Năm 1873 ở cảng Pak Hoi (Bắc Hải, Quảng Đông), linh mục Delavay của Hội Thừa sai Paris chuộc lại mấy đứa trẻ Việt bị bắt cóc sang Tàu. Trong thư gửi về, ông ghi giá từng đứa: Anna 14 tuổi 36 đồng, Maria 14 tuổi 40 đồng, Martha 11 tuổi 32 đồng, 1 bé Maria khác 5 tuổi và Paula 7 tuổi mỗi đứa 25 đồng. 2 bé trai rẻ hơn, 15 và 10 đồng. Cũng theo ông, riêng 1 tháng năm đó có hơn 200 người Việt bị chở tới Pak Hoi [1].
54 năm sau ở Hà Nam, Nam Định, người Việt vẫn được tính tiền theo đầu. Lần này người thu tiền là cai mộ phu cho đồn điền cao su Nam Kỳ, giao được 1 người cho chủ Pháp thì ăn 2 đồng [2]. Kẻ bán 5 đứa bé ở Pak Hoi bị chính quyền thuộc địa truy bắt. Ông cai năm 1927 thì làm việc có giấy phép.
Mỗi chuyện trên đã có sách riêng, mà chưa cuốn nào đặt các hồ sơ này cạnh nhau. Micheline Lessard viết về buôn người mà không bàn tới hợp đồng phu hay trẻ lai. Christina Firpo viết về trẻ lai mà không so với đường dây bán người sang Tàu. Peter Zinoman viết về nhà tù thì Phú Riềng chỉ xuất hiện trên bản đồ. Mình đọc chung 5 cuốn về buôn người, mộ phu, tù khổ sai, trẻ lai và tội lang thang, thì thấy chính quyền thuộc địa chưa bao giờ phản đối chuyện chở người Việt đi. Nó chỉ quan tâm ai là người chở.
I - BUÔN NGƯỜI: LO VÌ MẤT UY TÍN
Lessard gom thư từ của giáo sĩ, sĩ quan, lãnh sự và quan cai trị từ thập niên 1870 tới thập niên 1930. Phụ nữ và trẻ em bị bắt ở Nam Định, Hải Phòng, Hòn Gai rồi chở sang Pak Hoi, Quảng Châu, Hong Kong, Ma Cao. Năm 1887 giám mục Colomer ước tính số nạn nhân khoảng 15.000 người. Năm 1880 trung úy Gros-Desvaud trên pháo hạm Massue chặn 1 ghe buôn và tìm thấy 44 phụ nữ, trẻ em bị giấu dưới khoang, 3 người đã chết ngạt trên đường đi [3].
Giấy tờ Pháp đổ lỗi gần hết cho người Hoa, cho giặc cướp và cho các gia đình nghèo bán con. Lý do chính quyền lo cũng được ghi thẳng trong giấy tờ. Năm 1912 Thống sứ Bắc Kỳ viết cho Toàn quyền rằng các vụ bắt cóc làm tổn hại uy tín nước Pháp, vì dân An Nam bắt đầu nghĩ Pháp bất lực. Ông còn kể nghe lỏm được 1 ông lão đánh cá than thở rằng bọn nó cướp đàn bà, giết con nít, chính phủ bắt thì ở tù ít bữa rồi thả ra, tụi nó lại làm tiếp [4].
Cũng trong chồng hồ sơ đó có những chỗ Pháp nhúng tay. Năm 1891 tòa sứ Pháp cấp giấy thông hành cho khách Hoa, trên giấy ghi đi cùng các con, và bọn buôn người dùng đúng loại giấy này để chở bé gái đi. Năm 1906 Toàn quyền cho rằng vụ việc không thể xảy ra nếu không có tay trong trong đám nhân viên canh gác và cảnh sát cảng. Nghị định 1883 tuyên bố việc mua bán trẻ em là vô hiệu mà không kèm hình phạt nào. Nhà thổ có đăng ký thì được nhà nước thuộc địa cho phép và thu lợi, trong khi nhà thổ nào cũng cần nguồn gái mới đều đặn [3].
1 báo cáo của hội truyền giáo năm 1873 tả cảnh người Việt bị bắt cóc, bị cạo nửa đầu, tết đuôi sam, rồi khai là phu Tàu tự nguyện ký giao kèo để chở sang Havana, California [1]. Hồi đó bọn buôn người đã biết lấy tờ hợp đồng che cho việc bắt người.
II - MỘ PHU: VẪN TRÒ LỪA CŨ, NAY CÓ CON DẤU
Theo David Marr trong lời giới thiệu hồi ký của Trần Tử Bình, số phu giao kèo ở đồn điền cao su miền Nam tăng từ 3.022 người năm 1922 lên 30.637 người năm 1930. Riêng năm 1927 có 17.606 người vào Nam, trong đó có Trần Tử Bình, sinh năm 1907, vừa bị đuổi khỏi chủng viện. Báo cáo gửi Bộ Thuộc địa ghi 17% phu ở Phú Riềng chết ngay trong năm 1927, Marr cho rằng con số này có lẽ còn thấp [5].
Tờ quảng cáo hứa 3 năm là mãn hạn, có tàu chở về, ngày 3 bữa có thịt bò, cá, trước khi đi được ứng 10 đồng. Tới lúc lấy tiền ứng thì phu Nam Định, Thái Bình chỉ còn nhận 6 đồng. Nhiều người không biết chữ bị lừa theo kiểu này: cai bảo phải chụp hình nộp cho nhà nước để sau này có chuyện thì nhà nước giúp, chụp xong đưa tờ giấy bảo điểm chỉ để lấy hình. Tờ đó là hợp đồng in sẵn. Trần Tử Bình viết rằng họ đã bán đời mình và tự do của mình cho chủ tư bản mà không hay [6].
Tàu cập bến Khánh Hội thì cai cầm roi đếm đầu, lùa lên bờ như lùa trâu bò. Trại tiếp nhận có rào kẽm gai và lính gác. Tới Phú Riềng, mỗi người được phát 1 thẻ gỗ khắc số đeo trước cổ như số tù. Cai Valentin đá chết đốc công Nguyễn Văn Chánh, tòa Biên Hòa xử phạt 5 đồng bồi thường cho vợ nạn nhân [7].
Tết năm 1930 phu Phú Riềng đình công và đốt hợp đồng. Lúc ra tòa, chánh án kết tội họ vi phạm hợp đồng vì không chịu làm việc, như vậy là phá rối trị an. Trần Tử Bình lãnh 5 năm Côn Lôn [8]. Theo chính quyền, người phu bị lừa điểm chỉ vào giấy là đã tự nguyện ký, nên bỏ trốn khỏi đồn điền là phạm luật.
III - TÙ NHÂN: ĐỨNG NGOÀI LUẬT LAO ĐỘNG
Peter Zinoman chỉ ra 1 chỗ khác nhau giữa chính quốc và thuộc địa. Ở Pháp lao động tù được coi là cách cải tạo phạm nhân, ở Đông Dương nó chỉ được tính như 1 nguồn nhân công. Luật lao động Đông Dương không áp dụng cho tù, nên tù bị đưa lên những vùng cao sốt rét, nơi tỉ lệ chết cao tới mức không mộ được phu làm công [9].
Tù còn được cho công ty tư nhân thuê. Năm 1895 hơn 600 tù Bắc Kỳ làm mỏ than cho Société nouvelle de Kế Bào, làm 7 ngày 1 tuần, trái cả quy chế nhà tù. Từ tháng 12/1897 tới tháng 3/1898 có 161 người chết. Năm 1931 có 135 tù Kon Tum chết trong 6 tháng làm đường số 14. Cùng năm đó 523 tù Đông Dương đi tàu 35 ngày sang vùng Inini ở Guyane để mở đất [9].
Sau vụ đình công, Mạnh Hồng, 17 tuổi, bị đưa vào trại thiếu niên Ông Yệm, nơi trẻ tù cũng phải phát rừng trồng cao su [8]. Đám phu Phú Riềng bị bắt ra tòa rồi quay lại phát rừng cao su, lần này dưới danh nghĩa phạm nhân.
IV - TRẺ LAI: TÁCH CON KHỎI MẸ BẰNG NGHỊ ĐỊNH
Christina Firpo ước tính từ đầu thời thuộc địa tới hết chiến tranh Việt Nam có hơn 10.000 trẻ lai đi qua các cơ sở bảo trợ. Luật Pháp năm 1889 về tước quyền làm cha được đem sang Đông Dương năm 1890. Năm 1942 toàn quyền Decoux, khi đề nghị rút gọn thủ tục, gọi luật này là luật tước quyền làm mẹ [10].
Cơ sở pháp lý là trẻ bị bỏ rơi. Vậy mà ngay trong hồ sơ, Khâm sứ Trung Kỳ viết cho Toàn quyền rằng ở xứ này trẻ lai bị bỏ rơi thực ra không có. Trẻ đang ở với mẹ trong môi trường Việt, Miên, Lào vẫn bị tính là bị bỏ rơi về mặt tinh thần. 1 thành viên quỹ Jules Brévié, linh mục Dupont, viết: “phải giật chúng khỏi tay mẹ từ lúc 3 tuổi” [10].
Năm 1940 cảnh sát gọi bà Đỗ Thị Mao lên làm việc, kỳ thực là để bắt đứa con trai. Trẻ bị đổi tên, anh em bị chia ra các nơi khác nhau. Mẹ muốn chuộc con về phải trả toàn bộ chi phí nuôi. Mẹ cậu Antoine bị đòi 4.840 đồng, trả không nổi nên cậu phải quay lại trại. Năm 1965 thanh tra y tế Pháp Nafissa Sid Cara gọi khoản đó là tiền chuộc. Sau 1954 trẻ bị đưa sang Pháp hàng loạt, 1 người kể lại mình bị còng tay dẫn lên máy bay, bị gửi đi như bưu kiện [10].
Chính quyền còn lấy lời đồn buôn người làm lý do lấy trẻ. Năm 1904 có người báo rằng 1 bà mẹ sắp bán 2 con gái lai. Người cung cấp tin cho rằng đứa lớn 14 tuổi coi như đã hư hỏng rồi, khuyên nhà chức trách cứ để bà ta bán nó, như vậy mới có cớ bắt đứa em 12 tuổi [10].
V - TỰ ĐI THÌ THÀNH TỘI LANG THANG
3 nhóm trên đều bị chở đi. Cuốn của Haydon Cherry cho thấy người nghèo tự bỏ làng đi thì bị bắt. Từ 1884 thẻ thuế thân ở Nam Kỳ kiêm luôn thẻ căn cước, có in dấu tay. Đàn ông từ 18 tới 60 tuổi phải đóng thuế thân, năm 1913 tính cả phụ thu thì mỗi suất là 5,85 đồng. Không có thẻ, không nghề, không chỗ ở là phạm tội lang thang. Nhà lao trung ương Sài Gòn ghi 17 vụ lang thang năm 1879. Năm 1900 có 2.639 lượt vào tù vì trộm vặt và lang thang. Riêng năm 1914 tòa án Nam Kỳ xử 1.528 người tội lang thang, ăn xin [11].
Năm 1914 Trần Văn Lang tới Vĩnh Long tìm việc. Mới được 6 ngày thì bị hiến binh bắt vì không có thẻ thuế, trong túi có 0,20 đồng. Năm 1913 ông Lê Văn Bội, què 1 chân, từ Nha Trang vào Sài Gòn xin ăn quanh Tân Định, bị cảnh sát đề nghị trục xuất về Trung Kỳ. Thống đốc Nam Kỳ duyệt. Hồ sơ không ghi ông ra sao sau đó [11].
VI - ĐẶT CẠNH NHAU
Ghi lại các con số theo đồng bạc Đông Dương: 25 đồng cho 1 bé gái 5 tuổi ở Pak Hoi năm 1873. 2 đồng tiền cò cho mỗi phu giao cho chủ đồn điền năm 1927. 5 đồng bồi thường cho mạng 1 đốc công ở Phú Riềng. 4.840 đồng cho 1 bà mẹ muốn chuộc con từ trại trẻ lai. 5,85 đồng thuế thân mỗi năm, thiếu thẻ thì đi tù.
Chính quyền thuộc địa phân loại mọi cuộc di chuyển trên theo 1 tiêu chí, là tiền và giấy tờ có đi qua tay nó hay không. Người Hoa chở gái sang Pak Hoi là tội phạm, vì tiền không về tay Pháp và vì mất uy tín. Ông cai lừa nông dân điểm chỉ vào tờ hợp đồng là hợp pháp. Nhà nước cho công ty mỏ thuê tù là hợp pháp. Tước con khỏi tay mẹ theo nghị định cũng hợp pháp. Người nghèo tự đi tìm việc mà không có thẻ thì vào tù.
P/S: Firpo dùng tên giả cho phần lớn nhân vật để bảo vệ gia đình họ, bài này giữ nguyên tên như trong sách.
Nguồn:
[1] - Human Trafficking in Colonial Vietnam - Micheline Lessard, chương 1. [2] - The Red Earth: A Vietnamese Memoir of Life on a Colonial Rubber Plantation - Trần Tử Bình, bản dịch John Spragens, chương A Fork in the Road. [3] - Human Trafficking in Colonial Vietnam - Micheline Lessard. [4] - Human Trafficking in Colonial Vietnam - Micheline Lessard, chương 4. [5] - The Red Earth - Trần Tử Bình, lời giới thiệu của David Marr. [6] - The Red Earth - Trần Tử Bình, chương The Road into Hell. [7] - The Red Earth - Trần Tử Bình, chương Hell on Earth. [8] - The Red Earth - Trần Tử Bình, chương The Hour before the Storm. [9] - The Colonial Bastille: A History of Imprisonment in Vietnam, 1862–1940 - Peter Zinoman. [10] - The Uprooted: Race, Children, and Imperialism in French Indochina, 1890–1980 - Christina Firpo. [11] - Down and Out in Saigon: Stories of the Poor in a Colonial City - Haydon Cherry.