Trước năm 1500, ở Venice đã có 1 nhà văn phàn nàn rằng cứ đi dọc bờ kênh là bị người ta dúi sách rẻ vào tay, như bán mèo trong bị. Người ta bảo sách nhiều thì người ta lười học, bảo bản in cẩu thả đang đẩy những bản chép tay đáng tin ra khỏi thị trường. Năm 1515, chính quyền Venice giao cho viên thủ thư mới của thư viện Marciana việc sửa lại mọi văn bản văn học in trong thành phố, 1 việc mà Boorstin bảo là không ai làm nổi [1].

Chỉ riêng Venice, từ 1481 đến 1501 có 100 xưởng in, 268 thợ in, làm ra khoảng 2 triệu bản sách [2]. Trước đó, mỗi cuốn sách phải chép tay từng bản một.

Lúc ấy máy in của Gutenberg mới ra đời được chừng 50, 60 năm. Về sau người ta coi máy in là phát minh làm thay đổi châu Âu. Còn người thời ấy thì thấy sách in chưa rẻ hơn sách chép tay, xưởng in phá sản, sách in đầy lỗi.

I - THỜI SÁCH CHÉP TAY

Trước năm 1450, muốn có sách thì tự chép hoặc thuê người chép. Với 1 cuốn Kinh Thánh khổ lớn, việc chép có thể mất cả năm. Người đặt sách trả tiền dần để thợ chép mua vật liệu và sống qua ngày, chép xong mới giao [3]. Sách đắt đến mức ở các thư viện cuối thời Trung Cổ, người ta xích sách vào bàn đọc [4].

Thời chép tay, cầm 1 cuốn sách lên nhiều khi không biết ai viết ra nó. Sách chép tay không có trang bìa, không ghi tên tác giả ở đầu sách như bây giờ. Boorstin lấy ví dụ 1 tập bài giảng chép tay đề tên Sermones Bonaventurae, tức Bài giảng của Bonaventura. Cái tên ấy chưa chắc có nghĩa là thánh Bonaventura viết. Có thể người viết là 1 tu sĩ khác cũng tên Bonaventura, có thể người chép tên Bonaventura, có thể cuốn sách từng thuộc về 1 tu viện tên Bonaventura. Trùng tên lại là chuyện thường, vì tu sĩ khi vào dòng phải bỏ tên cũ, lấy tên của 1 người anh em vừa qua đời, nên tu viện dòng Phanxicô nào cũng luôn có 1 ông Bonaventura. Muốn biết ai thật sự viết thì phải tra cứu rất vất vả. Boorstin kết luận thời đó chưa có bản quyền, cũng chưa có tác giả theo nghĩa bây giờ [5].

II - GUTENBERG KHÔNG PHÁT MINH RA VIỆC IN

Mốc sớm nhất có ghi chép là 1 lá thư đề ngày 12/3/1455 của Enea Silvio Piccolomini, sau này là giáo hoàng Pius II. Ông xác nhận ở hội chợ Frankfurt có 1 người đem khoe mấy tập trang in của bộ Kinh Thánh còn chưa in xong, chữ rõ đến mức đọc không cần kính. Người đó gần như chắc chắn là Johannes Gutenberg ở Mainz [6].

Xin thưa, Gutenberg không phát minh ra việc in. Ấn hình bằng lực ép thì châu Âu đã làm từ lâu, từ đóng dấu đến dập tiền xu. Ông là thợ kim hoàn. Theo Boorstin, thứ ông làm ra là cái khuôn đúc chữ, 1 hộp kim loại chỉnh được độ rộng để đúc hàng loạt con chữ giống hệt nhau, cao bằng nhau, thay được cho nhau. Còn lại toàn là đồ có sẵn. Máy ép là máy ép trục vít của thợ đóng sách, vốn có thể bắt nguồn từ máy ép nho hay máy ép dầu ô liu. Mực là mực gốc dầu, học từ cách các họa sĩ vùng Flanders nghiền màu trong dầu lanh. Giấy thì người Trung Quốc đã làm ra từ lâu [7]. Gutenberg ghép tất cả những thứ ấy lại và mất nhiều năm mới cho chúng chạy được với nhau.

Nhiều chi tiết đến giờ vẫn là suy đoán. Sách Oxford cho rằng Gutenberg có thể đã biết ít nhiều về nghề in ở Đông Á vốn có trước đó hàng thế kỷ. Chúng ta không biết chính xác máy của ông trông ra sao, mực pha thế nào, chữ đúc bằng cách nào [8].

Hầu hết những gì biết chắc về Gutenberg lại đến từ hồ sơ kiện tụng. Ông nhận của Johann Fust 2 khoản, mỗi khoản 800 guilder. Năm 1455 Fust kiện đòi cả vốn lẫn lãi và thắng. Gutenberg phải trả 2.026 guilder và giao lại toàn bộ đồ nghề, kể cả chữ và các trang in của bộ Kinh Thánh. Fust cùng con rể là Peter Schöffer, vốn là quản đốc xưởng của Gutenberg, tiếp quản việc in. Cuốn Kinh Thánh ra đời không có dòng ghi tên người in, lúc ấy nó đã thuộc về xưởng của Fust và Schöffer. Về già Gutenberg nghèo túng, mắt gần mù, sống nhờ 1 khoản trợ cấp gồm lúa, rượu và 1 bộ quần áo mỗi năm do Adolph xứ Nassau, người tự xưng tổng giám mục Mainz, ban cho [9].

III - SÁCH IN CHƯA CHẮC ĐÃ RẺ

Nghề in lan rất nhanh. Năm 1470 đã có xưởng in ở khoảng 14 thành phố châu Âu. 10 năm sau, con số là 110. Đến năm 1500 thì khoảng 80 thành phố ở Ý và 64 thành phố ở Đức có xưởng in [10]. Tính cả châu Âu, hiện biết khoảng 27.000 ấn bản sách in trước năm 1500, mỗi ấn bản in ít nhất vài trăm bản [11].

Nhưng sách in lúc đầu chưa chắc đã rẻ. Sách Oxford ghi rằng trong mấy thập kỷ đầu, sách in không nhất thiết rẻ hơn bản chép tay, vì nghề chép tay khi ấy đã rất phát triển còn thị trường cho sách in thì chưa mở ra [12]. Có những cuốn sách in đắt đến mức thuê người chép tay còn rẻ hơn. Theo Boorstin, năm 1481, khi bộ Natural History của Pliny đã có 8 ấn bản in, Pico della Mirandola vẫn thuê người chép tay cho mình 1 bản riêng. Số sách chép tay còn giữ được từ nửa sau thế kỷ 15, tức là sau khi đã có máy in, gần bằng số còn giữ được từ nửa đầu thế kỷ [13].

Thợ chép tay cũng phản ứng. Năm 1534, vua Pháp Francis I chiều theo yêu cầu của họ mà ra chiếu chỉ cấm in ở Paris. Lệnh ấy chưa bao giờ được thi hành. Về sau thợ chép quay sang hợp tác, tự dùng máy in, chép tay bổ sung những trang xưởng in in thiếu, còn xưởng in thì nhờ thợ viết chữ thiết kế trang cho giống sách chép tay [14].

Làm nghề in thì tốn vốn và nhiều rủi ro. Nhiều xưởng mở ra rồi đóng cửa chẳng bao lâu, nhiều ấn bản bán chậm, lãi không bù nổi vốn. Xưởng Plantin ở Antwerp in 1.200 bộ Kinh Thánh đa ngữ trong những năm 1568 đến 1573. Đến năm 1634, tức hơn 60 năm sau, vẫn còn 2 tá bộ chưa bán hết [15]. Nhiều nhà in phá sản vì vốn nằm cả trong giấy, thứ nằm mục trong kho cùng những ấn bản không ai mua [16]. Giấy in bỏ đi thì được tận dụng làm giấy lót khi đóng bìa sách khác. Nhờ thế mà ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn tìm được mảnh của những ấn phẩm đã thất lạc [17].

IV - KINH THÁNH, SÁCH PHÙ THỦY VÀ SÁCH CẤM

Kinh Thánh tiếng Đức không bắt đầu từ Luther. Từ năm 1466 đến 1522 đã có tới 18 ấn bản Kinh Thánh hoặc 1 phần Kinh Thánh bằng tiếng Đức, dịch từ bản Latin. Sau Luther thì số lượng tăng vọt. Bản Tân Ước tiếng Đức của ông có hơn 50 ấn bản chỉ trong khoảng từ 1522 đến 1529. Lúc Luther còn sống, sách và tờ rơi của ông được in bằng tiếng Đức hơn 3.700 ấn bản. 3.000 bản đầu tiên của bản Tân Ước năm 1522 còn in kèm những tranh khắc gỗ về giáo hoàng từng gây tai tiếng [18]. Người không biết chữ vẫn nghe được nội dung, vì trong những biến động như Cải cách Tôn giáo, tờ rơi thường được đọc to cho đám đông nghe [19].

Cùng thời, năm 1486, cuốn Malleus Maleficarum (Búa đập phù thủy) ra đời, do tu sĩ dòng Đa Minh người Đức Heinrich Krämer viết. Sách tận dụng công nghệ in mới và được tái bản liên tục cho đến năm 1669. Nó khét tiếng vì có hẳn 1 phần hướng dẫn thủ tục xét xử phù thủy, từ cách lấy chứng cứ, cách thẩm vấn tới chuyện dùng cực hình khi cần [20].

Về con số, sử gia Julian Goodare cho biết con số 9 triệu người bị hành quyết từng được truyền nhau suốt thế kỷ 20 là phóng đại. Đồng thuận hiện nay là khoảng 50.000 vụ hành quyết trong giai đoạn 1400 đến 1750, chừng 1 nửa dồn vào 50 năm từ 1580 đến 1630 [21]. Goodare cũng lưu ý Malleus là 1 cuốn sách quan trọng, có điều không nên coi nó là biểu tượng cho toàn bộ cuộc săn phù thủy [22].

Nhà thờ và nhà nước đều tìm cách kiểm soát. Danh mục Sách Cấm (Index Librorum Prohibitorum) do Vatican lập năm 1559 chi phối việc kiểm duyệt ở các nước Công giáo, đẩy việc lưu hành sách xuống hoạt động ngầm [23]. Các nước Tin Lành cũng kiểm duyệt theo cách riêng. Pháp cấp phép trước khi in, luật hóa năm 1723. Anh có các Đạo luật In ấn áp dụng phần lớn thời gian từ 1662 đến 1695, kèm hẳn 1 viên chức chuyên đi lùng máy in giấu và sách phản loạn [24]. Người in thì ghi sai nơi in để né. Nhiều sách in ở Pháp ghi nơi in là Den Haag, còn sách Công giáo in ở Hà Lan lại ghi là Antwerp hay Louvain [25].

V - TRANG BÌA, SỐ TRANG VÀ BẢN QUYỀN

Sách in đầu tiên chưa có trang bìa. 1 trong những trang bìa sớm nhất được ghi nhận là cuốn bài giảng của Werner Rolevinck in ở Cologne năm 1470. Trang bìa giúp người bán sách quản lý kho hàng ngày càng lớn, về sau được ghim lên tường, lên sạp để quảng cáo sách mới [26]. Theo Boorstin, trang bìa có tên tác giả, tên sách, nơi in, năm in đã tạo ra tác giả theo nghĩa bây giờ. Từ đây người viết chịu khen chê và được hưởng 1 phần lợi nhuận từ tác phẩm của mình [27].

Sách chép tay cũng không đánh số trang. Phải đến năm 1499 mới có cuốn sách đánh số trang liên tục, do xưởng của Aldus Manutius ở Venice in. Có số trang thì mới làm được bảng tra theo vần ở cuối sách, thứ trước đó rất hiếm [28].

Bản quyền thì đến muộn hơn nhiều. Năm 1710, nước Anh thông qua đạo luật bản quyền thường được biết đến với tên Đạo luật Anne. Các nhà sách London vận động Quốc hội để hợp thức hóa quyền sở hữu vĩnh viễn của họ đối với các đầu sách. Đạo luật thông qua lại công nhận tác giả hoặc nhà xuất bản được tác giả nhượng quyền là chủ sở hữu tác phẩm, với độc quyền in trong 14 năm, cộng thêm 14 năm nữa nếu tác giả còn sống. Tranh chấp về chuyện hết hạn thì sao còn kéo dài đến năm 1774, khi Viện Quý tộc Anh xử cho nhà sách Scotland Alexander Donaldson thắng kiện, xác lập bản quyền là quyền có thời hạn [29].

Với khoa học, sử gia Elizabeth Eisenstein cho rằng máy in thay đổi 3 thứ: khối lượng văn bản, tốc độ làm ra văn bản và bản chất của văn bản. Theo sách Oxford, ý thứ 3 quan trọng nhất và cũng gây tranh cãi nhất. 1 người đọc ở Praha và 1 người đọc ở Lisbon giờ có thể bàn về cùng 1 văn bản gần như giống hệt nhau, vì họ cầm cùng 1 ấn bản. Văn bản không còn thay đổi theo tay nghề của từng thợ chép. Các luận văn của Copernicus, các bản in Pliny, Galen, Aristotle lưu hành khắp châu Âu trong bối cảnh ấy [30]. Nhiều sử gia phản biện luận điểm này, họ cho rằng nghĩa của văn bản còn tùy người đọc, sách in giống hệt nhau thì mỗi người vẫn hiểu 1 kiểu [31].

VI - LỤT SÁCH

Người thế kỷ 16 đã than phiền sách nhiều quá. Năm 1525, Erasmus viết về những bầy sách mới được in ra. Ông bảo các nhà in làm ngập thế giới bằng những cuốn sách ngu ngốc, bôi nhọ, điên rồ, báng bổ, nhiều đến mức sách có ích cũng mất giá trị. Năm 1545, Conrad Gessner ở Zurich than thở về sự dư thừa sách gây hại và rối loạn. Cả 2 ông đều than vãn trong chính những cuốn sách in của mình. Gessner than phiền trong cuốn Bibliotheca universalis, 1 bộ thư mục gom mọi sách đã biết bằng tiếng Latin, Hy Lạp và Hebrew [32]. Đến tận Leibniz vẫn còn lo về 1 trận lụt sách [33].

Người ta cũng làm ra đủ thứ để xoay xở. Ann Blair liệt kê mục lục, bảng tra theo vần, thư mục, danh mục thư viện, catalogue của nhà sách, tạp chí điểm sách, rồi các hội học thuật, các salon, quán cà phê và mạng lưới thư từ giữa các học giả [34].

VII - THẾ GIỚI HỒI GIÁO IN SÁCH MUỘN

Sách Oxford có hẳn 1 chương về sách ở thế giới Hồi giáo. Người Hồi giáo chậm dùng sách in vì nhiều lý do. Chữ viết tay, nhất là khi chép kinh Qur’an, được coi trọng rất cao và giới thợ viết chữ, thợ chép phản đối mạnh. Chữ Ả Rập đổi hình theo vị trí trong từ, nên cần nhiều con chữ hơn hẳn. Thiếu vốn và giá sách cao cũng là 1 yếu tố. Người Do Thái và người Cơ Đốc sống trong lãnh thổ Ottoman đã in sách từ khoảng năm 1500. Người Hồi giáo đầu tiên mở xưởng in là Ibrahim Müteferrika, ở Istanbul, năm 1727. Xưởng đóng cửa năm 1742 sau khi in được 17 ấn phẩm thế tục, từ bản đồ đến từ điển. Phải đến thế kỷ 19, nghề in mới phổ biến ở các vùng Hồi giáo [35].

VIII - 400 NĂM SAU

Năm 1836, Thomas Carlyle viết rằng người đầu tiên rút ngắn việc chép tay bằng chữ rời là người đang giải tán các đội quân đánh thuê, phế truất vua chúa và nghị viện, tạo ra cả 1 thế giới dân chủ mới [36]. Carlyle viết câu ấy gần 400 năm sau cuốn Kinh Thánh của Gutenberg. Người sống cùng thời với Gutenberg thì mấy chục năm đầu chỉ thấy sách in chưa rẻ, xưởng in vỡ nợ, sách in đầy lỗi và sách nhiều thì lười học.

Bây giờ hay có người so AI với máy in. Nếu so thì chỗ giống nhau dễ thấy là phản ứng của người đương thời, từ than phiền, lo sợ, lập danh mục cấm tới dần dần làm ra mục lục, thư mục, luật bản quyền để sống chung với nó. Từ cuốn Kinh Thánh của Gutenberg đến đạo luật bản quyền đầu tiên, châu Âu mất hơn 250 năm.

Nguồn:

[1], [5], [27], [28] - The Discoverers - Daniel J. Boorstin, chương 65 Transforming the Book. [2], [3], [6], [8], [10], [12], [15], [16], [18], [19], [23], [24], [25], [26], [30], [31], [33] - The Oxford Illustrated History of the Book - James Raven chủ biên, chương 6 Renaissance and Reformation của James Raven và Goran Proot. [4] - The Oxford Illustrated History of the Book, chương 5 Medieval Western Europe của David Rundle. [7], [9], [13], [14], [36] - The Discoverers - Daniel J. Boorstin, chương 63 The Art of Artificial Writing. [11], [17], [32], [34] - The Oxford Illustrated History of the Book, chương 7 Managing Information của Ann Blair. [20], [22] - The European Witch-Hunt - Julian Goodare, chương 2 Towards witch-hunting. [21] - The European Witch-Hunt - Julian Goodare, chương 1 Witchcraft!. [29] - The Oxford Illustrated History of the Book, chương 9 Enlightenment and Revolution của Jeffrey Freedman. [35] - The Oxford Illustrated History of the Book, chương 8 The Islamic World của Sheila S. Blair và Jonathan M. Bloom.

Sách Oxford do Oxford University Press xuất bản năm 2020. The Discoverers do Random House xuất bản năm 1983, bản tiếng Việt lưu hành với tên Những phát hiện về vạn vật và con người. The European Witch-Hunt do Routledge xuất bản năm 2016.