Cuốn sách quốc ngữ đầu tiên in năm 1651, khoa thi chữ Hán cuối cùng là năm 1918, cách nhau 267 năm. Chữ dễ học thế, vậy mà phải đợi người Pháp bỏ thi chữ Hán và nhà nho đem nó đi dạy dân thì nó mới thay được chữ Hán.

I - CÁC CHA CẦN CHỮ ĐỂ GIẢNG ĐẠO

Năm 1615, mấy giáo sĩ của Hội Dòng Chúa Giêsu (Societas Iesu) (ở Việt Nam có sách gọi là Dòng Tên) đi tàu buôn Bồ Đào Nha từ Áo Môn (Ma Cao) tới Cửa Hàn ở Đà Nẵng, rồi vào ở Hội An [1]. Muốn giảng đạo thì phải học tiếng. Người Âu đầu tiên nói thạo tiếng Việt là cha Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, sang năm 1617. Ngày 15/12/1625, Pina chèo thuyền ra tàu Bồ Đào Nha lấy đồ lễ thì gặp bão lật thuyền. Ông mặc áo dài thụng nên không bơi vào bờ được, chết đuối ngoài biển Quảng Nam, còn người Việt chèo thuyền cùng ông thì bơi vào được [1].

Theo Nguyễn Văn Trung, các cha giảng cho người nghèo ở nông thôn, mà người nghèo thì không biết chữ Nho, chữ Nôm, nên phải có 1 thứ chữ để ghi lại những điều đã giảng [5]. Hoàng Xuân Việt còn chỉ ra chữ Nôm hồi ấy chưa thống nhất, 1 chữ có khi mấy cách viết, mấy cách đọc, học rất vất vả [6].

Cách làm thì đơn giản: các cha bắt chước những người cùng dòng ở Nhật, nơi từ năm 1591 đã có nhà in in sách tiếng Nhật bằng chữ cái La-tinh [1], [6]. Ở Nhật, ở Trung Hoa các cha cũng làm như vậy, mà chỉ ở Việt Nam thứ chữ ấy về sau mới thành chữ của cả nước [5].

Lúc mới có, chữ viết theo tai người Bồ, viết liền tù tì, không có dấu. Người Việt gọi Hội An là Hải Phố, người Nhật đọc thành Hoaipho, các cha nghe rồi viết ra đủ kiểu: Haifo, Faifo, Fayfo, Faiso, Taifò. Trong thư tay những năm 1621 đến 1626, “Ông Nghè” viết thành Ungue, “xin một cái” thành scin mocaij, “vua” thành Bũa. Riêng chữ “Ông Nghè”, mỗi cha viết 1 kiểu, cả chục kiểu khác nhau.

Người thông ngôn muốn hỏi ai đó có theo đạo không thì nói: “con gnoo muon bau tlom laom Hoalaom chiam”, tức là “con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng”. Dân hồi ấy gọi đạo Công giáo là đạo Hoa Lang, vì người Bồ sang bán thứ vải in hoa [1].

Cha Gaspar d’Amaral soạn cuốn từ điển Việt Bồ, cha Antonio Barbosa soạn cuốn Bồ Việt, cả 2 đều viết tay. Năm 1632 Amaral đã ghi tiếng Việt đúng hơn hẳn cha Alexandre de Rhodes (ở Việt Nam có sách gọi là Đắc Lộ) [1].

Rhodes tới Đàng Trong cuối năm 1624, học tiếng với Pina và với 1 cậu bé 13 tuổi. Theo lời ông, chỉ sau 3 tuần ông đã phân biệt được các thanh của tiếng Việt, cũng là nhờ cậu bé ấy. 4 tháng sau ông đã nghe được người ta xưng tội, thêm 6 tháng nữa thì giảng được bằng tiếng Việt [2]. Năm 1651, Tòa Thánh bỏ tiền in ở La Mã 2 cuốn sách của ông: cuốn Từ Điển Việt Bồ La và 1 cuốn sách giảng đạo. Lời tựa từ điển ghi rõ ông dựa vào 2 cuốn viết tay của Amaral và Barbosa [1].

Nhà in ở La Mã chưa có sẵn con chữ Việt, phải đúc con chữ mới. Thợ sắp chữ thì không biết tiếng Việt. Sách in ra cũng chẳng biết bán cho ai. Bộ Truyền Giáo (Propaganda Fide, cơ quan lo việc truyền đạo của Tòa Thánh) đứng ra chịu hết tiền in. Cuốn từ điển lúc đầu chỉ có 2 thứ tiếng Việt và Bồ, phần La-tinh là do các Hồng y bảo thêm vào. Tháng 10/1651, các Hồng y còn ra lệnh cho nhà in ngừng mọi việc khác để in cho xong cuốn sách giảng đạo [2].

Bản viết tay của Amaral và Barbosa về sau thất lạc, chỉ còn sách in mang tên Rhodes, nên Rhodes được ghi công phát minh chữ quốc ngữ. Năm 1941, chính các hội của người Việt dựng bia ghi công ông bên Hồ Gươm [4]. Cha Đỗ Quang Chính, người đã đọc thư tay của các giáo sĩ thời ấy, viết rằng ông “không phải là người đầu tiên sáng tác chữ quốc ngữ” [2].

Chữ trong bản in 1651 đã có dấu mà người bây giờ đọc vẫn thấy lạ hoắc. Sách giảng đạo mở đầu: “ta cầu cũ đức chúa blời giúp sức cho ta…”, tức là “ta cầu cùng Đức Chúa Trời” [4].

II - HƠN 200 NĂM QUANH NHÀ THỜ

Sau năm 1651, suốt hơn 200 năm, chữ quốc ngữ chỉ dùng để in sách đạo, người đọc là giáo dân [5]. Văn bản quốc ngữ đầu tiên do người Việt viết mà còn giữ được là mấy lá thư năm 1659 của 2 người theo đạo, Văn Tín và Bento Thiện. Văn Tín ghi ngày cuối thư: “muờy hay thánh chinh … một nghìn sáu tram nam muơy chinh”, tức ngày 12/9/1659. Ông chỉ ký 2 chữ Văn Tín, họ ông là gì, quê ở đâu, năm ấy bao nhiêu tuổi, đến nay không ai biết.

Sổ ghi tên các thầy giảng Đàng Ngoài năm 1637 cũng không có tên ông. Bento Thiện thì có lẽ là người tên Bento trong sổ ấy, sổ chỉ ghi tên thánh, không ghi tên Việt. Năm 1659, ông viết tay cả 1 tập Lịch Sử Nước Annam bằng quốc ngữ [3].

Ông Nguyễn Văn Xuân từng hỏi sao thời nước ta còn độc lập, trí thức không ai để ý tới thứ chữ dễ học ấy. Bạn phải hình dung là hồi đó chữ Nôm đang thịnh, giấy tờ từ dưới làng lên tới vua chúa đều dùng. Đặt cạnh chữ Nho, chữ Nôm, thứ chữ của các cha “dễ viết nhưng không dễ hiểu”, vì nó chỉ ghi âm mà không ghi nghĩa. Nói nôm na, viết “giây” ra thì người đọc chịu, không biết là sợi dây hay dây dưa [5].

2 chữ quốc ngữ vốn là tên người Việt gọi tiếng nói và chữ Nôm của mình, cho khác chữ Hán. Giáo dân gọi thứ chữ La-tinh là Tây quốc ngữ, lâu dần bỏ chữ Tây đi [7].

Hơn 100 năm sau Rhodes, giám mục Bá Đa Lộc cùng 1 nhóm cộng sự, trong đó có Hồ Văn Nghi, soạn cuốn Từ Điển Annam Latinh, đề năm 1772. Cuốn từ điển ấy đã bỏ hẳn những phụ âm kép như bl, tl, ml, mà chưa bao giờ được in, bản viết tay còn bị cháy mất 1 phần năm 1778 ở Cà Mau. Năm 1838, cuốn từ điển của giám mục Jean-Louis Taberd in ra, người cùng làm là Phan Văn Minh. Theo Hoàng Xuân Việt, chữ phải qua 3 lần chỉnh sửa như thế, gắn với 3 cuốn từ điển 1651, 1772 và 1838, mới thành chữ ta dùng ngày nay [6].

Lúc người Pháp tới Nam Kỳ, chữ quốc ngữ đã hơn 200 tuổi mà chỉ có giáo dân dùng, chừng 1% dân trong Nam [7].

III - NGƯỜI PHÁP ÉP BUỘC, DÂN KHÔNG THEO

Năm 1862, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Quan lại bỏ đi, mang theo sổ sách. Người Pháp phải cai trị 1 xứ mà giấy tờ nào cũng viết bằng chữ Hán, họ không đọc nổi, thông ngôn thì họ không tin tưởng [7]. Chữ La-tinh viên chức Pháp học vài tháng là đọc được.

Ông Paulin Vial, chánh văn phòng thống đốc Nam Kỳ, về sau còn viết rằng quốc ngữ đã cho phép họ “cô lập Nam Kỳ khỏi Trung Kỳ và khỏi Trung Hoa”. Giám mục Puginier ở Bắc Kỳ thì viết rằng bỏ chữ Hán, thay trước bằng quốc ngữ rồi sau bằng tiếng Pháp, là cách “rất chính trị, thiết thực và hiệu quả” để lập nên 1 nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông [7]. Tức là quốc ngữ chỉ là cái thang để bắc sang tiếng Pháp.

Tờ Courrier de Saigon ngày 10/2/1864 đăng chuyện mấy ông quan trong đoàn sứ bộ Huế vào Sài Gòn. Các ông đứng nghe 1 đứa trẻ mới học trường Pháp được vài tháng, vớ cuốn sách nào cũng đọc vanh vách, sách tiếng An Nam mà in bằng chữ Tây. Người kể tả các ông nghe với vẻ “kinh ngạc lẫn bực bội không giấu nổi” [7].

Người Pháp mở trường dạy quốc ngữ. Khoảng 10 năm sau, ông Luro, giám đốc trường Hậu Bổ ở Sài Gòn (trường dạy viên chức cai trị), báo cáo rằng chữ La-tinh “không bắt rễ trong dân chúng”. Trẻ con học 3 tháng là đọc được công báo, về nhà thì cha mẹ “khinh bỉ cái hiểu biết con vẹt của nó”. Ở làng Công giáo thì trẻ học chăm chỉ mà chẳng cần ai ép, vì “đứa trẻ Công giáo không tập đọc trong công báo, nhưng tập đọc trong phúc âm”. Nó mua được sách các cha in, buổi tối về đọc cho cả nhà nghe [5].

Dạy không ăn thua, người Pháp quay sang ép buộc. Nghị định ngày 6/4/1878 bắt giấy tờ hành chính phải viết bằng chữ quốc ngữ, đến năm 1882 thì áp cho toàn Nam Kỳ [5]. Ngặt nỗi phép vua thua lệ làng, nhà nho thì phản đối ra mặt. Hương chức trong làng đến xin cho con trai Nguyễn Đình Chiểu đi học quốc ngữ, cụ gắt lên: “tôi vì đâu mà phải đến góc biển chân trời này, các ông sao lại còn đem chuyện đó mà nói cùng tôi” [5].

Theo ông Phạm Quỳnh, có 1 nhà nho đầu óc cởi mở hẳn hoi, mỗi lần giở sách vần quốc ngữ ra học là phải chui vào 1 góc khuất trong nhà, cấm không cho ai vào, vì sợ nhục. Các cuộc khởi nghĩa thời ấy không để lại tờ giấy nào viết bằng quốc ngữ, hịch hay thư từ đều viết chữ Hán, chữ Nôm. Suốt 40 năm đầu, cả nước chỉ có đúng 5 tờ báo quốc ngữ, đều ở Nam Kỳ [7].

Năm 1904, cả Nam Kỳ có không quá 30.000 học sinh ở mọi cấp, sau hơn 40 năm Pháp cai trị mà học trò vẫn lèo tèo như thế. Tháng 5/1907, ông Rodier, cựu phó thống đốc Nam Kỳ, khai trước 1 ủy ban của nghị viện Pháp: “chúng ta đang tạo ra những người mù chữ” [7].

Ra tới Bắc Kỳ thì người Pháp cứ đổi quan là đổi ý. Năm 1886, Paul Bert mở lớp cho các thầy đồ ở Hà Nội. Thầy viết 1 chữ Hán, bên dưới ghi cách đọc bằng quốc ngữ, rồi từ quốc ngữ dắt sang tiếng Pháp. Chưa đầy 1 tháng đã có hơn 120 thầy đồ ghi tên, chiêu này ăn tiền theo đúng nghĩa đen, vì học trò thi đỗ tiếng Pháp thì thầy được thưởng tiền. Theo bài của nhà báo Paul Bourde trên tờ Le Temps năm 1889, có những ông giáo hôm trước vừa được khen vì dạy quốc ngữ, vài tháng sau quan quay xe, lôi ra đánh gậy, cũng vì dạy quốc ngữ [7].

Người Việt hồi ấy coi quốc ngữ là chữ của Tây và của những người theo Tây. Người dạy thứ chữ ấy là ông cố đạo với ông thông ngôn.

IV - NHÀ NHO CẦM LẤY CHỮ

Quãng năm 1905, phong trào Cần Vương đã thua. Các nhà nho duy tân thấy muốn cứu nước thì dân phải biết chữ, mà chữ Hán thì khó học quá. Cụ Phan Châu Trinh đi diễn thuyết rằng không bỏ chữ Hán thì không cứu được nước Nam. Cụ gọi quốc ngữ là sự sống lại của tiếng nước mình [7].

Theo Nguyễn Văn Trung, việc học quốc ngữ lan từ Nam ra Trung rồi ra Bắc là nhờ phong trào Duy Tân và các nghĩa thục [5]. Tháng 3/1907, Đông Kinh Nghĩa Thục mở ở Hà Nội, có 400 đến 500 học trò, dạy quốc ngữ không lấy tiền. Câu thơ của trường chắc nhiều bạn còn thuộc: “chữ quốc ngữ là hồn trong nước / Phải đem ra tính trước dân ta”. Nguyễn Văn Vĩnh thì viết: “nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ quốc ngữ” [7].

Chính các cụ lại chả quen viết quốc ngữ mấy. Cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh đều viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm rồi nhờ người chuyển sang. Thành ra các cụ dùng chữ Hán để kêu gọi bỏ chữ Hán [7].

Tháng 1/1908, Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa khi chưa đầy 1 năm tuổi, gần hết các sĩ phu duy tân ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ bị bắt [7]. Đóng trường xong, người Pháp làm y chang những việc trường ấy đã làm: ra báo quốc ngữ, mở trường ấu học dạy quốc ngữ. Nguyễn Văn Trung viết rằng Pháp dùng gần như trọn chương trình của Đông Kinh Nghĩa Thục “nhưng lật ngược lại mục đích” [5].

Năm 1913 có Đông Dương Tạp Chí, năm 1917 có Nam Phong, mà người đứng ra lập Nam Phong là Louis Marty, trùm mật thám Đông Dương. Chính quyền còn khuyên các làng mua báo, kiểu đặt báo theo chỉ tiêu bây giờ. Tháng 8/1927, cụ Huỳnh Thúc Kháng ra tờ Tiếng Dân ở Huế, ngay trong tháng ấy chính quyền cũng cho ra 1 tờ quốc ngữ khác để đối lại [7]. 2 bên chống nhau mà cùng in sách báo bằng 1 thứ chữ, thế là chữ lan ra khắp nước.

Năm 1938, Hội Truyền Bá Quốc Ngữ xin được giấy phép, chính quyền ngờ vực nên không cho hội mở rộng, vậy mà hội vẫn dạy được 50.000 người. Sau tháng 9/1945, phong trào Bình Dân Học Vụ mở ra, đến cuối năm 1946 đã có 2,7 triệu người biết đọc biết viết. Sử gia Joseph Buttinger nhận xét, chiến dịch ấy trong 1 năm làm được nhiều hơn những gì người Pháp “đã làm được, hay nói đúng hơn là đã buồn làm, trong hơn 60 năm” [7].

Mùa xuân 1946, Hà Nội có 120 tờ báo. Cũng trong 1 năm ấy, trường đại học ở Hà Nội đổi từ dạy bằng tiếng Pháp sang dạy bằng tiếng Việt. Có giáo sư soạn 1 bài giảng bằng tiếng Pháp chỉ mất vài giờ, ngồi dịch nó ra tiếng Việt mất mấy ngày [7].

V - VÌ SAO NÓ THAY ĐƯỢC CHỮ HÁN

Ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ, đến đầu thế kỷ 20 chữ Hán vẫn là chữ của giấy tờ, thư từ. Vua Khải Định tới Trường Đại Học Hà Nội còn đọc diễn văn bằng chữ Hán. Theo Hoàng Xuân Việt, phải sau năm 1915 chữ Hán, chữ Nôm mới thật sự lụi đi [6]. Khoa thi chữ Hán cuối cùng là năm 1918 [4]. Thi không còn thì mười mấy năm đèn sách chữ Hán coi như đổ sông đổ biển, hết đường làm quan.

Theo Nguyễn Văn Trung, chữ quốc ngữ thắng được chữ Nho, chữ Nôm “không phải vì nó vô cùng tiện lợi hơn”, mà chủ yếu vì người Pháp dùng quyền cai trị mà ép buộc. Ông còn đặt giả thử, nếu nước ta không bị Pháp đô hộ thì chưa chắc quốc ngữ đã thay được, vì người ta sẽ tìm cách cải tiến chữ Nôm cho đơn giản mà dùng tiếp, như Nhật Bản, Triều Tiên vẫn giữ chữ của mình [5].

Theo mình thì ép buộc thôi chưa đủ. Ở Nam Kỳ, Pháp ép buộc từ năm 1878, gần 30 năm sau cả xứ vẫn chưa tới 30.000 học sinh, nhà nho vẫn coi học quốc ngữ là nhục. Chữ chỉ lan ra khi người Việt tự đem nó đi dạy nhau, từ Đông Kinh Nghĩa Thục tới Bình Dân Học Vụ, đúng lúc người Pháp đã bỏ chữ Hán khỏi giấy tờ và thi cử.

Năm 1890, khi các nhà nho còn coi học quốc ngữ là chuyện nhục, Étienne Aymonier, giám đốc Trường Thuộc Địa ở Paris, đã viết để can chính phủ mình. Ông bảo nếu thứ chữ này làm cho người Việt có được 1 tiếng nói quốc gia thật sự, thì nó sẽ là “vũ khí nguy hiểm nhất trong tay những người Việt yêu nước thù địch với nước Pháp” [7].

Nguồn:

[1] - Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659 - Đỗ Quang Chính, chương 2 Sơ lược giai đoạn hình thành chữ quốc ngữ (1620-1648). [2] - Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659 - Đỗ Quang Chính, chương 3 Linh mục Đắc Lộ soạn thảo và cho xuất bản hai sách chữ quốc ngữ đầu tiên năm 1651. [3] - Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659 - Đỗ Quang Chính, chương 4 Tài liệu viết tay năm 1659 của hai người Việt Nam. [4] - Hành Trình Chữ Viết - Lê Minh Quốc, mục hỏi đáp về sự hình thành chữ quốc ngữ, bia kỷ niệm Alexandre de Rhodes và chữ Hán trên đất nước ta. [5] - Chữ, Văn Quốc Ngữ Thời Kỳ Đầu Pháp Thuộc - Nguyễn Văn Trung, phần mở đầu, các mục về nghị định 6.4.1878, phúc trình của Luro, thái độ của Nguyễn Đình Chiểu, Đông Kinh Nghĩa Thục và mục vì sao chữ quốc ngữ thắng chữ nho, chữ nôm. [6] - Tìm Hiểu Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ - Hoàng Xuân Việt, Lời nói đầu, mục Bối cảnh quốc tế, mục Từ điển Annam-Latinh (1772) và mục Chữ Quốc ngữ và báo chí. [7] - Colonialism and Language Policy in Viet Nam - John DeFrancis, chương 4 French colonialism (1861-1945) và chương 5 National independence (1945-Present). Các lời trích của người Pháp đều dịch từ bản tiếng Anh của DeFrancis.