Nói đến Đàng Trong, sách vở xưa nay vẫn quen gắn nó với 2 chữ Nam tiến, tức là các chúa Nguyễn đem quân mở cõi, từ Thuận Hóa vào đến tận Hà Tiên. Việc đánh nhau thì chắc hẳn là có, sử ghi rành rành. Nhưng nếu chỉ nhìn Đàng Trong như 1 thứ có được nhờ gươm giáo thì mình e là còn thiếu nhiều lắm.
Buổi đầu họ Nguyễn chỉ có trong tay 1 dải đất hẹp kẹp giữa núi và biển, ruộng xấu, dân thưa, đất đai và quân lính đều chỉ bằng chừng 1/3 đến 1/4 bên họ Trịnh [1]. Vậy mà suốt 45 năm họ chặn được 7 lần quân Trịnh kéo vào, đánh xong lại còn dư sức đi tiếp xuống phía nam. Đánh nhau thì phải có tiền, mà tiền thì lấy ở đâu ra?
Lê Quý Đôn có ghi lại cuốn sổ thu chi của họ Nguyễn do viên thái giám Mai Văn Hoan lập, tính 7 năm, từ 1746 đến 1752. Năm ít thì thu vào hơn 338.100 quan, năm nhiều thì hơn 423.300 quan, riêng khoản phát tiền cho các đội trưởng và quân lính đã hết 260.000 quan mỗi năm [2]. Quá nửa số thu dùng để nuôi lính, mà ấy là lúc 2 họ đã thôi đánh nhau hơn 70 năm rồi! 1 vùng đất nghèo như thế, lấy gì mà nuôi chừng ấy quân?
I - ĐẤT HẸP, RUỘNG XẤU
Năm 1558 Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Hóa, tức vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Huế bây giờ. Đất này đồng bằng nhỏ hẹp, sông ngắn, núi chạy ra sát biển. Hơn 200 năm sau, khi vào đây làm quan, Lê Quý Đôn ghi rằng ở Lệ Thủy, Khang Lộc người nhiều ruộng ít, ruộng công chia theo lượt thì mỗi người chẳng quá 5, 6 sào, vừa đủ làm ăn, cho nên nhiều người xin đi lính chỉ để được cấp thêm 3 phân ruộng [3]. Mà đấy là đất gốc của họ Nguyễn, đã khai khẩn hơn 2 thế kỷ!
Thóc gạo không đủ thì phải mua. Suốt thế kỷ 17, Đàng Trong mua gạo của Cao Miên và Xiêm. Năm 1636 Cao Miên mất mùa, vua Cao Miên cấm bán gạo ra ngoài, thế là sang năm 1637 Thuận Hóa đói to [4]. Quân Nguyễn đang đánh nhau sống mái với họ Trịnh, vậy mà bát cơm lại phải trông vào nước khác.
Li Tana, tác giả cuốn Xứ Đàng Trong, cho rằng với cái đất như thế, nếu chỉ trông vào cày cấy thì họ Nguyễn không thể nào đọ nổi với phía bắc, phải buôn bán với bên ngoài thì mới mong sống được [5].
II - CHÚA NGUYỄN KHÉO CHIỀU KHÁCH
Trước năm 1600, việc buôn bán ở Thuận Quảng phần lớn do dân tự làm, chúa không mấy bận tâm. Đã có tàu Bồ Đào Nha từ Ma Cao sang, có thuyền Phúc Kiến chở đồng, sắt, đồ sứ sang bán, có thuyền Nhật ghé mua chì và diêm tiêu [6].
Năm 1600 Nguyễn Hoàng bỏ Thăng Long trốn về Nam, từ đó thôi tính chuyện quay ra giành chỗ đứng ở triều vua Lê. Ngay năm sau, ông gửi thư cho Tokugawa Ieyasu, người vừa nắm quyền ở Nhật. Trong 6 năm, ông gửi đi 8 lá thư và 2 lần quà, phía Nhật gửi lại 6 lá, bên sốt sắng hơn hóa ra lại là chúa Nguyễn. Năm 1604, ông nhận 1 thương nhân Nhật làm con nuôi. Năm 1619, con ông là Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho 1 thương nhân Nhật khác là Araki Sotaro. Trong 84 chuyến tàu Nhật có giấy phép đóng ấn đỏ sang An Nam và Đàng Trong từ 1604 đến 1635, có 17 chuyến do chính người con nuôi và người con rể này cầm đầu [7].
Họ Trịnh thì khác hẳn. Năm 1627, Trịnh Tráng gửi thư sang Nhật, ghi quà là 10 súc lụa thưởng cho vua Nhật Bản, giọng của bề trên nói với kẻ dưới. Sang năm sau, chính quyền Nhật cấm thương nhân Nhật sang Đàng Ngoài [8].
Chúa Nguyễn khéo chiều khách là 1 lẽ. Lẽ khác, thời ấy Nhật cần tơ lụa Trung Hoa, mà nhà Minh thì cấm thuyền Trung Hoa sang Nhật. Năm 1567 nhà Minh mở cửa cho thuyền đi buôn các nước Đông Nam Á mà vẫn cấm ngặt việc sang Nhật. Thế là thuyền Trung Hoa và thuyền Nhật phải hẹn nhau ở 1 cảng thứ 3, mà Hội An thì cách Quảng Châu chỉ vài ngày đường biển. Trong danh sách tàu Nhật có giấy phép đi Đông Nam Á từ 1604 đến 1635, Đàng Trong có 70 chuyến, nhiều hơn cả Xiêm 56 chuyến, Luzon 53, Cao Miên 44 và Đàng Ngoài 36 [9]. Người Nhật lập hẳn 1 khu phố ở Hội An, có người ở lại quanh năm để gom tơ trước khi tàu về. Giá tơ ở Đàng Trong vì thế lên xuống theo mùa tàu Nhật: tơ thu hoạch kịp mùa tàu bán được 140 đến 160 lạng bạc 1 picul, tơ ra muộn chỉ được 100 đến 110 lạng [10].
Như vậy, Hội An giàu lên trước hết là nhờ làm cái chợ cho người khác. Trên 1 chiếc thuyền rời Đàng Trong đi Nhật năm 1641, Li Tana đếm được ít nhất 1/3 số hàng không phải do Đàng Trong làm ra: da hươu của Xiêm, sơn của Cao Miên, long não của Borneo, nhục đậu khấu từ tận quần đảo Banda [11]. Đàng Trong cũng có hàng của mình như trầm hương, kỳ nam, vàng, đường, tơ, song thương nhân tìm đến Hội An trước hết là để gặp nhau, mua bán hàng của nhau.
III - ĐỒNG CỦA NHẬT, SÚNG CỦA MA CAO
Lê Quý Đôn ghi rằng 2 xứ Thuận Hóa, Quảng Nam không có mỏ đồng, đồng đỏ phải mua của tàu Nhật, 100 cân giá 45 quan [12]. Mà đánh nhau thì cần đồng để đúc súng.
Năm 1608, chính quyền Nhật cấm tiêu loại tiền đồng cũ đúc từ thời Vĩnh Lạc. Tiền ấy ở Nhật thành đồng nát, thương nhân Nhật bèn chở sang Đàng Trong bán. Rồi người Hà Lan cũng chở theo, riêng từ 1633 đến 1637 công ty Đông Ấn Hà Lan đã mang vào hơn 105.000 xâu tiền. Người Hà Lan ghi rằng chúa Nguyễn nhờ họ mua hết tiền đồng cũ ở Nhật chở sang để đúc súng. Năm 1636, 1 thuyền Trung Hoa chở sang 1 mớ tiền Nhật trị giá chừng 30.000 lạng bạc, tiền xấu quá không tiêu được, chúa Nguyễn Phúc Lan mua cả về mà đúc súng [13].
Súng tốt thì mua của Ma Cao. Xưởng đúc của Bocarro ở Ma Cao, nơi làm ra loại súng đồng tốt nhất phương Đông thời bấy giờ, mở năm 1627 và đóng năm 1680, gần như trùng khít với cuộc chiến Trịnh Nguyễn từ 1627 đến 1672. Năm 1651, chúa Nguyễn gửi đồng sang nhờ người Bồ ở Ma Cao đúc đại bác. Ở Thuận Hóa thì từ năm 1631 đã có 1 xưởng đúc súng với 80 thợ, chỗ ấy về sau gọi là phường Đúc [14].
Đến cả chuyện chúa Nguyễn đối xử với các giáo sĩ thế nào cũng tùy vào súng có về hay không. Năm 1658, chúa Hiền đưa cho giáo sĩ dòng Tên Marquez 1 món tiền lớn để sang Ma Cao mua súng. Đi lâu không thấy về, chúa đinh ninh ông ta đã ôm tiền trốn mất, liền ra lệnh phá nhà thờ. Đến mùa xuân 1659 tàu từ Ma Cao về, chúa mừng quá, lên tận tàu, cho bắn 3 phát thần công chào, sờ nắn từng khẩu súng, rồi trả lại nhà thờ cho các giáo sĩ [15]. Theo mình, chúa chẳng thương yêu gì đạo Thiên Chúa, ông cần người mua được súng ở Ma Cao, mà người ấy lại là giáo sĩ, thế thôi.
Năm 1774, quân Trịnh vào Thuận Hóa, kiểm tra kho thấy hơn 30 vạn quan tiền tốt xâu bằng dây mây, đồng nào cũng tốt, Lê Quý Đôn ghi rằng hỏi ra mới biết đều do thuyền buôn chở vào cả [16].
Tóm lại, họ Nguyễn đánh được họ Trịnh là nhờ buôn bán. Tiền thuế tàu, đồng của Nhật, súng của Ma Cao, gạo của Cao Miên, thứ gì cũng theo đường biển mà vào.
IV - TÀU TRUNG HOA VÀ TIỀN THUẾ CẢNG
Năm 1635, Mạc phủ cấm người Nhật ra nước ngoài, khu phố Nhật ở Hội An teo dần, chỗ của họ nhường lại cho thuyền Trung Hoa. Từ 1647 đến 1720, trong số thuyền Trung Hoa từ các cảng Đông Nam Á sang Nagasaki, chừng 30% xuất phát từ Quảng Nam, nhiều nhất trong các cảng. Năm 1689, Nhật hạn mỗi năm chỉ cho 70 thuyền Trung Hoa vào, Quảng Nam được 3 suất, Xiêm, Cao Miên, Batavia mỗi nơi 2, Đàng Ngoài chỉ 1. Đến khi Nhật siết tiếp năm 1715, nhiều thuyền Trung Hoa không vào được Nhật thì quay sang Hội An. Theo mấy người phương Tây có mặt ở Đàng Trong giữa thế kỷ 18, mỗi năm có 60 đến 80 thuyền Trung Hoa cập bến [17].
Lê Quý Đôn có hỏi chuyện 1 khách buôn Quảng Đông họ Trần, quen buôn bán ở đây. Người này kể, từ Quảng Châu đi biển xuống Thuận Hóa, gặp gió thuận thì chỉ mất 3 ngày 3 đêm, vào cửa Đại Chiêm tới phố Hội An cũng thế. Sang Sơn Nam ngoài Bắc lại còn gần hơn, có 1 ngày 2 đêm nhưng thuyền từ Sơn Nam về chỉ mua được củ nâu, từ Thuận Hóa về chỉ có hồ tiêu, còn từ Quảng Nam về thì hàng gì cũng có. Hàng hóa ở Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Bình Khang, Nha Trang, đường thủy đường bộ, đều dồn cả về Hội An, nhiều đến mức trăm chiếc tàu to chở cùng lúc cũng không hết. Hàng Trung Hoa mang sang thì nào the đoạn, gấm vóc, thuốc bắc, giấy, kim, cúc áo, bàn ghế, đèn lồng, đồ đồng, đồ sứ, nào chè, miến, bột mì, ông ta bảo bán chạy, lãi nhiều, không ế [18].
Họ Nguyễn đặt hẳn 1 ty riêng lo việc tàu, gọi là Tàu ty, có cai tàu, tri tào, ký lục, 7 người thông ngôn, 70 lính tàu. Các xã Minh Hương, Hội An, Cù lao Chàm, Cẩm Tú giữ việc canh biển, thấy tàu lạ ở Cù lao Chàm hay cửa Hàn thì báo, quan Tàu ty ra hỏi, rồi đưa thuyền trưởng và người giữ sổ vào phố Hội An khai hàng [19]. Xã Minh Hương là làng của người Hoa sang ở từ cuối đời Minh.
Lệ thuế tàu thì Lê Quý Đôn lấy theo lời khai của 1 viên lệnh sử Tàu ty cũ: tàu Quảng Đông, Thượng Hải vào cảng nộp 3.000 quan, tàu Phúc Kiến 2.000, tàu Ma Cao và tàu Nhật 4.000, tàu Tây Dương 8.000, tàu Xiêm và Lữ Tống 2.000, tàu Hải Nam 500, tàu Hà Tiên 300, lúc về lại nộp thêm 1/10 số ấy. Thuyền trưởng còn phải dâng lễ, chè cho chúa, cho các quan, lễ tiến tính ra chừng 500 quan. Có tàu dâng lễ vừa ý chúa thì được miễn thuế, chẳng theo lệ nào cả. Chúa muốn mua thứ gì thì được mua trước theo bản khai. Tiền thu ở cảng cả năm thì 6 phần nộp vào kho, 4 phần quan lại, quân lính chia nhau [20]. Quan lính đều có phần trong tiền tàu, thì ai chẳng muốn tàu đến!
Họ Nguyễn còn giao cho người Hoa, người Nhật những việc mà triều đình phía bắc ít khi giao cho người ngoại quốc. Thuyền của họ mang thư, mang hàng của chúa sang Nhật, sang Batavia. Năm 1688, chúa Nghĩa nhờ 1 thuyền Trung Hoa mang thư sang xin Mạc phủ đúc tiền cho Đàng Trong [21]. Năm 1679, hơn 3.000 quan quân nhà Minh không chịu thần phục nhà Thanh, do Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên cầm đầu, đi hơn 50 chiến thuyền sang xin ở, chúa Hiền cho vào khai phá đất Đông Phố, tức vùng Biên Hòa, Mỹ Tho sau này [22]. Đầu thế kỷ 18, Mạc Cửu, 1 người Quảng Đông đã lập cảng ở Hà Tiên từ trước, xin thần phục chúa Nguyễn, đất Hà Tiên từ đó mới vào sổ của chúa.
V - NGƯỜI TỪ THANH NGHỆ CHẠY VÀO
Lính thì phải có người, mà người thì phần lớn từ Thanh Nghệ chạy vào. Cuối thế kỷ 16, chiến tranh Lê Mạc với mất mùa nối nhau, sử ghi năm nào cũng có dân xiêu tán, kẻ chạy lên Đông Bắc, người chạy vào Nam. Giữa thế kỷ 18, Ngô Thì Sĩ báo về triều rằng đồng bằng sông Hồng có 1.070 làng bỏ đi, Thanh Hóa 297 làng, Nghệ An 115 làng [23]. Không phải ai bỏ làng cũng vào Nam, chỉ là phía nam còn đất.
Li Tana viết rằng chúa Nguyễn cho người mới đến được miễn thuế 3 năm, ruộng tự khai được thì làm của riêng. Người ta cũng không đi 1 mạch mà đi từng chặng. Dòng họ Phạm Đăng Hưng (sau này làm quan to dưới triều Gia Long) đời đầu dừng ở Quảng Trị, đời sau xuống Huế, đời sau nữa vào Quảng Ngãi, đến đời ông nội thì vào tận Gia Định [24].
Người vào Quảng Nam thì trồng dâu nuôi tằm, trồng mía nấu đường để bán cho tàu. Lê Quý Đôn mô tả đường phổi Điện Bàn xốp, nhẹ, trắng [25]. Năm 1663, 4 thuyền từ Quảng Nam sang Nhật đã chở hơn 150.000 cân đường. Li Tana dẫn ý của Robert Innes rằng những năm 1630, dân Đàng Trong ham bán tơ, bán đường cho tàu Nhật đến nỗi đem ruộng lúa ra trồng dâu, trồng mía, còn gạo thì đi mua của Cao Miên [26]. Thảo nào năm 1637 Cao Miên cấm gạo là Thuận Hóa đói ngay.
Ở Gia Định, Lê Quý Đôn ghi rằng chúa Nguyễn đánh Cao Miên lấy được đất, rồi chiêu mộ những nhà có của ở Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn vào phát rừng, khai được bao nhiêu thì chiếm bấy nhiêu. Có nhà nuôi đến 50, 60 điền nô, 300, 400 con trâu bò. Họ còn mua con trai con gái người thượng ở đầu nguồn về làm nô tì. Thóc thì giã thành gạo, chở ra Phú Xuân bán, đổi lấy lụa, the đoạn hàng Bắc [27].
Có tiền thì người ta tiêu. Năm 1776, khi quân Trịnh đã chiếm Thuận Hóa, Lê Quý Đôn được triều Lê Trịnh cử vào làm Hiệp trấn, coi việc cai trị vùng đất mới lấy được. Ông ghi rằng từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, quan lớn quan nhỏ nhà nào cũng chạm trổ, tường gạch, màn the, đồ đồng, bàn ghế gỗ trắc, chén bát sứ, áo gấm, lính cũng ngồi chiếu mây, uống chè hảo hạng bằng chén sứ bịt bạc, đàn bà thì mặc the với hàng hoa. Ông viết tiếp: “coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực” [28].
VI - TIỀN KẼM VÀ TÀU THƯA DẦN
Từ những năm 1710, Nhật hạn chế bán đồng ra ngoài, tiền đồng Trung Hoa cũng lên giá. Đàng Trong vốn quen tiêu tiền đồng của người khác, giờ lâm vào cảnh thiếu tiền. Theo Lê Quý Đôn, chúa Nguyễn Phúc Khoát nghe lời 1 người khách họ Hoàng, mua kẽm của người Hà Lan về đúc tiền: 100 cân kẽm giá 8 quan, trừ tiền ăn tiền công thợ còn lãi 20 quan. Trong 3 năm 1746, 1747, 1748, họ Nguyễn đúc được hơn 72.000 quan tiền kẽm [29].
Lúc đầu tiền còn dày, lại cấm đúc riêng. Lâu dần, người có thế lực tranh nhau xin đúc thêm, lên đến hơn trăm lò, trộn cả chì vào, tiền mỗi ngày 1 mỏng, bẻ cũng gãy. Trước kia 1 đồng kẽm tiêu ngang 1 đồng tiền đồng, sau 3 đồng kẽm mới ăn 1 đồng tiền đồng, mà người ta vẫn còn chọn bỏ. Thuyền buôn nước ngoài không nhận tiền kẽm, chỉ đem vàng bạc, hàng hóa đổi lấy gạo muối rồi đi. Nhà giàu ôm tiền mà tiêu không được, bèn giữ thóc không bán ra, giá gạo vọt lên. Những năm sau, tàu Ma Cao còn chở kẽm sang bán, Lê Quý Đôn ghi 12 năm không dưới 15 vạn cân, kẻ gian mua lén về đúc trộm ở núi, ở đảo, quan không sao xét được [30].
Số tàu đến thì Lê Quý Đôn có ghi mấy năm cuối: năm 1771 có 16 chiếc đến Hội An, thuế 30.800 quan, năm 1772 còn 12 chiếc, thuế 14.300 quan, năm 1773 chỉ còn 8 chiếc, thuế 13.200 quan [31]. Trong khi mấy chục năm trước đó, người phương Tây ở Hội An đếm được mỗi năm 60, 80 thuyền.
Mấy con số này mình chỉ dám đọc theo chiều lên xuống. Cùng số thuế năm 1771, Li Tana ghi 38.000 quan, bản dịch mình đọc lại ghi 30.800. Số tiền kẽm đúc 3 năm, bản này ghi 7 vạn, bản kia ghi 1 vạn. Lời ông khách họ Trần kể giá hàng cũng thế, cùng 1 tạ yến sào mà bản này ghi 50 quan, bản kia 200 quan. Phủ biên tạp lục xưa truyền bằng bản chép tay, mỗi bản lệch đi 1 ít. Lại có những con số Lê Quý Đôn cũng chỉ nghe kể, như chuyện 1 người ở Thăng Hoa mua riêng 1 quả núi để đãi vàng, mỗi năm đem ra Hội An bán cho khách buôn không dưới nghìn hốt, chính ông ghi rõ đấy là lời 1 viên cai đội ở Quy Nhơn [32].
Cũng trong mấy chục năm ấy, cửa sông Thu Bồn bắt đầu bồi cát, 1 cửa lấp hẳn, cửa kia nông dần, tàu lớn vào Hội An mỗi năm 1 khó [33].
VII - QUAY VÀO THU CỦA DÂN
Tiền biển hụt thì quay vào đất liền mà thu. Năm 1774, các khoản thuế đầu nguồn, chợ, đò, đầm, núi của 2 xứ cộng lại hơn 76.000 quan, Quảng Nam chịu 6 phần, Thuận Hóa có 1 phần. Người ta bảo thuế tạp ở Quảng Nam là do Trương Phúc Loan mới đặt ra [34]. Trương Phúc Loan là quốc phó, lộng quyền ở Phú Xuân mấy chục năm, nhất là từ khi đưa chúa Nguyễn Phúc Thuần còn nhỏ lên ngôi năm 1765. Lê Quý Đôn ghi rằng Loan ăn lộc ở 5 nguồn đầu sông, trong đó có nguồn vàng Thu Bồn, mỗi năm thu 4, 5 vạn quan, lại giữ luôn việc coi Tàu vụ, coi bộ Hộ, thu thêm 3, 4 vạn nữa. Tiền nhiều đến nỗi mỗi năm lính phải nộp 5 gánh dây mây để xâu lại những chuỗi tiền đã mục dây [35].
Người thượng còn khổ hơn. Ở nguồn An Đại thuộc huyện Khang Lộc, năm 1774 có 11 suất đinh phải nộp tổng cộng hơn 434 quan, có nhà 1 vợ 1 chồng nộp đến 70 quan, Lê Quý Đôn nhận xét lệ thu theo đầu đinh ấy thực là nặng quá [36]. Trong khi đó, theo cách Li Tana tính, người Kinh ở Quảng Nam năm 1769 trung bình mỗi suất chỉ nộp chừng 2 đến 4 quan. Ở nguồn Tả Trạch huyện Hương Trà, khoản thuế mây trước kia thực nộp 10 quan, đến năm 1769 viên cai đội đem mây đi bán, nộp lên hơn 47 quan. Li Tana tính rằng năm 1768, thuế thu từ người thượng đã chiếm gần nửa các khoản thu phụ của họ Nguyễn [37].
Năm 1771, anh em Tây Sơn nổi lên ở Tây Sơn thượng đạo, vùng An Khê phía tây Quy Nhơn. Mọi người để ý chỗ này, An Khê là cửa ngõ giữa đồng bằng và cao nguyên, người thượng mang trầm, ngà, trầu cau xuống, người Kinh mang muối, mắm lên, dân Quy Nhơn có câu: “Ai về nhắn với nậu nguồn, măng le gùi xuống, cá chuồn gửi lên”. Nguyễn Nhạc vốn là người buôn trầu với người thượng [38]. Vậy là cuộc nổi dậy đánh đổ họ Nguyễn đã bùng lên ngay trên con đường buôn bán mà họ Nguyễn đang siết thuế. Li Tana cho rằng lệ thuế đặt ra sau năm 1769 là 1 trong những nguyên nhân sâu xa nhất của cuộc nổi dậy ấy [39].
VIII - VẪN LÀ 1 NƯỚC NHÀ BINH
Nói vậy chứ họ Nguyễn đánh nhau cũng chẳng ít. Đàng Trong là 1 nước nhà binh. Đơn vị hành chính ở đây gọi là dinh, vốn nghĩa là doanh trại của 1 đạo quân, người đứng đầu dinh bao giờ cũng là quan võ. Năm 1653, họ có hơn 22.700 lính chính binh [40]. Họ đánh Chiêm Thành, đánh Cao Miên mà lấy đất, sử ghi rành rành.
Có điều, súng thì mua bằng tiền tàu, đồng thì mua của tàu Nhật, gạo nuôi quân buổi đầu cũng mua của Cao Miên. Đất mới lấy được thì đem trồng mía, trồng lúa bán cho tàu, lấy tiền ấy lại nuôi lính. Đến khi tàu thưa dần, họ Nguyễn không còn gì để bù vào, ngoài việc thu thêm của chính dân mình.
P/S: năm 1695, nhà sư Thích Đại Sán từ Quảng Đông sang Thuận Hóa, chúc chúa Nguyễn Phúc Chu mưa thuận gió hòa. Chúa đáp rằng mấy năm trước mỗi năm chỉ 6, 7 chiếc tàu đến buôn, năm nay lên 16, 17 chiếc, trong nước nhờ đó mà tiêu dùng dư dật [41]. 78 năm sau, năm 1773, số tàu chỉ còn 8 chiếc.
Nguồn:
[1], [5] - Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 - Li Tana, Nguyễn Nghị dịch, Nhà xuất bản Trẻ 2013, phần Dẫn nhập và chương 3. [2], [12], [16], [18], [19], [20], [29], [30], [31], [32], [34], [36] - Phủ biên tạp lục - Lê Quý Đôn, Viện Sử học dịch, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 2007, quyển IV. [3], [25], [27], [28], [35] - Phủ biên tạp lục - Lê Quý Đôn, quyển VI. [4], [11], [13], [26] - Xứ Đàng Trong - Li Tana, chương 4. Chuyện Thuận Hóa đói năm 1637 Li Tana lấy từ Đại Nam thực lục tiền biên. [6], [7], [8], [9], [10], [17], [21] - Xứ Đàng Trong - Li Tana, chương 3. Số tàu Nhật có giấy phép lấy theo bảng của Iwao Seiichi trong sách. [14], [15], [40] - Xứ Đàng Trong - Li Tana, chương 2 và chương 3. [22] - Đại Nam thực lục tiền biên - Quốc sử quán triều Nguyễn, quyển 5, năm Kỷ Mùi (1679). [23], [24] - Xứ Đàng Trong - Li Tana, chương 1. [33] - Xứ Đàng Trong - Li Tana, phần Kết luận. [37], [39] - Xứ Đàng Trong - Li Tana, chương 5. [38] - Xứ Đàng Trong - Li Tana, chương 6. [41] - Hải ngoại kỷ sự - Thích Đại Sán, quyển 3, dẫn theo Xứ Đàng Trong của Li Tana, chương 4.