Năm 1358, nông dân miền bắc nước Pháp nổi dậy, tức cuộc nổi dậy Jacquerie. Trong những thứ họ tìm để đốt phá có giấy tờ của địa chủ, những văn bản ghi rõ mỗi nhà phải nộp bao nhiêu tô, bao nhiêu thuế. Với họ, mấy tờ giấy chi chít chữ ấy là thứ đè đầu cưỡi cổ mình, có dịp là hủy [1].

Năm 1789, cũng trên đất Pháp, dân chúng lại nổi dậy. Lần này đám đông đem giấy đi in. Từ tháng 1 tới tháng 5 năm ấy, ít nhất 2.600 tờ rơi, tập sách mỏng được in ra. Từ ngày phá ngục Bastille tới năm 1792, hơn 500 tờ báo ra đời [2].

Cũng là dân nổi dậy chống người trên, cách nhau hơn 400 năm, đám trước đốt giấy còn đám sau lại đem giấy đi in. Theo mình, khác nhau là ở chỗ người Paris năm 1789 đã có nhiều người đọc được chữ.

Suốt gần 5.000 năm, chữ viết có ích cho 1 người bình thường hay không tùy vào việc người ấy có đọc được hay không. Người nắm quyền hiểu rõ điều đó, nên lúc nào cũng muốn giữ quyền đọc và kiểm soát sách, chữ viết trong tay mình.

I - TỜ BIÊN NHẬN Ở URUK

1 trong những dòng chữ sớm nhất mà người ta còn đọc được, trên 1 tấm bảng đất sét ở Uruk khoảng 5.000 năm trước, là 1 tờ biên nhận: 29.086 đơn vị lúa mạch, 37 tháng, ký tên Kushim [3]. Clarisse Herrenschmidt, nhà nghiên cứu chữ viết cổ, cho rằng người ta bắt đầu viết vì sổ sách giữ được trật tự xã hội. Theo bà, chữ viết thực chất là để ghi món nợ của dân đối với vua và tu sĩ [4]. Jared Diamond, nhà địa lý học người Mỹ, tác giả cuốn Súng, vi trùng và thép, thì viết rằng vua và tu sĩ Sumer muốn thư lại dùng chữ để ghi số cừu dân nợ thuế, không muốn dân đen dùng nó để làm thơ hay bàn mưu tính kế gì hết [5].

Giờ bạn thử đặt mình vào chỗ 1 người nông dân Lưỡng Hà. Ông nộp lúa, 1 thư lại vạch vài nét lên đất sét. Ông không đọc được những nét ấy. Năm sau có ai bảo ông còn nợ, ông lấy gì mà cãi? Người cầm tấm bảng đọc thế nào thì là thế ấy. Jean Bottéro, nhà sử học người Pháp chuyên về Lưỡng Hà, viết rằng ngay cả vua chúa, quan lớn cũng hiếm người biết chữ hình nêm, gửi 1 lá thư phải cần 2 người làm nghề, 1 người viết ở đầu này, 1 người đọc ở đầu kia [6].

Chuyện nghe xa mà thì ra không xa. Nhiều bà cụ ở quê ta ngày trước không biết chữ, giấy tờ gì cũng phải đợi con cháu về đọc cho nghe, con cháu đọc sao thì biết vậy. Ai từng ký 1 tờ giấy vay tiền mà không đọc kỹ, tới lúc bị đòi lãi mới lật ra xem, cũng ở vào đúng thế của ông nông dân Lưỡng Hà.

Người nông dân Pháp năm 1358 cũng thế. Tờ giấy ghi họ nợ bao nhiêu thì họ không tự đọc được, muốn cãi cũng không biết cãi vào đâu, nên họ đốt luôn.

II - THEO LỜI ANH NÓI THÌ

Trong đối thoại Phaedrus, Plato để Socrates chê rằng chữ viết giống như tranh vẽ, hỏi nó điều gì thì nó im lặng hoặc cứ lặp lại đúng 1 câu trả lời như cũ [7].

Socrates chê như vậy. Có điều người yếu thế lại cần đúng cái tính trây lì ấy của chữ, vì người có quyền muốn nói khác đi lúc nào cũng được, miệng lưỡi thế gian mà, còn chữ đã viết ra thì “giấy trắng mực đen rồi, bút sa gà chết rồi”.

Trước khi có chữ, luật nằm trong trí nhớ. Daniel Boorstin, nhà sử học người Mỹ, viết rằng luật được giữ bằng trí nhớ trước khi được giữ bằng văn bản, trí nhớ tập thể của cộng đồng là kho lưu trữ pháp luật đầu tiên [8]. Walter Ong, nhà nghiên cứu văn hóa truyền miệng người Mỹ, nhận xét rằng trong 1 nền văn hóa không có chữ thì không có chỗ nào để tra lại 1 lời, lời chỉ là âm thanh, muốn có lại thì phải nhớ lại [9].

James Gleick, nhà báo khoa học người Mỹ, có viết về 1 thí nghiệm của nhà tâm lý học Liên Xô Alexander Luria với nông dân Trung Á những năm 1930. Ông hỏi: ở vùng Viễn Bắc có tuyết, gấu nào cũng trắng, Novaya Zemlya ở Viễn Bắc, vậy gấu ở đó màu gì. 1 người không biết chữ đáp rằng ông chưa từng thấy gấu trắng, mỗi vùng có loài vật của nó. 1 người vừa mới biết chữ đáp: “Theo lời anh nói thì chúng phải trắng hết”. Gleick bình rằng ở câu “theo lời anh nói”, thông tin đã tách khỏi người nói, nó nằm trong con chữ [10].

Có chữ trong tay, người dưới mới nói được với người trên câu ấy: theo lời anh viết thì phải thế này. Người mình đi làm giấy tờ, bị bảo nộp thêm cái này cái kia, câu hỏi đầu tiên thường là quy định ấy nằm ở văn bản nào, anh chỉ cho tôi xem. Cái quyền được chỉ vào dòng chữ ấy, hóa ra đã có từ mấy nghìn năm.

III - KINH THÁNH BẰNG TIẾNG MẸ ĐẺ

Theo Benedict Anderson, nhà chính trị học người Mỹ, trước thời máy in, Roma dễ dàng thắng mọi cuộc chiến với dị giáo [11]. Mình nghĩ 1 phần là vì Kinh Thánh viết bằng tiếng Latin, bản chép tay ít và đắt, người đọc được chủ yếu là giới tu sĩ. Giáo hội giảng thế nào thì con chiên nghe thế ấy, giống người nông dân Lưỡng Hà đứng trước tấm bảng của thư lại.

Năm 1517, các luận đề của Luther được dịch sang tiếng Đức, in ra rồi chỉ trong 15 ngày đã có mặt khắp nước Đức [12]. Luther dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức, bản Tân Ước của ông có hơn 50 ấn bản chỉ trong khoảng 1522 tới 1529 [13]. Người buôn bán, người thợ biết chữ giờ tự đọc được Kinh Thánh bằng tiếng mẹ đẻ, đem đối chiếu được với lời cha xứ giảng. Người không biết chữ cũng nghe được, vì tờ rơi thường được đọc to giữa đám đông [14].

Sử gia Elizabeth Eisenstein cho rằng máy in thay đổi bản chất của văn bản. 1 người đọc ở Praha và 1 người đọc ở Lisbon giờ có thể bàn về cùng 1 văn bản gần như giống hệt nhau, vì họ cầm cùng 1 ấn bản [15]. Cái tính chỉ biết lặp lại 1 câu mà Socrates chê, giờ được nhân lên thành hàng nghìn bản giống hệt nhau ở khắp châu Âu.

IV - GIỮ QUYỀN ĐỌC TRONG TAY

Phía người nắm quyền thì lần nào chữ lan rộng ra cũng tìm cách giữ quyền đọc lại trong tay.

Eleanor Robson, nhà sử học người Anh chuyên về Lưỡng Hà, cho rằng chữ viết của Ai Cập, Lưỡng Hà và Trung Quốc đều to và phức tạp, có lẽ được giữ như thế để bảo vệ địa vị của những người đã thạo nó [16]. Làm chữ cho thật khó để người ngoài khó học, kể ra cũng là 1 cách giữ nồi cơm. Khi bảng chữ cái ra đời, chỉ vài chục ký tự, Gleick viết rằng nó không độc quyền được, cũng không dẹp được, vì trẻ con cũng học được [17].

Ở châu Âu thời Trung Cổ, tiếng Latin cũng làm như vậy. Boorstin viết rằng tiếng Latin kết nối giới học thức với nhau nhưng thành bức tường ngăn họ với dân chúng. Sinh viên đại học ra khỏi lớp cũng chỉ được nói tiếng Latin, có cả người rình để tố giác, những kẻ rình ấy có biệt danh là con sói. Ra khỏi lớp mà lỡ miệng nói tiếng mẹ đẻ là có ngay sói ghi tên [18].

Khi máy in làm bức tường ấy dần nứt vỡ, Vatican lập Danh mục Sách Cấm năm 1559 [19]. Vua Pháp Francis I còn quyết liệt hơn, ra lệnh cấm in sách trong cả vương quốc, ai vi phạm thì treo cổ. Anderson cho rằng lệnh ấy ban ra trong cơn hoảng loạn, rốt cuộc nó cũng không thi hành được [20]. Tới thế kỷ 18, nước Pháp nuôi gần 180 người kiểm duyệt và hàng nghìn chỉ điểm [21].

Kết quả thì chính người quản lý ngành sách của Pháp thời ấy, Malesherbes, phải thừa nhận: ai chỉ đọc những cuốn sách được nhà nước cho phép thì sẽ lạc hậu so với người cùng thời gần 1 thế kỷ [22]. Người trông coi việc cấp phép sách mà nói ra câu ấy thì cũng thật thà hiếm có.

V - CHỮ KHÔNG LÀM CÁI SAI THÀNH ĐÚNG

Máy in cũng in ra cả những thứ tai hại. Cuốn Malleus Maleficarum, 1 cẩm nang hướng dẫn xét xử và tra tấn người bị cho là phù thủy (săn phù thủy), được in lần đầu năm 1486 và tái bản liên tục tới năm 1669 [23]. Cuộc săn phù thủy ở châu Âu có khoảng 50.000 người bị hành quyết [24]. Luật Hammurabi thì viết ra rõ ràng. Trong sách mình đọc có đoạn: “người ưu tú làm mù mắt người ưu tú thì bị làm mù mắt, làm mù mắt 1 thường dân thì nộp 60 shekel bạc” [25].

Chữ viết không làm cái sai thành đúng. Luật Hammurabi bất công thì cái bất công ấy vẫn nằm nguyên trên mặt chữ, nhưng ai đọc được cũng thấy được nó.

Plato thì lo rằng người học chữ sẽ tỏ ra biết hết mà thực ra chẳng biết gì [26]. Sách Oxford cũng nhắc rằng in giống nhau chưa chắc đã đọc giống nhau, hiểu văn bản thế nào còn tùy người đọc [27].

VI - TỪ ĐỐT GIẤY TỚI IN BÁO

Quay lại chuyện đầu bài. Năm 1358, người nông dân đốt tờ giấy ghi nợ vì họ không đọc được nó. Năm 1789, người Paris đã được phổ cập kiến thức hơn nhiều, họ đọc được, nên họ không cần đốt nữa. Họ viết, in ra rồi tranh luận với nhau trên hàng trăm tờ báo.

Giữa 2 thời điểm ấy là mấy trăm năm chữ viết đi từ tay thư lại, tu sĩ ra tới tay đám đông. Suốt quãng thời gian ấy, mỗi lần chữ viết, kiến thức, tư duy lan rộng thêm 1 chút cũng có người tìm cách chặn lại, bằng danh mục sách cấm hay bằng người kiểm duyệt.

Người đàn ông vừa biết chữ trong thí nghiệm của Luria đã mở đầu câu trả lời bằng mấy chữ: theo lời anh nói thì.

P/S: Bài này mình đọc chủ yếu từ cuốn lịch sử sách có minh họa của Đại học Oxford và cuốn The Information của James Gleick. Bạn nào muốn đọc sâu thêm thì 2 cuốn ấy là đủ, đọc được tiếng Anh thì càng tốt, khỏi phải tin lời mình.

Nguồn:

[1] - The Oxford Illustrated History of the Book - James Raven chủ biên, chương 5 Medieval Western Europe của David Rundle. [2], [21], [22] - The Oxford Illustrated History of the Book, chương 9 Enlightenment and Revolution của Jeffrey Freedman. [3] - Sapiens: Lược sử loài người - Yuval Noah Harari, chương 7 Bộ nhớ quá tải. [4] - Ancestor of the West: Writing, Reasoning, and Religion in Mesopotamia, Elam, and Greece - Jean Bottéro, Clarisse Herrenschmidt, Jean-Pierre Vernant, phần Elamite Civilization and Writing của Clarisse Herrenschmidt. [5] - Guns, Germs, and Steel - Jared Diamond, chương 12 Blueprints and Borrowed Letters. [6] - Ancestor of the West, phần The First Writing của Jean Bottéro. [7], [9], [10], [17] - The Information: A History, A Theory, A Flood - James Gleick, chương 2 The Persistence of the Word. [8], [26] - The Discoverers - Daniel J. Boorstin, chương 60 The Lost Arts of Memory. [11], [12], [20] - Imagined Communities - Benedict Anderson, chương 3 The Origins of National Consciousness. [13], [14], [15], [19], [27] - The Oxford Illustrated History of the Book, chương 6 Renaissance and Reformation của James Raven và Goran Proot. [16] - The Oxford Illustrated History of the Book, chương 2 The Ancient World của Eleanor Robson. [18] - The Discoverers, chương 61 Empire of the Learned. [23] - The European Witch-Hunt - Julian Goodare, chương 2 Towards witch-hunting. [24] - The European Witch-Hunt, chương 1 Witchcraft!. [25] - Sapiens: Lược sử loài người, chương 6 Xây dựng những kim tự tháp.