Có lẽ chúng ta đều đã thuộc lòng chuyện Ngô Quyền năm 938, Trần Hưng Đạo năm 1288 cắm cọc trên sông Bạch Đằng, nhử thuyền giặc vào lúc nước lên, đợi nước rút mà đánh tan. Rồi năm 1861, khi Pháp đánh Mỹ Tho, quân nhà Nguyễn lại đem cọc ra chắn sông và thua tan tác. Từ đấy nhiều người kết luận rằng triều Nguyễn cứ ôm bài Bạch Đằng mà đánh tàu máy, vì không biết thế giới bên ngoài đã đổi khác. Thú thật, mình cũng từng nghĩ như thế.
Nhưng kỳ thực, khi đọc lại Đại Nam thực lục từ đời Minh Mạng, rồi bộ Cương mục do vua Tự Đức sai soạn, mình thấy triều Nguyễn biết rất rõ tàu Tây mạnh tới đâu, mà biết từ trước trận Mỹ Tho hơn 20 năm kia. Biết rồi, sao vẫn đóng cọc?
I - TRẬN MỸ THO
Tháng 2 năm Tân Dậu (1861), 2 chiếc tàu máy chạy hơi nước cùng 12 thuyền sam bản của Pháp vào bỏ neo ở vụng Cù Úc, trên đường sông lên tỉnh thành Định Tường (tức Mỹ Tho). Quan tỉnh đã cho cắm cọc gỗ chắn sông, 2 lần ở khúc bảo Tân Hương, 1 lần ở khúc bảo Tĩnh Giang. Tàu Pháp tiến sát hàng cọc, bắn liền 5 ngày, 2 thành đất 2 bên bảo Tân Hương nối nhau sụt đổ, rồi lính Pháp “nhổ hàng rào chắn sông, mà tiến vào”. Quan ta lui lại, đem gỗ, đá, thuyền nhỏ lấp những chỗ sông nông hẹp, cứ từng đoạn mà chặn suốt 6, 7 ngày. Thực lục ghi: “binh tình sợ hãi, súng Tây dương bắn đến đâu đều chạy tan cả. Những chỗ ngăn lấp đều bị lính Tây dương phá toang” [1].
Ông tổng đốc Nguyễn Công Nhàn còn bày kế hỏa công. Ban đêm, 4 chiếc thuyền chứa thuốc súng được thả từ thượng lưu xuống, hẹn tới chỗ tàu Pháp đậu thì châm lửa. Giữa đường gặp 1 chiếc sam bản của Pháp đi tuần, lính ta tưởng là tàu lớn, đốt luôn. Lính Pháp bèn lấy móc kéo mấy chiếc thuyền lửa vào 1 con ngòi nhỏ, “cho lửa cứ việc tự cháy”! Ngày mồng 3 tháng 3, súng lớn của Pháp bắn vào thành, kho tàng dinh thự cháy, lính bỏ trốn gần hết, quan tỉnh đốt hành cung rồi mở cổng thành chạy [1].
II - CỌC BẠCH ĐẰNG ĂN NHỜ CON NƯỚC
Theo Toàn thư, năm 938, Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo nhà Nam Hán đem thuyền sang, bảo các tướng rằng, giặc từ xa đến, quân còn mỏi mệt, ta đánh tất phá được, “nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao”. Ông sai đem “cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt” đóng ngầm ở cửa biển, đợi nước thủy triều lên thì cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến rồi giả thua, nhử giặc vào bãi cọc. Nước thủy triều rút, cọc nhô lên, “thuyền đều mắc vào cọc mà lật úp” [2]. Năm 1288 Trần Hưng Đạo làm lại y như thế, cọc phủ cỏ lên trên, cũng đợi nước thủy triều xuống thì “thuyền giặc vướng cọc hết” [3].
Nói nôm na, cái cọc tự nó không giết được ai cả. Nó chỉ ăn khi thuyền giặc là thuyền gỗ, phải theo con nước mà vào, phải nghe nhử mà đuổi và người đóng cọc biết trước giờ nước rút. Tức là Ngô Quyền đã tính trước giặc mạnh ở chiến thuyền rồi mới đem cọc ra đón.
Mà đóng cọc cũng có lần thua. Năm 981 Lê Hoàn chống Tống cũng “sai quân sĩ đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn cản địch”, vậy mà 200 chiến thuyền của ta “đều bị địch lấy mất cả”, phải tới trận Chi Lăng trên bộ mới thắng [4].
Thêm nữa, năm 1856 vua Tự Đức sai Quốc sử quán soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Phan Thanh Giản làm tổng tài, soạn xong vua đọc và tự tay phê vào. Phê trận năm 938, ông viết: “Ngô Quyền gặp được ngụy triều Nam Hán là một nước nhỏ, Hoằng Tháo là thằng hèn kém, nên mới có được trận thắng trên sông Bạch Đằng. Đó là một việc may, có gì đáng khen”. Phê trận năm 1288: “nhà Nguyên hai lần đem quân xâm lấn, những tướng sai sang đều không phải là tướng giỏi, đấy cũng là may cho nhà Trần” [4].
1 ông vua mà phê trận Bạch Đằng là “việc may”, lạ thật! Nghĩa là chính vua cũng không tin cứ đóng cọc là thắng.
III - NHÀ NGUYỄN ĐÃ CÓ TÀU MÁY
Năm 1839 vua Minh Mạng ra sông Hương xem chạy thử chiếc thuyền máy hơi nước do thợ Vũ khố đóng theo kiểu Tây. Thùng nước vỡ, máy không chạy, vua cho xích giam bọn đốc công. Năm 1840 ông quan Đào Trí Phú đi Nam Dương về, mua được 1 chiếc tàu máy hơi nước của Tây đem dâng. Tàu han gỉ, nồi sắt rò nước, thợ phải tháo ra mài giũa rồi lắp lại, cho chạy thi với thuyền Bình hải (vốn có tiếng là nhanh) từ cửa Thuận An tới Đà Nẵng, đi về 2 lần, lần nào tàu máy cũng nhanh hơn [5]. Và đến năm 1847, vua Thiệu Trị còn ra cửa Thuận An “xem những thuyền bọc đồng có máy đốt lửa xếp thành từng đội chạy thi” [6].
Cũng năm 1847 ấy, mùa xuân, 2 chiếc tàu Pháp vào cửa Đà Nẵng. Quan ta bày quân thủy bộ dựa nhau, Thực lục khen là “quân dung rất lộng lẫy”. Pháp giả cách xin hòa, quan ta tin, đóng quân im. Hôm sau, giờ Ngọ, tàu Pháp nổ súng, “5 chiếc thuyền đồng chốc lát đều bị đắm mà vỡ cả”, ta chết hơn 40 người, hơn 100 người trôi giạt mất tích, súng đồng súng gang chìm mất mấy chục cỗ. Thực lục ghi tiếp: “hôm sau thuyền Tây dương giương buồm chạy đi. Không có một người nào đuổi theo!” [6].
Thiệu Trị nghe tin, than thở rằng: “5 chiếc thuyền đồng lại bị giặc Tây dương bắn, không ngờ quan quân hèn yếu đến như thế”. Ông kể 3 tội của các quan: không giữ nghiêm quân luật nên lộ quân cơ, lỡ việc rồi không đốc quân đánh trả, tàu giặc chạy rồi mà 2 pháo đài không bắn 1 phát. Tên tiểu biền để giặc bắt được giấy quân cơ thì bị chém bêu đầu, các quan coi việc người bị giáng, người bị cách chức. Sau trận ấy vua “rất tức giận, bụng thường không vui”, thị vệ ngủ quên cũng bị đánh, viên ngoại lang bộ Công không trả lời được chuyện sửa thuyền thì ăn 100 trượng. Lúc rỗi việc, vua ra đình Doãn Vũ tập bắn, sai quân “bó cỏ vào làm hình người Tây dương, ai bắn trúng thì thưởng cho kim tiền, ngân tiền” [6].
5 chiếc thuyền mất trong chốc lát, mà trong lời vua không có câu nào hỏi súng Tây bắn xa bao nhiêu, tàu Tây chạy bằng gì. Rõ ràng, với nhà vua, thua là vì quân “hèn yếu”, vì tướng phạm 3 tội, thế thôi.
IV - BIẾT RỒI MÀ VẪN LẤP SÔNG
Sang đời Tự Đức vẫn vậy. Năm 1858 Pháp đánh Đà Nẵng, quan tỉnh Quảng Nam xin bắt dân phu “làm sọt tre, vật liệu gỗ, đổ đất lấp sông Vĩnh Điện”, cho hạ lưu nông lại để “thuyền sam bản của Tây dương không tiến vào được”. Vua y cho [7]. Đầu năm 1859 tàu Pháp vào cửa Cần Giờ, bắn phá các đồn ven sông 4 ngày liền, rồi tới thẳng bến sông tỉnh thành Gia Định mà bắn vào thành, “quan quân tan chạy cả, thành bèn bị vỡ” [7].
Năm 1860 Tự Đức nói Nam Kỳ “đường sông chằng chịt, rừng bụi rậm rạp, thuyền tàu của địch đi lại nhanh chóng, không thể trị nổi” [7]. Tháng 4 năm ấy các đại thần đi Quảng Nam về, vua hỏi có nên lấp vụng biển Đà Nẵng hay không. Phan Thanh Giản tâu phải vài ba năm mới xong. Đoàn Thọ tâu vụng biển là bùn lầy, “không như chỗ đất cát, dễ đóng cọc được”, muốn lấp thì phải thử hơn 10 trượng xem ra sao đã.
Vua hỏi nếu giặc tới lần nữa thì giữ thế nào cho khỏi ngại. Phan Thanh Giản đáp: “hiện nay, thế phải phòng giữ thì nhiều, mà cách chế ngự họ thì ít”. Vua “nghĩ hồi lâu”, rồi bảo cùng bàn với nhau giữ sao cho khỏi lo. Rốt cuộc thôi không lấp vụng nữa, chuyển sang “nhân chỗ hiểm mà phòng bị” [7].
Tháng giêng năm 1861 Pháp đánh đại đồn Gia Định (tức đồn Chí Hòa). Theo Thực lục, Pháp đem thêm 30 chiếc thuyền với “hơn 10.000 lính”, 4 mặt chĩa vào đồn mà bắn, đánh 2 ngày đêm. Ngày 16 “biền binh tự nhiên tan vỡ”, Nguyễn Tri Phương trúng đạn, quân nhu khí giới mất sạch [1]. Ngay sau đó vua mật dụ các tỉnh, đường đi ở Định Tường, Biên Hòa chỗ nào lính Tây có thể qua được thì “đường sông thì lấp bằng đá gỗ, lập đồn đặt súng” [1]. Tức là hàng cọc ở Tân Hương mà mình kể ở trên là do chính nhà vua ra lệnh.
V - TỜ TÂU CỦA NGUYỄN BÁ NGHI
Sau khi mất đại đồn, vua sai thượng thư bộ Hộ Nguyễn Bá Nghi làm khâm sai vào Biên Hòa coi việc quân. Mấy tháng sau ông dâng 1 tờ tâu, mở đầu thế này: “tôi vẫn nghe người nhà binh nói: người Tây dương tàu thì chở đi như bay, súng thì bắn suốt được thành đá vài nhận, bắn xa hơn 10 dặm. Có được vài thứ binh khí ấy, muốn đánh khó lòng đánh được họ, muốn giữ cũng khó lòng giữ được họ. Nhưng lòng tôi vẫn chưa tin” (1 nhận là 8 thước). Ông chỉ tin khi chính mắt thấy, ấy là năm 1847, lúc ông đang quyền bố chính Quảng Nam, đứng nhìn tàu Pháp bắn 5 chiếc thuyền bọc đồng “mà không đầy vài khắc” [1].
Ông viết tiếp: “lính ta không phải là không dũng cảm, súng ta không phải là không mạnh, thành lũy của ta không phải là không bền, thế mà không đánh được Tây dương là vì thuyền súng của họ rất tốt, đạn súng bắn đi xa mà mạnh đấy thôi”. Nói đúng quá rồi! Ông còn tính ra rằng, từ khi đánh nhau, thủy binh ta vì tránh cái sở trường của địch mà bỏ không dùng, “thế là binh lực của ta đã giảm đi một nửa, chỉ cậy có súng lớn và thành lũy làm kế đánh giữ”. Đời Minh Mạng, Thiệu Trị đánh giặc Khôi, đánh Xiêm, Cao Miên ở Nam Kỳ, thuyền Hải đạo, thuyền Ô, thuyền Lê đi khắp sông ngòi, ấy vậy mà nay 4 tỉnh còn lại tuy có thuyền “nhưng khó đối địch với tàu của Tây dương được” [1].
Cuối tờ tâu, ông nói nếu vua không quyết hòa thì quân thứ với các tỉnh “không dám trái lời của bộ”, lại phải “sửa đắp đồn lũy làm ra dáng đánh giữ”, mà giặc nhìn ra ta không thực thì càng đánh ép. Ông viết: “không có sự thực đánh giữ, chỉ phô trương hình thức, chỉ cho giặc chóng sinh lòng mà thêm tổn hại thôi”. Vì thế ông đã thôi đắp đồn lũy, bớt việc gọi lính [1].
Vua phê lại: “sự thế khó làm, trẫm đã biết hết rồi. Ngươi có lòng chịu trách nhiệm, nên hết sức mà làm, để tỏ khí tiết như cây khỏe gặp cơn bão táp là được” [1]. Bá Nghi tâu cả 1 tờ dài về tàu với súng, vua chỉ đáp lại 1 câu khuyên giữ khí tiết!
VI - THUA THÌ TẠI LÒNG NGƯỜI
Như ta thấy, trong các tờ dụ, tờ nghị tội từ 1847 tới 1861, lý do thua lần nào cũng nằm ở người: quân “hèn yếu” (Đà Nẵng 1847), “biền binh tự nhiên tan vỡ” (đại đồn Gia Định), “binh tình sợ hãi” (Định Tường). Mất đại đồn, đình thần xử Nguyễn Tri Phương theo luật “chủ tướng không cố giữ”, nghĩ án trảm giam hậu, vua giảm xuống thành giáng chức. Mất Định Tường, 2 ông quan đầu tỉnh làm 2 tờ tâu đổ lỗi cho nhau, vua cho là “đun đẩy nhau làm lỡ việc”, cách chức cả [1].
Theo mình, sở dĩ có hàng cọc ở Mỹ Tho là bởi triều đình cứ thua là đổ cho người nhát. Đã tin thua là tại nhát thì chữa bằng cách bắt người ta bớt nhát: chém kẻ chạy, thưởng kẻ chết, cho quân tập bắn vào hình nộm Tây bó bằng cỏ.
Bạn thử đặt mình vào chỗ 1 ông quan tỉnh lúc ấy, giặc tới thì việc trước tiên là phải cho vua thấy mình có “cố giữ”, vì không cố giữ là có luật trị. Ở 1 tỉnh sông nước, việc dễ cho vua thấy nhất là bắt dân phu chặt gỗ, chở đá, đóng cọc, lấp sông. Cọc cắm xuống rồi thì tờ tâu có cái để kể, rằng quan đã ngăn, đã chặn, còn cọc có cản được tàu máy hay không thì tính sau. Chính Nguyễn Bá Nghi đã tâu là các tỉnh phải “làm ra dáng đánh giữ” đấy thôi.
Năm 1878, vua Tự Đức cho rằng quân Bắc Kỳ “phần nhiều nhát và lười”, đánh trận là thua, bèn xuống dụ: “sao không nhớ từ Châu Hoan, Châu Diễn trở ra Bắc, cũng đất ấy cũng dân ấy, trước Nhân Tông nhà Trần bắt Ô Mã Nhi ở sông Bạch Đằng thì là quân của phiên vương các lộ” [8]. Cũng ông vua ấy, lúc phê sử thì bảo trận Bạch Đằng thắng là nhờ tướng giặc kém, đến khi mắng quân thì lại đem Bạch Đằng ra làm bằng chứng rằng người xứ Bắc vốn đánh giỏi, nay thua là tại lười, tại nhát. Ở những chỗ Thực lục đời Tự Đức nhắc tới sông Bạch Đằng, mình không thấy chỗ nào bàn lại xem Ngô Quyền đã tính con nước, tính thuyền giặc ra sao.
Tất nhiên, nhà Nguyễn thua Pháp trước hết vì tàu, súng của người ta hơn hẳn, có đổi cọc gỗ lấy cách gì khác thì năm 1861 cũng chưa chắc giữ nổi Mỹ Tho. Nhưng tàu Tây mạnh thế nào thì từ vua tới thượng thư đều đã thấy, đã tâu ra thành lời, vậy mà thua trận thì người bị xét tội vẫn là ông tướng không cố giữ với người lính bỏ chạy, nên quan tỉnh nào có giặc tới cũng lo cắm cọc trước đã.
Nguồn:
[1] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ tứ kỷ, quyển XXIV, phần chép năm Tự Đức thứ 14 (1861), các mục mất đại đồn Gia Định, mất thành Định Tường và tờ tâu của Nguyễn Bá Nghi. [2] - Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển V, kỷ Nam Bắc phân tranh, năm Mậu Tuất (938). [3] - Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển V, năm Mậu Tý, Trùng Hưng thứ 4 (1288). [4] - Khâm định Việt sử thông giám cương mục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Tiền biên quyển V (năm 938), Chính biên quyển I (năm 981) và Chính biên quyển VIII (năm 1288), cùng lời phê của vua Tự Đức ở các mục ấy. [5] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ nhị kỷ, các năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) và 21 (1840). [6] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ tam kỷ, năm Thiệu Trị thứ 7 (1847). [7] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ tứ kỷ, các năm Tự Đức thứ 11 (1858), 12 (1859) và 13 (1860). [8] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ tứ kỷ, năm Tự Đức thứ 31 (1878).