Có 1 câu trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên của Võ Nguyên Giáp (Hữu Mai thể hiện) về Hà Nội trước Cách mạng Tháng Tám như sau: “Cuộc sống tính từng ngày”. Thành phố khi ấy vừa đi qua nạn đói, xác người chết đói vẫn còn được chở ra ngoại ô, người sống thì kiệt quệ, chợ đen đầy đường, dịch bệnh và nỗi lo ngày mai ăn gì vẫn treo trên đầu. Nhìn vào Hà Nội lúc đó rất khó tưởng tượng chỉ ít ngày sau hàng vạn người sẽ bỏ việc đang làm, kéo ra đường, đứng kín quanh Nhà hát Lớn rồi đi chiếm những nơi vốn tượng trưng cho quyền lực. Mình nghĩ muốn hiểu ngày 19/8 thì phải bắt đầu từ cái khoảng cách rất ngắn ấy, từ 1 thành phố lo sống qua hôm nay tới 1 thành phố tin rằng ngày mai có thể khác.
Mình có đọc thêm Sự thật về nạn đói năm 1945 của Văn Tạo và Furuta Motoo. Đọc những khảo sát, lời kể và số liệu trong cuốn này mới thấy nạn đói không nên chỉ được coi là vài dòng bối cảnh trước khi kể đến Cách mạng Tháng Tám. Có những vùng số người chết chiếm 1 phần rất lớn dân số. Người từ các tỉnh đói dạt về Hà Nội, có người chết ngay trên đường phố. Những người còn sống bước vào tháng 8 khi ký ức ấy vẫn còn ngay trước mắt. Với họ, chuyện ai cai trị, ai có thể làm cho cuộc sống thay đổi chắc chắn không chỉ là chuyện chính trị ở đâu xa. Phong trào phá kho thóc cứu đói trước đó cũng vì thế mà chạm thẳng vào 1 việc người dân hiểu rất đơn giản: phải có cái ăn để sống đã.
Người ta thường kể những ngày đó bằng diễn biến. Nhật đầu hàng Đồng minh, Việt Minh phát động khởi nghĩa, quần chúng xuống đường, chính quyền được giành về tay cách mạng. Nhưng nếu đặt mình vào đầu 1 người Hà Nội thời điểm ấy, mọi chuyện mù mờ hơn nhiều. Họ chưa biết Nhật có thật sự chịu đứng yên hay không, không biết quân Đồng minh khi vào Đông Dương sẽ xử lý Việt Nam ra sao, người Pháp có quay lại hay không cũng chưa ai biết chắc. Chính quyền Trần Trọng Kim còn tồn tại trên giấy, quân Nhật vẫn có súng, cảnh sát và Bảo an vẫn còn đó. Mỗi người phải tự đắn đo xem bên nào đang mạnh, bên nào sắp hết thời, bước ra đường có thể được tung hô hay vài giờ sau bị gô cổ.
I - NGÀY 17/8
Hôm ấy Tổng hội Công chức tổ chức mít tinh trước Nhà hát Lớn. Tô Hải kể trong Hồi ký của một thằng hèn, cuốn hồi ký ông viết về cuộc đời mình qua nhiều biến động của thế kỷ 20, rằng lúc đầu người ta kéo đến để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim. Rồi cờ đỏ sao vàng xuất hiện, cờ quẻ ly bị giật xuống, lời kêu gọi đi theo Việt Minh vang lên và hàng nghìn người bên dưới hô theo. Tô Hải còn nhớ 1 chi tiết: “Không một tiếng súng. Không một sự phản kháng từ ai, từ đâu, dù trại lính Nhật ở cách đó chỉ khoảng 300 mét!”
Văn Cao cũng có mặt. Theo hồi ức của ông được Lê Minh Quốc dẫn lại trong Kể chuyện danh nhân Việt Nam, tập 4: Danh nhân văn hóa, Văn Cao đang ốm nặng nhưng ngày 17/8 vẫn cố đến dự cuộc mít tinh của công chức Hà Nội. Khi cờ đỏ sao vàng được thả xuống từ ban công Nhà hát Lớn và Tiến quân ca vang lên, ông nhớ: “Nước mắt tôi trào ra”. Xung quanh ông là hàng nghìn giọng hát.
Với người đứng giữa quảng trường lúc ấy, có lẽ lá cờ và bài hát chỉ là 1 phần. Quan trọng hơn là họ nhìn quanh và thấy rất nhiều người khác đã dám công khai đứng về 1 phía. Trước đó người ta có thể nghĩ mình chỉ là số ít. Đến chiều 17/8, suy nghĩ ấy bắt đầu lung lay. 1 người hô rồi hàng trăm người đáp lại, cờ xuất hiện giữa trung tâm Hà Nội mà cuộc mít tinh không bị dập ngay, quân Nhật ở gần đó vẫn chưa nổ súng.
Những người còn đứng xem lúc ấy nhận được rất nhiều thông tin chỉ trong vài phút. Họ thấy Việt Minh đủ sức bước ra công khai, thấy chính quyền đương thời không kiểm soát nổi 1 cuộc mít tinh của chính mình, thấy những người cạnh mình cũng đang đổi thái độ. Với 1 người vốn còn lưỡng lự, từng ấy tín hiệu có thể quan trọng hơn cả 1 bài diễn thuyết dài.
Nhưng đám đông hôm đó chắc chắn không nghĩ giống nhau. Hoàng Cầm kể trong Chặng đường mười nghìn ngày, hồi ký về quãng đời ông đi từ 1 thanh niên lao động đến những năm tham gia cách mạng, rằng có lúc ông hỏi thẳng: “Cách mạng là gì?”. Câu trả lời ông nhận được là: “Là đổi đời”. Rồi người ta giải thích đổi đời là thợ thuyền, dân nghèo đứng lên giành lại quyền sống. Hoàng Cầm nhớ mình đã nghĩ: “Giành lại quyền sống. Ôi! Sao mà hợp với nguyện vọng của mình đến thế”.
Người đã theo Việt Minh từ trước sẽ nhìn ngày 17/8 khác 1 người đi ngang thấy đông rồi ghé vào. 1 công chức có thể chỉ mong 1 chính quyền người Việt giữ được trật tự. Người vừa chứng kiến nạn đói có thể nghĩ đến cơm ăn và mạng sống trước khi nghĩ đến những lý luận lớn hơn. Trẻ con có thể hô theo những câu người lớn đang hô mà chưa hiểu hết. Từng ấy con người với từng ấy lý do vẫn có thể đi cùng 1 hướng trong 1 buổi chiều.
Đọc Vietnamese Tradition on Trial, 1920–1945 của David G. Marr thì thấy câu chuyện còn phải lùi xa hơn tháng 8/1945. Marr viết về hơn 20 năm xã hội Việt Nam thay đổi rất nhanh, nhất là trong giới thanh niên và trí thức. Người ta tranh luận về giáo dục, đạo đức, lịch sử, dân tộc, cá nhân, chính trị và chuyện nước Việt Nam rồi sẽ đi về đâu. Báo chí, trường học và các phong trào chính trị đã đưa những chuyện trước kia chỉ quanh quẩn trong 1 nhóm nhỏ ra 1 phạm vi rộng hơn. Thành ra những người xuống đường năm 1945 không phải đến tháng 8 mới bỗng nhiên nghĩ đến độc lập, rất nhiều thứ đã được nói, viết và tranh luận suốt nhiều năm trước đó. Rồi chiến tranh, nạn đói, Nhật đảo chính Pháp và cuối cùng Nhật đầu hàng dồn tới rất nhanh.
Nhưng để từng ấy người với những lý do khác nhau cùng đổ về 1 hướng trong đúng mấy ngày ấy thì còn có phần việc đã được làm từ trước. Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh đã gây dựng cơ sở, tổ chức các đoàn thể cứu quốc, làm công vận, binh vận, tuyên truyền, xây dựng các đội tự vệ và chuẩn bị người để khi thời cơ đến có thể hành động. Tại Hà Nội, lực lượng của Đảng không lớn nếu so với dân số thành phố nhưng mạng lưới tổ chức đã có sẵn. Giữa tháng 8, Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội được thành lập, Nguyễn Khang làm Chủ tịch, cùng những người như Nguyễn Quyết, Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Duy Thân, Trần Quang Huy, với Trần Đình Long làm cố vấn.
Cuốn Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam: Khi toàn dân tộc quyết “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” của Phạm Hồng Tung giúp nhìn phần chuẩn bị ấy kỹ hơn. Cuộc Tổng khởi nghĩa không bắt đầu vào sáng 19/8, trước đó đã có 1 quãng dài gây dựng cơ sở, tập hợp quần chúng và chuẩn bị lực lượng. Đến khi Nhật đầu hàng, cái khó lại là thời gian. Cơ hội vừa mở ra nhưng không ai biết nó kéo dài được mấy ngày. Nếu không có sẵn người và tổ chức thì lúc nhận ra thời cơ có khi thời cơ đã qua mất rồi.
Bởi vậy chuyện ngày 17/8 cũng không đơn giản là vài người đang đứng xem bỗng nổi hứng giành diễn đàn. Những người của Việt Minh đã chuẩn bị để biến cuộc mít tinh thành 1 cuộc biểu dương lực lượng. Sau buổi chiều ấy, những người lãnh đạo khởi nghĩa ở Hà Nội đi đến quyết định hành động vào ngày 19/8. Theo mình phần tự phát của đám đông là có thật, sự chuẩn bị và tổ chức cũng có thật.
Trong lúc đường phố bắt đầu đổi màu, những người đang giữ bộ máy cũ cũng phải tính đường của mình. Phan Kế Toại, Khâm sai Bắc Bộ, đã dao động và xin rời chức trong những ngày chính quyền Trần Trọng Kim đi đến tan rã. Trần Trọng Kim sau này kể lại giai đoạn này trong Một cơn gió bụi, cuốn hồi ký ông viết sau khi đã rời chính trường. Đây là lời kể từ chính người đứng đầu chính phủ đang mất quyền nên đương nhiên phải đọc cùng các nguồn khác. Vậy mà ngay Trần Trọng Kim cũng thừa nhận dân chúng lúc ấy đang khao khát độc lập và Việt Minh có sức hút rất lớn.
Những người ngồi trong bộ máy phải nghĩ đến 1 chuyện rất thực tế: nếu Nhật đã đầu hàng, nếu dân ngoài đường đang ngả sang Việt Minh, nếu cảnh sát và Bảo an cũng dao động, mình còn dựa vào ai để ra lệnh? 1 chính quyền có thể vẫn còn dinh thự, con dấu, công chức và lính gác, nhưng người ngồi trong đó đã bắt đầu nghĩ đến chuyện rời ghế thì sức mạnh của nó đã khác hôm trước rất nhiều.
Còn những người lãnh đạo khởi nghĩa cũng phải tính. Thời cơ đến quá nhanh. Nhật vừa đầu hàng, quân Đồng minh chưa vào, chính quyền Trần Trọng Kim mất chỗ dựa, người Pháp chưa kịp trở lại, và khoảng thời gian ấy chẳng ai biết sẽ kéo dài bao lâu. Chờ thêm thì tình hình có thể đổi: quân Đồng minh kéo vào, người Pháp tìm đường trở lại, những lực lượng chính trị khác cũng sẽ hành động. Nhưng đi quá sớm thì quân Nhật vẫn còn nguyên súng ống, và lực lượng cách mạng ở Hà Nội chưa mạnh đến mức có thể đánh 1 trận lớn với họ.
Trung ương Đảng đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Nhưng ở Hà Nội, những người của Xứ ủy Bắc Kỳ và Ủy ban Khởi nghĩa còn phải tự đọc tình hình tại chỗ và quyết định cách làm trong lúc lực lượng Giải phóng quân từ chiến khu chưa về tới thành phố. Chọn ngày 19/8 vì thế không chỉ là chọn 1 ngày để mít tinh. Họ đang cố giành chính quyền trong khoảng thời gian Nhật đã thua mà Đồng minh chưa tới.
II - ĐÊM 18/8
Trong Chặng đường mười nghìn ngày, Hoàng Cầm nhớ đêm 18 “như không khí của đêm 30 Tết”. Anh em tự vệ bận rộn, vừa lo vừa phơi phới, ai cũng thấp thỏm mong trời mau sáng. Mình thích cách nhớ ấy vì nó nghe đúng tâm trạng con người hơn những câu kể quá hùng tráng. Có háo hức nhưng vẫn có lo, có cảm giác sắp bước vào 1 ngày rất lớn nhưng chẳng ai được biết trước ngày ấy sẽ kết thúc ra sao.
Tô Hoài để lại 1 góc nhìn khác trong Những gương mặt, cuốn sách chân dung và hồi ức về những người ông từng gặp, từng sống cùng. Ông nhớ rạp Tố Như ở Hàng Bạc đang diễn thì đèn phụt tắt, cán bộ Việt Minh lên nói chuyện, hô hào Tổng khởi nghĩa và tung truyền đơn. Ngoài phố người ta thì thào rằng súng đã được chuyển từ chiến khu về. Những nữ cán bộ Việt Minh chít khăn vuông, đeo kính đen, cầm súng lục xuất hiện giữa chợ rồi lại biến mất. Tô Hoài kể lại: “Tiếng đồn càng dậy lên”.
Trong 1 thành phố thiếu thông tin chắc chắn, tin đồn cũng làm người ta cân đong đo đếm. Nghe bên này có súng, thấy bên kia không phản ứng, nhìn cờ mọc thêm ngoài phố, người ta tự nối những mảnh đó lại để đo xem thời thế thế nào, đang nghiêng về đâu.
Trong lúc người dân đoán bằng những gì họ nhìn thấy ngoài phố, những người tổ chức khởi nghĩa đã chuẩn bị việc cho sáng hôm sau: mít tinh rồi chuyển sang tuần hành, đưa lực lượng tới những cơ quan quan trọng của chính quyền. Đám đông sẽ tạo ra sức ép rất lớn, nhưng vẫn phải có người biết sau khi rời Nhà hát Lớn sẽ đi đâu, chiếm nơi nào, giữ nơi nào và xử lý thế nào nếu gặp chống trả.
III - SÁNG 19/8
Những đoàn người từ ngoại thành kéo vào Hà Nội. Nhiều người mang theo thứ gì có trong tay, từ gậy gộc, giáo mác, cuốc thuổng đến dao, liềm. Nhà hát Lớn lại thành điểm tụ. Sau mít tinh, các đoàn tách đi chiếm Phủ Khâm sai, tòa thị chính, kho bạc, bưu điện, sở cảnh sát, Trại Bảo an binh và những cơ quan quan trọng. Đây là những nơi giữ bộ máy hành chính, an ninh, thông tin và vũ khí của thành phố, chứ không phải đoàn người cứ đi tới đâu chiếm tới đó.
Ở nhiều nơi, lực lượng bảo vệ không chống trả quyết liệt. Với người đang đứng ngoài quan sát, mỗi cánh cổng mở ra lại thêm 1 tín hiệu rằng quyền lực cũ đang tuột khỏi tay những người từng nắm nó.
Có 1 hồi ức về Trại Bảo an binh được Hàm Châu dẫn lại trong Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại: Một số chân dung. Người kể nói mình “chưa bao giờ say sưa vui sướng hơn” những giờ phút theo đoàn biểu tình đi chiếm Trại Bảo an binh. Ông cố len lên phía trước để được nhìn tận mắt và góp sức. Khi nghe tin lính Nhật kéo đến bao vây, ông xin phát súng để bảo vệ nơi vừa giành được.
Súng được phát ra thì ông lại sợ. 1 số người nhận súng nhưng dùng không thông thạo, bóp cò nổ lung tung. Ông bắt đầu nghĩ không khéo mình chết oan vì chính mấy người đứng cạnh. Giữa đám đông nhốn nháo, ông còn không biết ai đang thực sự chỉ huy. Cảnh ấy làm ngày 19/8 hiện ra khác hẳn hình ảnh 1 biển người đồng loạt không biết sợ. Người ta vẫn sợ chứ, có người vừa phấn khích xong đã nghĩ tới chuyện mình có thể chết.
Mà nỗi sợ ấy có lý do. Tình hình ở Trại Bảo an binh còn căng hơn thế. Quân Nhật đưa lực lượng tới, có xe thiết giáp và vũ khí. Nếu 2 bên cùng cứng, Hà Nội hoàn toàn có thể nổ súng ngay trong buổi chiều ấy. Những người chỉ huy khởi nghĩa lúc này phải quyết định đánh hay nói chuyện với Nhật, và họ chọn nói chuyện.
Lê Trọng Nghĩa và Trần Đình Long được cử sang Bộ chỉ huy Nhật. Phía Việt Minh muốn quân Nhật đứng ngoài cuộc giành chính quyền của người Việt và bảo đảm an toàn cho họ nếu không can thiệp. Người Nhật lúc ấy cũng phải tính. Nhật hoàng đã tuyên bố đầu hàng, chiến tranh với họ coi như xong, quân lính đang chờ ngày bị giải giáp và hồi hương. Nổ súng vào 1 đám đông đang lên có thể kéo họ vào 1 cuộc chiến mới mà Tokyo chẳng còn cần nữa.
Cuộc đấu trí này diễn ra trong 1 tình thế khá lạ. Việt Minh có sức người đang lên rất nhanh ngoài đường nhưng vũ khí và khả năng chiến đấu chưa thể so với quân Nhật. Phía Nhật có hỏa lực mạnh hơn nhưng vừa nhận tin đất nước đầu hàng và không còn lý do chính trị nào để chết thêm ở Hà Nội. Cuối cùng quân Nhật án binh bất động. Chỉ cần 1 người chỉ huy bên nào đó quyết khác đi thì ký ức về ngày 19/8 có thể đã rất khác.
1 góc nhìn khác đến từ Archimedes L. A. Patti trong Why Viet Nam? Prelude to America’s Albatross, bản tiếng Việt thường được biết với tên Tại sao Việt Nam?. Patti là sĩ quan OSS (cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ thời Thế chiến II), hoạt động ở khu vực Đông Dương và có mặt tại Hà Nội không lâu sau những biến động này. Ông ghi lại rằng khi tin Hà Nội hành động truyền tới những người Việt Minh đang ở Côn Minh, niềm vui nhanh chóng đi cùng những câu hỏi rất khó chịu: nếu Nhật quyết định đàn áp thì sao, nếu Đồng minh đưa người Pháp trở lại thì sao, lực lượng trong nước đã đủ sức giữ những gì vừa giành được chưa?
Chi tiết ấy kéo câu chuyện về đúng thời điểm năm 1945. Người trong cuộc không được sống với kiến thức của chúng ta hôm nay, họ chưa biết đoạn sau của lịch sử. Họ phải quyết định trong lúc thiếu thông tin, tin có thể sai, và mỗi bước đi đều có khả năng trả giá bằng cả tính mạng.
IV - NHỮNG PHÉP TÍNH SAU ĐÁM ĐÔNG
Ở Hà Đông sau đó bạo lực thật sự đã xảy ra, khi lực lượng Bảo an nổ súng vào đoàn người biểu tình và có nhiều người chết. Chuyện đó cho thấy súng hoàn toàn có thể nổ. Hà Nội tránh được 1 trận đụng độ lớn ngày 19/8 có phần vì Nhật đã đầu hàng, phần vì nhiều lực lượng trong bộ máy cũ không còn muốn chống đến cùng, phần vì sức ép rất lớn của quần chúng, và cũng có phần rất quan trọng từ cách những người tổ chức khởi nghĩa xử lý đúng lúc.
Nhìn cảnh hàng vạn người tràn qua phố, phía sau nó vẫn là rất nhiều phép tính. Người dân cân nhắc có nên bước xuống đường. Công chức nghĩ xem còn nên phục vụ ai. Bảo an phải quyết định có nổ súng vào đám đông hay không. Người Nhật tính xem can thiệp thêm có đem lại gì ngoài thương vong. Còn những người lãnh đạo khởi nghĩa phải tính làm sao dùng sức người đang lên rất nhanh ngoài đường để lấy được chính quyền trước khi tình thế quốc tế đổi khác, mà vẫn tránh đẩy Hà Nội vào 1 cuộc đấu súng với quân Nhật.
Vai trò của Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh nằm rất rõ trong những việc đã diễn ra. Các đoàn thể cứu quốc, cơ sở quần chúng, tự vệ, tuyên truyền và binh vận không xuất hiện trong 1 đêm. Khi Nhật đầu hàng, Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa. Ở Hà Nội, những người của Xứ ủy và Ủy ban Khởi nghĩa chọn thời điểm, chọn mục tiêu cần chiếm, tổ chức lực lượng rồi xử lý cuộc đối đầu với quân Nhật khi nó xuất hiện.
Nếu chỉ kể tất cả là kết quả của sự chuẩn bị thì sẽ bỏ mất hàng vạn con người ngoài đường với những động cơ rất khác nhau. Nhưng kể ngày 19/8 như 1 đám đông tự nhiên cùng nổi lên sau khi Nhật đầu hàng thì cũng không giải thích được vì sao sức người ấy có thể chuyển rất nhanh thành việc giành những đầu mối quan trọng của chính quyền trong đúng 1 ngày.
Võ Nguyên Giáp sau này nhớ lại trong Những năm tháng không thể nào quên: “Sức hồi sinh của cách mạng thật lạ thường”. Hôm trước, theo lời ông, Hà Nội còn “tê liệt vì nạn đói, vì bệnh dịch, vì sự khủng bố”. Hôm sau đường to ngõ hẻm đã sôi lên, “hàng vạn, hàng vạn con người” kéo đi.
Nhiều năm sau, nhà báo Mỹ Frances FitzGerald viết lại giai đoạn này trong Fire in the Lake: The Vietnamese and the Americans in Vietnam, cuốn sách xuất bản năm 1972 về lịch sử, xã hội Việt Nam và cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam. Bà tả Hà Nội tháng 8/1945 thay đổi rất nhanh, cờ Việt Minh xuất hiện ở nhiều nơi và đám đông công khai reo hò cho độc lập. Nhưng 1 báo cáo của phía Pháp sau đó lại tả dân chúng Hà Nội là “dè dặt”.
2 hình ảnh nghe trái nhau nhưng rất có thể đều đúng. Người đang ở giữa đoàn biểu tình sẽ nhớ tiếng hát, cờ và cảm giác mình đang sống trong 1 ngày khác thường. Người đứng trong cửa hiệu, người sợ loạn, người còn chờ xem bên nào thắng có thể im lặng. Hà Nội khi ấy có hàng trăm nghìn con người, khó có chuyện tất cả cùng vui, cùng sợ, cùng tin vào đúng 1 thứ.
1 người bước xuống đường hôm ấy chưa chắc đã thuộc lòng cương lĩnh Việt Minh. Có người chỉ vừa nghe tới chữ “đổi đời”, có người bị cuốn theo bạn bè, có người đã chuẩn bị từ nhiều tháng, có người vẫn đứng ngoài quan sát. Nhưng ngày 17 cho họ thấy Việt Minh có thể xuất hiện công khai. Đêm 18 cho họ thấy cờ, truyền đơn và tin tức lan khắp phố. Sáng 19 họ thấy dòng người kéo tới, rồi thấy những cơ quan vốn rất khó chạm tới bắt đầu mở cửa, lính Bảo an không bắn, chính quyền cũ không còn ra lệnh nổi như trước.
Hôm trước bước ra đường có thể là liều mạng, hôm nay nhìn quanh đã thấy quá nhiều người cũng đang ở dưới đường. Dinh Khâm sai mới hôm trước là nơi của 1 bộ máy tưởng như chắc chắn, giờ người trong đó đang tìm đường rút lui. Quân Nhật là lực lượng thắng trận đang chi phối Đông Dương, giờ đã đầu hàng và chính họ cũng phải ngồi tính xem có nên bóp cò thêm lần nào nữa.
Những người Hà Nội ngày 19/8 không biết ngày 2/9 Bác Hồ sẽ đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Ba Đình. Họ cũng chưa biết người Pháp sẽ quay lại, chiến tranh sẽ tiếp tục và đất nước còn phải đi qua rất nhiều năm nữa. Trong buổi sáng hôm ấy họ chỉ biết những gì mắt mình thấy, tai mình nghe và những lời đang chuyền từ người này sang người khác. Có người thấy 1 lá cờ, có người nghe 1 bài hát, có người nhìn thấy viên lính trước mặt không nổ súng, có người bước qua cánh cổng mà trước đó chưa từng nghĩ mình có thể bước qua.
Nguồn:
- Những năm tháng không thể nào quên - Võ Nguyên Giáp, Hữu Mai thể hiện.
- Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam: Khi toàn dân tộc quyết “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” - Phạm Hồng Tung.
- Sự thật về nạn đói năm 1945 - Văn Tạo, Furuta Motoo.
- Vietnamese Tradition on Trial, 1920–1945 - David G. Marr.
- Chặng đường mười nghìn ngày - Hoàng Cầm.
- Những gương mặt - Tô Hoài.
- Hồi ký của một thằng hèn - Tô Hải.
- Một cơn gió bụi - Trần Trọng Kim.
- Why Viet Nam? Prelude to America’s Albatross - Archimedes L. A. Patti.
- Trí thức tinh hoa Việt Nam đương đại: Một số chân dung - Hàm Châu.
- Kể chuyện danh nhân Việt Nam, tập 4: Danh nhân văn hóa - Lê Minh Quốc.
- Fire in the Lake: The Vietnamese and the Americans in Vietnam - Frances FitzGerald.
- Các tư liệu lịch sử về Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội tháng 8/1945.