, năm 1993, trên 90% lượng máu cả nước là của người cho máu lấy tiền [11]. Theo Giáo sư Đỗ Trung Phấn, Viện Trưởng Viện Huyết Học hồi ấy, máu đã ít lại kém, vì người ta bán đi bán lại nhiều lần, Việt Nam lại chưa sàng lọc được HIV, viêm gan B, máu thu về thì cất trong tủ lạnh đựng rau [12] (tủ lạnh thường, chứ chẳng phải tủ trữ máu gì).

Giáo sư Phấn cùng mấy sinh viên Đại Học Y Hà Nội đi vận động. Hiệu trưởng nhiều trường hỏi ông đúng 1 câu: “hiến máu xong liệu sinh viên có bị ốm không?” [12]. Hỏi thế có phải là lạc hậu không? Chưa chắc. Mấy trăm năm, ai bị lấy máu ra thì thường là người đang ốm, như ông Washington, như cậu bé ở Paris, lấy xong là lả đi.

Có lần đoàn về Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 ở thị trấn Phúc Yên, Vĩnh Phúc, thu được hơn 20 đơn vị máu thì bị chặn lại. Mẹ của 1 sinh viên vừa cho máu đi gọi thêm mấy phụ huynh khác, nhờ cả công an can thiệp, vì tin rằng trường đã lấy máu con họ bán cho Đại Học Y Hà Nội để bán ra nước ngoài [12].

Đọc đến đây chắc nhiều bạn bật cười. Thử đặt vào chỗ bà mà xem. Máu con bà rút ra rồi theo đoàn về Hà Nội, vào người nào bà không biết, mà xưa nay bà chỉ thấy người ta bán máu, chưa thấy ai cho không.

Ngày 24/1/1994, Viện Huyết Học phát động phong trào hiến máu nhân đạo, cả ngày được 30 đơn vị, Giáo sư Phấn bảo “rất quý rồi” [8]. Ông Phạm Tất Dong, Phó Trưởng Ban Khoa Giáo Trung ương lúc ấy, chọn bộ đội, sinh viên đi đầu, còn lãnh đạo thì phải hiến trước, để dân hiểu “đây là chúng ta hiến máu, chứ không phải bán máu” [8]. Giáo sư Phấn đi đâu cũng mang theo 1 xấp ảnh toàn người có máu mặt đi cho máu: Fidel Castro, Thủ Tướng Ấn Độ, Công Chúa Thái Lan, rồi Phó Thủ Tướng Nguyễn Khánh [12]. Người chìa tay ra giờ là ông bí thư, ông bộ trưởng, đố ai bảo các ông ấy thiếu tiền đi bán máu.

Năm 2023, Việt Nam nhận hơn 1,5 triệu đơn vị máu, 99% là máu hiến tình nguyện [8]. Viện Huyết Học viết rằng trước đây người đi hiến máu “bị gia đình ngăn cấm hay bị kỳ thị”, giờ thì thành “niềm tự hào của gia đình hay cơ quan công tác” [13]. Bạn về hỏi bố mẹ mình xem, hồi những năm 90 nhà mình có ai dám đi hiến máu không.

Ở Tanzania, 1 ông kể với White rằng chính quyền Anh hồi trước chẳng cần ai hiến máu, vì đã lấy được máu theo cái cách kia rồi, “nhưng khi độc lập thì chính phủ này dừng lại. Vì thế mà bệnh viện lúc nào cũng phải xin người ta tình nguyện cho máu” [10].

Nguồn:

[1] Lois N. Magner, A History of Medicine, tái bản lần 2, Taylor and Francis, 2005, chương 6, mục Blood Transfusion.

[2] Mary Roach, Stiff: The Curious Lives of Human Cadavers, chương 10.

[3] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản dịch Viện Sử Học, kỷ nhà Lý năm 1028, kỷ nhà Trần năm 1227, kỷ Lê Nhân Tông.

[4] Bill Bryson, The Body: A Guide for Occupants, chương về máu.

[5] David Wootton, Bad Medicine: Doctors Doing Harm Since Hippocrates, Oxford, 2006.

[6] Kill or Cure: An Illustrated History of Medicine, DK, mục truyền máu và nhóm máu.

[7] Steve Parker (chủ biên), Medicine: The Definitive Illustrated History, DK, mục Transfusion Breakthrough.

[8] Viện Huyết Học Truyền Máu Trung Ương, “Hành trình 30 năm giữ dòng máu luôn chảy”, vienhuyethoc.vn, 20/1/2024.

[9] Wikipedia tiếng Anh, mục “Percy Lane Oliver” (dẫn Stanton 2004, Oxford Dictionary of National Biography; Pelis 2007).

[10] Luise White, Speaking with Vampires: Rumor and History in Colonial Africa, University of California Press, 2000.

[11] Báo Văn Hóa, “TP.HCM tri ân người hiến máu nhiều lần có hoàn cảnh khó khăn”, 2024.

[12] Báo Tiền Phong, “Cha đẻ của phong trào hiến máu”, bài về GS.TSKH Đỗ Trung Phấn.

[13] Báo Đầu Tư, “30 năm cách mạng thay đổi nhận thức người dân về hiến máu tình nguyện”, 2024.