Ở phòng trưng bày Bộ Đội Trường Sơn trong Bảo Tàng Lịch Sử Quân Sự Việt Nam có 1 bộ dây lấy máu do y sĩ Đội Điều Trị 14 tự chế. Bộ dây ấy đã lấy được 6,65 lít máu, truyền cho 58 thương binh trên đường Trường Sơn. Bà Nguyễn Thị Thoa, y tá của đội, nhớ lại: “chưa hề có túi lấy máu, chưa có chất chống đông nên truyền trực tiếp cho thương binh luôn. Khi lấy máu các chiến sĩ là tính giọt, đếm giọt, cứ bao nhiêu giọt thành 1 ml, bao nhiêu ml thành 1 đơn vị máu…” [1].
I - CON CHÓ VÀ CON CỪU
Năm 1628, William Harvey chứng minh máu chạy vòng trong cơ thể [2]. Mấy chục năm sau, giới khoa học Anh bắt đầu thử bơm đủ thứ vào mạch máu thú. Năm 1657, đại sứ Pháp đưa cho Christopher Wren, người vừa làm kiến trúc sư vừa mổ thú làm thí nghiệm, 1 gia nhân mà ông bảo là “đáng bị treo cổ” để thử trên người. Gã hầu vừa nhìn thấy đồ nghề đã ngất, thí nghiệm bỏ dở [3].
Tháng 2/1666, Richard Lower rút máu 1 con chó tới gần chết rồi cho máu từ động mạch cổ 1 con chó to hơn chảy sang. Khâu tĩnh mạch cổ xong, con chó chạy về với chủ [4]. Sở dĩ phải nối thẳng mạch máu con này sang con kia là do máu cứ gặp không khí là đông, hồi ấy chưa ai biết cách chặn [2].
Ngày 15/6/1667 ở Paris, Jean-Baptiste Denis thử truyền máu thú sang người. Bệnh nhân là 1 cậu bé 15 tuổi sốt mãi không dứt, đã bị thầy thuốc trích máu 20 lần trong 2 tháng. Paul Emmerez, thầy thuốc ngoại khoa làm cùng Denis, rút chừng 3 ounce máu ở tĩnh mạch tay cậu (khoảng 90 ml), rồi Denis cho chảy vào chừng 10 ounce máu động mạch của 1 con cừu. Cậu bé tỉnh ra, ăn ngon trở lại, chỉ kêu nóng ran ở tay. Denis làm tiếp cho 1 người 45 tuổi khỏe mạnh được trả tiền, lần này chừng 20 ounce máu cừu [4]. Ông còn cho rằng máu thú tốt hơn máu người, vì máu thú không bị dục vọng và thói xấu làm bẩn [4].
Tháng 11/1667, Lower làm ở London, trước đông đủ các vị trong Hội Hoàng Gia. Người nhận là Arthur Coga, 1 học giả lập dị, đầu óc hơi có vấn đề, được thuê tiền [4]. Lower cho chừng 12 ounce máu cừu chảy vào tay Coga rồi cả phòng ngồi chờ. Coga vẫn ngon lành, 1 người có mặt ghi lại là ông “khỏe và vui”, uống 1, 2 ly vang ngọt, hút 1 tẩu thuốc [5] (truyền máu cừu xong mà cứ như vừa đi nhậu về).
Ở Paris, 1 người 34 tuổi lên cơn điên đã 8 năm được Denis truyền máu bê 2 lần, đỡ được 1 thời gian. Cơn điên quay lại, Denis truyền tiếp, người bệnh chết. Denis đổ cho rượu, đàn bà, thuốc lá, sau lại nói chính bà vợ đã đầu độc chồng. Tòa không kết tội Denis mà theo Magner, coi như truyền máu đã bị kết tội [4]. Nhà viết kịch Anh Thomas Shadwell còn chế giễu trong vở The Virtuoso: người điên được truyền máu cừu xong kêu be be, nhai lại, mọc cả bộ lông cừu [4]. Pháp cấm hẳn, ở Anh, Ý thí nghiệm cũng lắng xuống, truyền máu nằm im thin thít khoảng 150 năm [2].
II - ÔNG CHỒNG ĐỨNG CẠNH GIƯỜNG
Tháng 12/1799, George Washington đau họng, 3 bác sĩ trích máu ông 4 lần, trong 2 ngày ông mất chừng 40% lượng máu rồi chết. Sau đó còn 1 bác sĩ đến đề nghị truyền máu cừu cho ông sống lại, gia đình xin thôi [5].
Khoảng năm 1820, bác sĩ sản James Blundell ở London làm lại, lần này từ người sang người, để cứu sản phụ băng huyết. Người cho thường là ông chồng đứng ngay cạnh giường, máu chảy theo ống sang vợ. Blundell thử cả xi lanh, cả bình chứa [2]. Máu được rút ở tĩnh mạch tay người cho rồi bơm ngay vào động mạch tay người nhận, phải nhanh tay cho kịp trước khi đông [6]. Có người chết, có người sống [2].
Người đi sau chế thêm quả bóp cao su, bơm, khóa, van gắn vào ống, có người pha máu với nước muối cho đỡ đông, kết quả vẫn lúc được lúc không [2]. Ngặt cái là chưa ai hiểu vì sao. Năm 1875, nhà sinh lý học Đức Leonard Landois trộn huyết tương của con vật này với hồng cầu của con vật khác thì thấy hồng cầu vón lại, có khi vỡ ra [6]. Máu thú trộn với máu người cũng vón như thế [2].
Ở Mỹ, bác sĩ phẫu thuật William Halsted làm 1 trong những ca truyền máu thành công đầu tiên. Em gái ông là Minnie băng huyết sau sinh, nằm thoi thóp, ông rút chừng 2 panh máu (gần 1 lít) từ tay mình truyền sang tay em và cứu được em. Hồi ấy chưa ai biết phải hợp nhóm máu, may mà 2 anh em hợp [5].
III - NHÓM MÁU VÀ CÁI CHAI
Năm 1900, Karl Landsteiner, 1 nhà nghiên cứu trẻ ở Vienna, thấy máu người này trộn với máu người kia có khi vón, có khi không. Ông chia máu thành 3 nhóm A, B và 0. Nhóm “O” bây giờ ai cũng đọc là chữ O, chứ Landsteiner viết là số 0, vì nhóm ấy không vón với nhóm nào. 2 đồng nghiệp của ông tìm thêm nhóm AB [5]. Bạn nào nhóm O thì bây giờ hay được gọi là người cho máu “vạn năng”, vì nhóm này cho được mọi nhóm khác [5]. Có nhóm máu rồi mới hiểu vì sao truyền máu hay thất bại, vậy mà gần như chẳng ai để ý tới ông, 30 năm sau Landsteiner mới được giải Nobel năm 1930 [5].
Tên nhóm thì lộn xộn phải biết. Năm 1907, giáo sư người Séc Jan Jansky đặt 4 nhóm là I, II, III, IV. Năm 1910, William Moss ở Mỹ cũng đánh số I đến IV mà lại đảo ngược nhóm I với nhóm IV của Jansky [2]. Cùng 1 chữ “nhóm I” mà mỗi sách chỉ 1 nhóm khác nhau, nhầm 1 cái là sai bét. Mãi cuối thập niên 1930 cách gọi ABO mới thành chuẩn [2].
Năm 1914, bác sĩ Bỉ Albert Hustin thấy natri citrat cùng đường glucose giữ được máu khỏi đông. Năm 1915, Richard Lewisohn, nhà khoa học gốc Đức, tính ra liều vừa đủ chống đông mà không làm hại người nhận [6]. Giữ máu ở nhiệt độ thấp nữa thì từ tháng 1/1916 máu trữ sẵn được, chở ra tận quân y ngoài mặt trận, không cần người cho nằm cạnh người nhận nữa [2], [6].
Tháng 10/1921, bệnh viện King’s College ở London gọi sang Hội Chữ Thập Đỏ khu Camberwell xin gấp 1 người cho máu. Thư ký chi hội là Percy Lane Oliver, 1 công chức chứ không phải bác sĩ. Ông cùng 3 đồng nghiệp tới, 1 người hợp nhóm. Từ đó ông lập danh sách người cho máu, ban đầu là 20 người quen, văn phòng đặt ngay trong nhà mình, không ai lấy tiền [7].
Năm 1940, bác sĩ Mỹ Charles Drew tìm ra cách tách huyết tương khỏi máu để giữ được lâu hơn, rồi đứng ra lo việc thu gom, cất trữ máu quy mô lớn cho quân Đồng Minh và Hội Chữ Thập Đỏ Mỹ [8]. Cũng năm ấy có chiến dịch “Blood for Britain” (máu cho nước Anh), Hội Chữ Thập Đỏ Mỹ lấy máu của người dân New York rồi gửi huyết tương sang Anh. Năm 1941, Mỹ lập Ngân Hàng Máu của Hội Chữ Thập Đỏ [6]. Ấy vậy mà là người da đen, chính Drew lúc đầu bị loại khỏi danh sách hiến máu [8]. Ông lo cả kho máu cho quân Đồng Minh mà máu của ông thì không được nhận?!
IV - VIỆT NAM BẮT ĐẦU TỪ CÁI CHAI THỦY TINH
Ở ta, theo Viện Huyết Học, thời chiến máu được lấy “ngay trên chiến hào, do chính các chiến sĩ hiến máu cho đồng đội”. Chủ yếu là truyền máu toàn phần, lấy bằng chai thủy tinh (chai hở, chứ không kín như túi bây giờ), truyền ngay trong ngày, chưa có cách bảo quản, chưa tách được thành phần [1].
Hết chiến tranh, máu ở các bệnh viện lớn “đa phần là từ những người bán máu chuyên nghiệp, nhân viên y tế hiến máu”. Đầu năm 1984, Khoa Huyết Học Truyền Máu Bệnh Viện Bạch Mai mở hội thảo với Trung Tâm Truyền Máu Quốc Gia Pháp. Ngày 11/7/1984, Bộ Trưởng Y Tế Đặng Hồi Xuân cho phép vận động hiến máu ở cơ quan, trường học. Tháng 4/1985, Hội Huyết Học Truyền Máu kêu gọi “Hãy gửi máu vào ngân hàng máu” [1], trong khi bên Mỹ ngân hàng máu đã có từ năm 1941.
Năm 1993, Giáo sư Đỗ Trung Phấn về làm Viện Trưởng Viện Huyết Học. Theo báo Tiền Phong, thập niên 1990 hiến máu ở ta “lạc hậu 50 năm so với thế giới”, nghĩa là ngang thời Drew bên Mỹ. Thiết bị lưu trữ không có, sinh phẩm để sàng lọc máu không có, công cụ thu gom lạc hậu, máu thu về phải cất trong tủ lạnh đựng rau. Việt Nam chưa sàng lọc được HIV, viêm gan B, nhiều người nước ngoài ở ta cần truyền máu thì sang Thái Lan hay Singapore [9].
Giáo sư Phấn liên hệ chuyên gia Luxembourg. 1 đoàn Luxembourg sang xem rồi quyết định viện trợ 12 triệu USD, nhờ vậy bệnh viện nào ở ta cũng được trang bị thiết bị bảo quản máu (không có khoản ấy thì chẳng biết máu còn phải nằm cạnh rau đến bao giờ?). Nhân chương trình phòng chống HIV toàn quốc, ông vận động mua sinh phẩm, dụng cụ sàng lọc, đi dạy cách sàng lọc máu khắp nước, rồi tìm nơi tài trợ thiết bị thu gom, để chuyển dần từ thu gom hở sang thu gom kín [9].
Ngày 24/1/1994, Viện phát động hiến máu nhân đạo, cả ngày được 30 đơn vị [1]. Có lần đoàn của Giáo sư Phấn về Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 ở Phúc Yên lấy được hơn 20 đơn vị thì bị phụ huynh nhờ cả công an chặn lại, vì tin trường lấy máu con mình đem bán [9].
Truyền nguyên cả đơn vị máu thì vừa lạc hậu vừa phí, vì có bệnh nhân chỉ cần hồng cầu, có người chỉ cần huyết tương. Muốn có tiền tách thành phần máu, Giáo sư Phấn chuyển từ truyền máu bao cấp sang truyền máu trả tiền: “Ban đầu bệnh nhân nhất định không chịu trả tiền. Nhiều người đến tận phòng tôi để năn nỉ xin máu miễn phí. Nhưng tôi kiên quyết chỉ cấp miễn phí máu cho người nghèo” [9]. Ông đề xuất xây 4 trung tâm truyền máu hiện đại chế biến các chế phẩm máu rồi đưa về bệnh viện, thay vì bệnh viện nào cũng tự làm. Tháng 2/2012, Hội đồng xét tặng Giải Thưởng Hồ Chí Minh và Giải Thưởng Nhà Nước về khoa học công nghệ gọi việc chuyển sang truyền máu từng phần là bước đột phá của ngành truyền máu ở ta [9].
Năm 2023, cả nước nhận hơn 1,5 triệu đơn vị máu, 99% là máu hiến tình nguyện [1]. Bạn nào từng đi hiến máu chắc còn nhớ cái túi nhựa nằm trên chiếc cân cứ lắc lư bên cạnh ghế. Mấy chục năm trước trên đường Trường Sơn, chỗ của cái túi ấy là 1 cái chai thủy tinh và 1 bộ dây tự chế.
Nguồn:
[1] Viện Huyết Học Truyền Máu Trung Ương, “Hành trình 30 năm giữ dòng máu luôn chảy”, vienhuyethoc.vn, 20/1/2024.
[2] Kill or Cure: An Illustrated History of Medicine, DK, mục truyền máu và nhóm máu.
[3] David Wootton, Bad Medicine: Doctors Doing Harm Since Hippocrates, Oxford, 2006.
[4] Lois N. Magner, A History of Medicine, tái bản lần 2, Taylor and Francis, 2005, chương 6, mục Blood Transfusion.
[5] Bill Bryson, The Body: A Guide for Occupants, chương về máu.
[6] Steve Parker (chủ biên), Medicine: The Definitive Illustrated History, DK, mục Transfusion Breakthrough và mục Battlefield Medicine in World War II.
[7] Wikipedia tiếng Anh, mục “Percy Lane Oliver” (dẫn Stanton 2004, Oxford Dictionary of National Biography; Pelis 2007).
[8] The Story of Medicine, ấn phẩm chuyên đề, 2026, mục niên biểu năm 1940.
[9] Báo Tiền Phong, “Cha đẻ của phong trào hiến máu”, bài về GS.TSKH Đỗ Trung Phấn.