Đề thi ngày xưa có gì, có khó hơn đề thi bây giờ không? Mình lục lại bộ Khoa cử Việt Nam của bà Nguyễn Thị Chân Quỳnh, tập thượng về thi Hương, tập hạ về thi Hội, thi Đình. Bà ghi được nguyên văn cả đề lẫn bài làm của mấy ông trạng, có cả chỗ vua phê ngay trên bài thi.

Đọc xong mới thấy câu “ngày xưa chỉ thi văn chương suông” chưa đúng hẳn. Vua hỏi việc nước thẳng lắm, có đề còn réo tên gian thần trong triều. Nhưng vua hỏi thẳng thì người đi thi có dám trả lời thẳng không? Chưa chắc!

I - ĐỀ THI ĐÌNH HỎI GÌ

Ngày xưa thi 3 vòng: thi Hương ở các tỉnh, đỗ cử nhân thì vào kinh thi Hội, đỗ thi Hội mới được vào thi Đình ngay trong cung. Thi Đình là vòng cuối, vua tự ra đề để xếp thứ bậc tiến sĩ. Bà Chân Quỳnh viết, đề thi Đình “bao giờ cũng là một bài văn sách (còn gọi là sách vấn, chế sách) hỏi về phép trị nước” [1]. Nói theo bây giờ, văn sách là 1 bài nghị luận trả lời câu hỏi của vua.

Đề thường có 2 phần. Phần cổ hỏi Tứ thư, Ngũ kinh (bộ sách gối đầu giường của nhà Nho), hỏi vua Nghiêu vua Thuấn trị nước ra sao. Phần kim hỏi việc của chính ông vua đang ngồi đó, làm sao cho nước mạnh dân giàu [1]. Từ năm 1396, triều Trần đã định bài văn sách “ra đề thì theo kinh, sử hay thời sự, mỗi bài phải 1000 chữ trở lên” [2]. Vậy là có hỏi thời sự hẳn hoi.

Đề năm 1475 của vua Lê Thánh Tông còn giữ được nguyên văn, có câu hỏi hay ra trò. Nhà Tống dùng Nho chuyên hơn nhà Hán, nhà Đường nhiều, vậy mà binh lực lại kém, “Hay là Nho thuật không bằng lưng ngựa?”. Cuối đề vua còn dặn: “Trẫm cũng muốn được nghe cách thức làm dân giầu, binh mạnh (…) (các ngươi) chớ nên phù phiếm, hãy hết sức tỏ bầy” [1].

Vua dặn đừng phù phiếm hẳn hoi. Ấy thế mà bài nào cũng mở bằng “Thần nghe…”, kể chuyện Nghiêu Thuấn cũ rích 1 hồi rồi mới dám vào việc.

II - KHOA 1442, VUA HỎI VỀ GIAN THẦN

Khoa Nhâm Tuất năm 1442, vua Lê Thái Tông mở đề bằng 1 câu: “Trị nước tất lấy việc được người làm gốc”. Rồi vua hỏi vặn, vua Nghiêu sáng suốt biết người thế “mà trong triều còn có Tứ hung, sao tiểu nhân khó biết vậy?”. Tứ hung là 4 tên gian thần đời vua Nghiêu.

Đến cuối đề thì vua đem luôn chuyện nhà mình ra hỏi: Thái Tổ nhiều lần xuống chiếu cầu hiền “mà không một người ứng tuyển, còn bọn Hãn, Sảo ngầm chứa gian tâm. Trẫm từ khi lên ngôi đến nay gắng lòng tìm cách trị nước thế mà hiệu quả của việc được người vẫn mênh mang, mờ mịt, bọn Ngân, Sát thì gian ác chứa chất, sao quân tử khó được, tiểu nhân khó biết thế?” [3].

Hãn, Sảo là Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, 2 công thần theo Lê Lợi đánh giặc Minh, sau bị Lê Thái Tổ nghi có ý làm phản. Ngân, Sát là Lê Ngân, Lê Sát, cũng là công thần thời đánh giặc Minh. Đề thi mà vua réo tên công thần nhà mình ra hỏi, lạ nhỉ?

Người đỗ đầu khoa ấy là Nguyễn Trực. Ông trả lời đúng phóc chỗ vua hỏi: “Thần cho rằng bọn Ngân, Sát đã gián cách nhà vua, ngăn trở quan trên, che lấp người hiền, hãm hại người tài. Chúng lấy bọn phụ theo mình làm hiền lương, lấy bọn sảo mép làm tài nghệ mua quan chức, bán án tội, hối lộ ngang nhiên” [3].

Mua quan, bán án, hối lộ ngang nhiên. 3 cái tệ ấy hơn 500 năm sau vẫn chưa ai dẹp được.

Ông còn đưa ra cách làm: chọn người cho kỹ, “ba kỳ khảo xét khen chê, thăng giáng rõ ràng”, để thấy rõ “kẻ nào tham lam, ngu dốt, cẩu thả, trây lười, kẻ nào ngồi như xác chết không còn làm gì để mà ăn bám” [3]. Bài thi dâng vua mà dám dùng chữ “ngồi như xác chết… để mà ăn bám”, to gan thật.

Có điều bộ Đại Việt sử ký toàn thư ghi năm 1437, Lê Sát bị kể tội chuyên quyền, vua “Cho Lê Sát được tự tử ở nhà”, vợ con và điền sản bị tịch thu. Cuối năm ấy đến lượt Lê Ngân bị tố thờ Phật Quan Âm cầu cho con gái được vua yêu, bị khám nhà, con gái bị giáng chức [4]. Nghĩa là đến khoa 1442, 2 ông ấy đã thất thế được 5 năm. Chính Nguyễn Trực cũng viết trong bài: “Chuyện bọn Ngân, Sát đã qua rồi” [3].

Thế nên mắng Ngân, Sát lúc ấy là mắng người đã bị chính vua xử, chả đụng chạm đến ai.

III - KHOA 1463, VUA HỎI SAO BỘ MÁY KHÔNG CHẠY

Khoa Quý Mùi năm 1463, vua Lê Thánh Tông ra đề còn dài hơn. Vua kể 1 lượt bộ máy nhà nước, giữ việc cơ mật có Nội Mật Viện, xử kiện có Ngũ Hình Viện, giám sát có Ngự Sử Đài, dạy người có trường Quốc học, lộ học… rồi hỏi: “Tất cả những việc ấy dặt ra thẩy đều vì dân cả. Thế mà mọi việc chưa được sáng tỏ, hình ngục còn lạm, kỷ cương chưa giữ gìn, lễ nhạc chưa hưng thịnh, nhân tài chưa phát triển, của cải chưa phong phú, hàng hóa chưa lưu thông, đức trạch chưa nhuần thấm, quân dân còn oán thán, tệ xấu chưa trừ, việc tốt chưa thấy là cớ tại sao?” [5].

Nói trắng ra là bộ máy đủ cả rồi, sao vẫn không chạy? Câu này đem hỏi bây giờ cũng chẳng cũ.

Khoa ấy có 4.400 người dự thi Hội, chọn được 44 người đỗ [6]. Trạng nguyên là Lương Thế Vinh.

Ông chê quan địa phương: “người làm hết chức trách thì ít, kẻ làm không hết chức trách thì nhiều”, việc họ làm chỉ là “những việc ngọn như xử kiện, thúc thuế”, là “chuyện sổ sách, hội họp”. Chê võ quan còn nặng hơn: “Tiếng là võ quan mà thông thạo vũ lược được mấy người? Chức là cầm quân mà am hiểu tình quân được là bao? Vơ vét là việc triều đình nghiêm cấm mà vẫn lấy lạm của quân như thế” [5].

“Sổ sách, hội họp”, đọc cứ tưởng ông đang tả công sở bây giờ.

Mà mấy cái ông chê đều nằm sẵn trong câu hỏi. Vua đã tự nhận “hình ngục còn lạm”, “quân dân còn oán thán” thì ông trạng chỉ việc kể ra những quan nào làm sai.

Đến đoạn ông bảo gốc của mọi việc là vua và triều thần phải “đồng tâm nhất thể”, vua phê ngay bên cạnh: “Việc trị thiên hạ không vượt ra câu này”. Mấy chỗ khác vua phê “Khá đạt ý”, “Vua phê là đúng” [5]. Vua chấm từng đoạn, đoạn nào hợp ý thì khen luôn trên bài thi.

IV - CÓ ĐỀ HỎI ĐÚNG KIỂU GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Thi Hội cũng có đề hỏi tình huống hẳn hoi. Năm 1746, quan coi thi Vũ Khâm Lân ra đề: “Người làm quan thấy có kẻ giết người giữa ban ngày nhưng khổ chủ được của đút rồi ỉm đi không cáo tố, nếu xét theo luật để trị tội hung thủ thì trái thể lệ, nếu không tra xét thì bỏ phép luật. Nên làm thế nào cho hợp lệ?” [7].

Đề này đem cho sinh viên luật bây giờ làm chắc cũng toát mồ hôi.

Bà Chân Quỳnh ghi thêm, về sau chính Vũ Khâm Lân giữ việc chính phủ mà cũng chẳng đổi được gì, kiện tụng vẫn nhiều, “giết người mà sự chủ không tố giác, quan biết cũng không bắt tội vào đâu được” [7]. Đề hỏi đúng bệnh thật, mà ông ra đề cầm quyền rồi cũng chịu.

Sang thời Nguyễn, Pháp đánh vào thì đề hỏi thẳng chuyện Pháp. Năm 1847, vua hỏi vì sao đạo Gia Tô “ngấm ngầm lấn lướt” [1]. Năm 1868 hỏi: “Quân xâm lăng hiện nay càng ngày càng gây hấn, đồn lũy khắp dân gian, vậy nên đánh hay nên hòa?” [1].

Vũ Duy Tuân đỗ đầu thi Hội khoa ấy, vào thi Đình viết rằng triều đình sẵn trăm vạn quân, “theo nghĩa thì nên đánh quân xâm lăng”. Vua Tự Đức cho ông xuống Phó bảng (hạng đỗ phụ, đứng dưới tiến sĩ), rồi phê bằng mực son: “Hôm nay xin đánh, mai xin đánh, nếu đánh mà thua thì rồi đặt Trẫm vào chỗ nào?” [1]. Chuyện này bà Chân Quỳnh dẫn lại từ sách Giai thoại làng Nho [1].

Đến năm 1874, theo lời Huỳnh Côn, người đỗ phó bảng khoa ấy, đề hỏi tại sao Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ thì giữ làm thuộc địa, mà các tỉnh đã chiếm ở Bắc lại trả, rồi dặn: “Cứ thẳng thắn trình bầy, đừng e ngại” [1]. Không biết khoa ấy có ông nào dám tin câu dặn này?

Năm 1876, đề thi Hội hỏi Nhật Bản hiện đại hóa có được lợi gì không. Theo sách của Nguyễn Xuân Thọ mà bà Chân Quỳnh dẫn, hầu hết thí sinh trả lời theo hướng không có lợi [7]. Triều đình đang ngại đổi mới thì học trò cũng chê đổi mới, chả biết là trùng hợp hay đoán ý?

V - LUẬT LÀM BÀI, ĐỀ HIỂM VÀ VĂN MẪU

Trước hết là phép làm bài. Bà Chân Quỳnh viết: “Kinh nghĩa thì chỉ được tán rộng, nhắc lại lời các tiên hiền, không được đưa ra những ý kiến riêng; văn sách thì phải tán tụng triều đình”. Xưng với vua thì chữ “thần” phải viết nhỏ lại, lệch về bên phải, “nếu không sẽ mắc tội khiếm cung” [7], tức là tội vô lễ.

Chưa kịp nghĩ xem nói gì đã phải lo viết chữ “thần” cho đủ nhỏ. Bà gọi văn thi Đình là “lối văn thù phụng”, văn viết để dâng vua, chiều ý vua, người viết “bị bó buộc phải luôn luôn tán tụng công đức, chính sách của nhà vua” [1].

Thứ 2 là đề hiểm. Phạm Đình Hổ chê quan soạn đề “chỉ đưa ra những câu hỏi hiểm hóc để làm cho khó”, người soạn đề vốn đỗ thấp nên “không muốn cho ai hơn mình” [1]. Đề thi Đình năm 1752 mà Lê Quý Đôn làm có tới 19 câu, nhảy từ Thái cực, Lý, Số sang Thương Ưởng, Hàn Phi, có câu chỉ hỏi “Nửa đêm - Gà gáy - Bình minh - đều rất giỏi ở mệnh lệnh chăng?” [8]. Đọc bản dịch rồi mình vẫn chưa hiểu vua hỏi gì.

Thứ 3 là văn mẫu. Năm 1711, người ta soạn sẵn bài đem bán, học trò mua về học thuộc rồi vào trường chép ra, quan chấm thấy văn hay là cho đỗ. “Có khoa hơn 30 quyển giống nhau, một quyển chỉ vì viết nhầm chữ “quý” trên chữ “phú”, quan trường cho là có ý kiến mới lạ, được phê ưu” [9]. Phê ưu là chấm loại giỏi. Viết nhầm 1 chữ mà thành có ý mới!

Lê Quý Đôn mới có câu “Thi thiên, phú bách, văn sách năm mươi”, nghĩa là thuộc 1.000 bài thơ, 100 bài phú, 50 bài văn sách là đỗ được [9]. Thì ra văn mẫu có từ hơn 300 năm trước.

Chưa kể chuyện viết không đủ bài. Vua Minh Mạng từng hỏi sao thời Lê có người làm không xong thì nhúng ướt bài thi. Quan bộ Lễ Phan Huy Thực thưa: “Phép thi thời cựu Lê cốt lấy nhớ nhiều, nếu làm không đủ bài e nhơ cho danh Tiến sĩ nên nhúng ướt quyển đi” [1].

Các vua cũng biết bệnh. Năm 1838 vua Minh Mạng chê học trò chỉ chép câu sẵn trong sách: “Làm văn phải phát minh ý đầu bài, phô diễn ý riêng của mình, tại sao lại cứ phải câu nệ dẫn chữ trong sách?” [7]. Năm 1856 vua Tự Đức bỏ câu kết sáo rỗng: “Thần là người mới học, chẳng biết kỵ húy (…) khôn xiết run sợ”, vì sợ nó “ngăn trở đến khí khái của người dám nói thẳng” [1].

Vậy mà cũng chính vua Tự Đức ấy, 12 năm sau quay xe, đánh Vũ Duy Tuân xuống Phó bảng vì dám nói thẳng 1 chữ “đánh”.

VI - KHOA CUỐI CÙNG NĂM 1919

Đến khoa thi Hội cuối cùng năm 1919, đề vẫn hỏi việc thật. Có đề văn sách về đê sông Hồng: “Hiện nay đê vỡ tứ tung, nạn lụt rất dữ, hoặc người bảo nên bỏ đi, hoặc người bảo đắp lại, mỗi người nói một khác, đoán xem lẽ nào là phải? Giờ muốn cho mặt nước yên cồn, bình thành mãi mãi, cách làm làm sao?” [7]. Đề thi Đình thì lấy 2 chữ “Văn Minh”, hỏi cả chính thể chuyên chế (vua nắm hết mọi quyền) sai ở đâu, chính thể lập hiến (có hiến pháp giới hạn quyền vua) tổ chức thế nào [1].

Vua hỏi đến cả lập hiến, nghe cứ tưởng sắp đổi đời đến nơi.

Khoa ấy có 1 bài luận quốc văn, đề hỏi Trung Kỳ, Bắc Kỳ tình thế khác nhau thì nên sửa sang việc gì trước. Bài của Nguyễn Cao Tiêu, đỗ tiến sĩ thứ 4, được báo Nam Phong in lại [10]. Ông bàn khá kỹ, Trung Kỳ đất hẹp dân nghèo thì lo nuôi dân trước, Bắc Kỳ thì lo giáo dục trước.

Còn câu kết, mình viết lại nguyên văn: “Ấy thời-thế như vậy, tình-thế như vậy, thời sắp đặt nên như vậy, còn tiết mục cho tường, cơ-quan cho kỹ, thời nhờ Triều-đình, nhờ ơn quí-quốc” [10].

Quí quốc ở đây là nước Pháp.

Nguồn:

[1] - Khoa cử Việt Nam, tập hạ: Thi Hội - Thi Đình - Nguyễn Thị Chân Quỳnh, phần II Thi Đình, chương năm Đề mục - Văn bài. [2] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Trần, năm Quang Thái thứ 9 (1396). [3] - Khoa cử Việt Nam, tập hạ - Nguyễn Thị Chân Quỳnh, phần II, mục Đề mục - Văn bài (2), khoa Nhâm Tuất 1442, văn bài của Trạng nguyên Nguyễn Trực, bản dịch Nguyễn Văn Thịnh. [4] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Lê Thái Tông, năm Thiệu Bình thứ 4 (1437). [5] - Khoa cử Việt Nam, tập hạ - Nguyễn Thị Chân Quỳnh, phần II, mục Đề mục - Văn bài (2), khoa Quý Mùi 1463, văn bài của Trạng nguyên Lương Thế Vinh, bản dịch Nguyễn Văn Thịnh. [6] - Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 4 (1463). [7] - Khoa cử Việt Nam, tập hạ - Nguyễn Thị Chân Quỳnh, phần I Thi Hội, chương năm Đề mục - Văn bài. [8] - Khoa cử Việt Nam, tập hạ - Nguyễn Thị Chân Quỳnh, phần II, mục Đề mục - Văn bài (2), khoa Nhâm Thân 1752, văn thi Đình của Bảng nhãn Lê Quý Đôn, bản dịch Nguyễn Tiến Đoàn. [9] - Khoa cử Việt Nam, tập thượng: Thi Hương - Nguyễn Thị Chân Quỳnh, chương Đề mục - Văn bài. [10] - Khoa cử Việt Nam, tập hạ - Nguyễn Thị Chân Quỳnh, phần I, cuối chương năm, khoa Kỷ Vị 1919, văn bài luận quốc văn của Nguyễn Cao Tiêu (in lại từ Nam Phong số 24, tháng 6 năm 1919).