Nói đến trận Bạch Đằng năm 1288 thì học sinh nào cũng nhớ bãi cọc gỗ, nước thủy triều rút xuống, Ô Mã Nhi bị bắt sống. Còn trận Vân Đồn mấy tháng trước đó thì sách sử chỉ ghi lại 1, 2 dòng, rằng Trần Khánh Dư đặt quân mai phục ở Vân Đồn, đánh tan cả đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ [1]. Nghe thì như 1 trận phụ, đánh mấy cái thuyền chở gạo thì có gì mà phải nhắc lại nhỉ.
Các cụ ngày xưa thì không nghĩ thế. Mình đọc lại Binh thư yếu lược mới biết chuyện chở gạo được các cụ ghi chép kỹ càng, cẩn thận hơn cả chuyện binh đao, múa giáo.
Cuốn sách mang tên Hưng Đạo Vương ấy dạy cách bày trận, cách giữ thành, cách đánh hỏa công. Vậy mà lật ra thì gặp rất nhiều trang dạy cách làm lương khô, nấu cơm không cần nồi, tìm nước ở chỗ không có nước, đến cả chuyện lạc đường trong rừng thì thả 1 con ngựa già đi trước. Thử hỏi 1 cuốn sách dạy đánh trận việc gì phải kỹ càng chuyện ăn uống đến thế?
I - SÁCH CỦA HƯNG ĐẠO VƯƠNG GHI CẢ CÁCH LÀM LƯƠNG KHÔ
Trước giờ sách vở vẫn ghi Binh thư yếu lược là của Hưng Đạo Vương. Có đúng thế không? Chưa chắc! Ngay trong lời giới thiệu, người dịch đã viết rằng không thể xem đây là di tác của Hưng Đạo Vương. Sách do nhiều người thông hiểu binh pháp đời Trần, đời Lê, đời Nguyễn nối nhau biên soạn, trích từ binh thư của Tàu và của ta, thỉnh thoảng thêm vào mấy chuyện chiến trận trong nước [2]. Nói nôm na, đời nào cũng có người đọc, thấy đoạn nào cần dùng thì viết thêm vào, mà họ viết thêm rất nhiều đoạn về chuyện ăn uống đấy.
Mục “Đồ dùng của binh” kể ra: cuốc xẻng để đào đất, rìu búa dao cưa để chặt cây, xẻ gỗ, thợ rèn, thợ may, trâu ngựa để chở đồ, thuốc men để chữa bệnh, “giày da để phòng chạy xông; lương khô để phòng lúc hết ăn” [3]. Lại có lệnh 3 ngày trước khi xuất quân thì các quân phải thu xếp cho đủ “hành trang, lương khô, giày dép và các vật tùy thân”, nghe lệnh là lên đường [4].
Mục “Quân tư” (tức là đồ ăn uống của quân) mở đầu bằng câu: “việc ăn là việc gốc của dân, là việc tính mệnh của binh” [5]. Rồi sách dặn mỗi người lính phải đeo theo vài đấu lương khô, ăn được vài tuần. Vì vào sâu đất địch thì xe chở lương không theo kịp, mà địch lại hay làm “vườn không nhà trống” để chờ mình [5].
Cách làm lương khô cũng được ghi chép kỹ lắm. Gạo hấp chín rồi ngâm nước tương, sấy khô, lại hấp lại sấy, làm thế mươi lần thì 1 thạch gạo (thạch là đơn vị đong lớn, bằng 10 đấu) rút lại chỉ còn chừng 2 đấu. Mỗi lần ăn chỉ lấy 1 ít ngâm nước nóng cho nở ra rồi nấu, 1 người ăn được 50 ngày. Gạo trộn muối đem rang cho săn lại thì để mang đi đường vào mùa hè. Đậu giã nát trộn muối, nắm thành viên to bằng hạt táo, phơi khô để thay tương [5].
Lại dặn mỗi người mang nửa cân vừng, khát thì nhai 30 hạt. Mang theo 1 quả bầu, 1 ống tre hay 1 túi da đựng nước, xem đường trước mặt có nước hay không mà đổ nước cho đủ. Lính cưỡi ngựa thì mang thêm tương khô cho ngựa. Lúc ngặt nghèo quá thì đem cả đồ quân trang bằng da ra nấu ăn cho đỡ đói [5].
Mấy cách làm ấy phần lớn lấy từ Võ bị chế thắng chí, 1 bộ sách binh đời Minh [5]. Tức là các cụ đọc sách Tàu, thấy chỗ nào bàn chuyện ăn uống của lính là chép lại gần như nguyên văn. Học theo sách Tàu thì đã sao, miễn là quân mình no!
Phần Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ in kèm trong sách còn có phép nấu cơm ở đầu ngựa. Cho gạo với nước vào ống tre tươi, lấy gỗ nút miệng lại, lính kỵ binh 1 tay cầm ống gạo 1 tay cầm bó đuốc hơ lửa vào, ống tre cháy xém thì cơm chín, “300 kỵ binh đều no”, gặp giặc là xông vào đánh được ngay [6]. Người hiệu đính là Kiêm Trai Ngô Tử Thông còn ghi thêm, tổ tiên nhà ông là Bảng quận công theo vua Lê Trang Tông đi lén theo đường núi ở sông Mã, không có nước sôi, cũng sai quân lấy ống tre non cho gạo vào mà đốt, “khát thì bẻ cành trám mà uống” [6].
Hóa ra cơm lam bây giờ là đặc sản bán cho khách du lịch, ngày xưa lại là cơm của lính đi đường núi. Lương khô bộ đội bây giờ ngoài chợ cũng bán làm quà vặt.
II - ĐÁNH VÀO CÁI BỤNG
Lo kỹ càng thế là có lý do cả. Binh thư dẫn lại lời Tôn Tử, đại ý là nước mà phải chở lương đi xa thì trăm họ khổ sở, gần chỗ quân đóng thì cái gì cũng đắt đỏ, dân hết sạch của cải, “trăm họ hao phí 10 phần mất 7” [4]. Thế nên “người trí tướng cốt tìm ăn ở địch; ăn ở địch, một chung đỡ cho ta 20 chung” [4]. Nói cho dễ hiểu, ăn được 1 phần gạo của địch thì bằng mình đỡ phải chở 20 phần từ nhà sang. Có điều Tôn Tử nói cho bên đi đánh người, quân phải đi xa. Còn bên bị đánh thì cứ làm ngược lại: đừng để cho nó có hạt gạo nào mà ăn.
Theo Hoài Nam Tử của Lưu An (sách Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam dẫn lại), nhà Tần sai Đồ Thư đem 50 vạn quân xuống đất Việt: “trong 3 năm quân Tần không cởi giáp, dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương” [7]. Còn người Việt thì “đều vào trong rừng, ở với cầm thú”, đêm đêm ra đánh, cuối cùng giết được Đồ Thư [7]. 50 vạn quân mà phải lấy lính ra đào kênh để chở gạo. Ăn còn chưa đủ no thì đánh đấm gì?!
Gần 1.500 năm sau quân Nguyên mắc đúng cái lỗi ấy. Theo Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, lối đánh quen thuộc của quân Mông Nguyên là đi đến đâu “cướp của cải và lương ăn, bắt người bản xứ phục vụ mình” nhưng sang Đại Việt thì không làm được [8]. Lần thứ 3, cuối năm 1287, quân Nguyên mang theo cả 1 đoàn thuyền lương [1]. Ô Mã Nhi ham đi nhanh, dẫn chiến thuyền vượt lên trước, để đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ lẽo đẽo đi sau, thế là bị Trần Khánh Dư đón đánh ở Vân Đồn [1].
Thoát Hoan vẫn vào được Thăng Long nhưng dân đã làm “vườn không nhà trống”, sách viết quân Nguyên “muốn đánh mà không được đánh, lương thực không có” [1]. Mấy tháng sau họ phải tính đường rút về, mà đường rút lui của thủy quân thì đi qua sông Bạch Đằng.
Tức là đoàn thuyền lương mất thì toang, quân Nguyên bị đói trước đã, rồi mới gặp bãi cọc Bạch Đằng. Thế mà trận Vân Đồn cứ bị coi là trận “phụ”!
Thời Trịnh Nguyễn đánh nhau cũng vậy. Ngay lần đầu kéo quân vào Nam, chúa Trịnh đã huy động 20 vạn quân thủy bộ, 500 voi, 600 chiến thuyền lớn và 500 thuyền tải lương [9]. 500 thuyền lương, gần bằng số thuyền chiến! Lo cái ăn cho quân chu đáo phải biết.
Năm 1672 Trịnh Căn lại đem 10 vạn quân vào đánh chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn họp bề tôi bàn mưu kế, Cai cơ Tống Đức Minh thưa rằng quân Trịnh vào sâu thì có lợi khi đánh nhanh, ta cứ “hào sâu lũy cao, giữ mãi để quân nó nhụt đi”, rồi “quân Trịnh tiến đánh không được, lương thực không tiếp tế được, thế tất sẽ phải nhân đêm trốn đi” [9]. Đại khái là cứ ngồi trong lũy mà cố thủ, chờ quân Trịnh hết gạo thì tự khắc phải rút về.
Hơn 100 năm sau, cuối năm 1774, đến lượt Hoàng Ngũ Phúc đem quân Trịnh đánh vào Đàng Trong, rồi phải “hành quân chiến đấu dài ngày trong điều kiện lương thảo thiếu thốn, khí hậu lạ, dịch bệnh phát sinh, quân sĩ ốm chết nhiều”, đành vội rút về Phú Xuân. Chính ông ngã bệnh và mất ngay trên đường đi [9].
Gươm giáo gãy thì còn rèn lại được, chứ quân đói 3 ngày thì còn ai cầm nổi giáo. Binh thư dặn hành quân gấp cả ngày lẫn đêm thì “người không kịp ăn, ngựa không kịp nghỉ, nhọc mà ít người theo kịp”, lại “tinh thần uể oải” [4]. Mà quân đã đói đã mệt thì dễ bỏ trốn về nhà. Thảo nào mục Quân lễ coi việc ngăn quân “trốn về” là “điều thắng thứ nhất của quân” [10].
III - NGƯỜI LO CƠM NƯỚC CŨNG CÓ TÊN TRONG SỬ
Binh thư dẫn sách Võ kinh, trong trướng đại tướng phải có 4 người thư toán chuyên “biên ghi lương thực, quân số khí giới”, cùng 2 người xem địa thế, 2 y sĩ, 3 người làm gián điệp và tuần thám [3]. Tức là bên cạnh ông tướng, số người giữ sổ sách lương thực còn đông gấp đôi số người xem địa thế. Lúc hành quân thì “lính nấu bếp đều phải theo sau toán quân của mình, để chiếu cố nhau” [4].
Trước khi đại quân đi còn có 1 đội đi trước dò đường, gọi là du binh. Chọn những người thuộc đường sá, mỗi ngả đường cử 9 người chia làm 3 tốp, leo cây trèo gò mà quan sát xem địch đông hay ít, đang đóng quân hay đang di chuyển, rồi chạy về báo lại. Báo sai thì bị trị tội, báo đúng thì ghi tên khen thưởng [4]. Đến chỗ hạ trại thì phải chọn nơi “sẵn cỏ nước, tiện việc kiếm củi chăn ngựa” [11]. Gặp chỗ không có nước thì tìm nơi lau sậy mọc, có ụ mối đùn hoặc lần theo dấu chân thú, “theo đó không xa hẳn là có nước” [5].
Hồi Lê Lợi còn ở Lam Sơn, theo Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam thì việc ăn uống có người lo hẳn hoi: Lê Cố làm việc “dâng cơm”, Trần Dung “coi việc lương thực”, Nguyễn Công Chuẩn lo tiếp tế quân lương [12]. Lê Lợi có lời khen riêng Nguyễn Công Chuẩn: “khi quân ta thất tán phải lánh vào rừng, ngươi vẫn giữ khí tiết, không hề nao núng, lo liệu đủ lương thực chuyển đến quân doanh cho quân sĩ không thiếu lương ăn” [12].
Ông vua đuổi được giặc Minh về nước mà lúc khen người có công lại nhắc riêng công lao của 1 người chở gạo, mà là chở gạo đúng lúc khốn đốn nhất, khi quân phải chạy vào rừng.
Cũng theo sách ấy, khi nghĩa quân vào Nghệ An “có lúc ba ngày thiếu lương thực ăn nhưng nghĩa quân không hề lấy của dân”, nên dân đem lương thực ra tiếp tế [12]. Ngày quân Nguyên sang thì dân cất giấu gạo rồi bỏ làng đi hết, làng nào cũng trống trơn, chứ ai dại gì để lại cho giặc. Quân Lam Sơn nhịn đói 3 ngày mà không đụng vào của cải của dân, nên dân tự mang gạo đến. Bạn thử nghĩ xem, nếu quân Lam Sơn cũng đi đến đâu vơ vét gạo đến đấy thì còn ai mang gạo cho mà ăn?
Ông cha ta thắng giặc đâu phải chỉ nhờ biết lo cái ăn cho quân. Bạch Đằng vẫn có cọc gỗ, có những người lính liều mình xông lên. Nhưng trước những trận lớn còn có rất nhiều người lo cho mấy vạn quân có cơm ăn nước uống, mà sử sách chỉ ghi lại tên được vài người.
Cũng trong cuốn sách dạy đánh trận ấy có 1 dòng dặn rằng quân đi gặp rừng núi, trời chiều lạc đường, thì thả 1 con ngựa già đi trước rồi theo sau, “vì ngựa già có thể biết đường” [4].
Nguồn:
[1] - Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, tập 1 - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, phần cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên lần thứ ba. [2] - Binh thư yếu lược - Trần Quốc Tuấn (tương truyền), bản dịch Nhà xuất bản Công an Nhân dân, phần Giới thiệu. [3] - Binh thư yếu lược, quyển I, mục Tuyển người làm việc dưới trướng và mục Đồ dùng của binh. [4] - Binh thư yếu lược, quyển II, mục Hành quân, có trích Tôn tử thiên II. [5] - Binh thư yếu lược, quyển II, mục Quân tư, có trích Võ bị chế thắng chí. [6] - Hổ trướng khu cơ - Đào Duy Từ, Ngô Tử Thông hiệu đính, quyển I Tập thiên, Thiên bộ chiến, mục Phép nấu cơm ở đầu ngựa. [7] - Hoài Nam Tử - Lưu An, theo Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, tập 1 dẫn lại, phần cuộc kháng chiến chống Tần. [8] - Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, tập 1, phần chiến tranh nhân dân thời Trần. [9] - Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, tập 2, phần chiến tranh Trịnh - Nguyễn và phần khởi nghĩa Tây Sơn. [10] - Binh thư yếu lược, quyển I, mục Quân lễ. [11] - Binh thư yếu lược, quyển II, mục Đồn trú, có trích Yên thủy thần kinh. [12] - Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam, tập 1, phần khởi nghĩa Lam Sơn.