Bà Lệ năm 2026 đã 80 tuổi, cả đời không biết chữ, nhưng có 1 chữ bà tự tập viết cho bằng được, viết đầy hết trang này qua trang khác, chỉ đúng 1 chữ, là tên người đàn ông bà chờ 58 năm. Ông tên Quên.

Ông Huỳnh Văn Quên là người thương của bà, lính tiểu đoàn 1 Long An, đi vào nội đô đánh Mậu Thân 1968 rồi bặt tin luôn từ đó. Trước lúc đi ông hẹn đánh xong trận này về cưới. Bà chờ, chờ tới mức không lấy ai nữa, tự tìm tới nhà mẹ ông xin được làm con dâu, gần 50 năm nay vẫn về lo giỗ chạp cho cha mẹ ông như con dâu thật trong nhà, dù đám cưới thì chưa từng có.

Người đã mất mấy chục năm, xương lẫn vào đất cả rồi, thì 1 ngôi mộ hay 1 cái ngày biết chắc thay đổi được gì? Vậy mà bà Lệ, và gần 300.000 gia đình khác, chờ bằng được cái ngày đó tới gần trọn 1 đời.

I - NGƯỜI PHỤ NỮ CHỜ 58 NĂM

Hai người quen nhau giữa những năm 1960 ở Long An, hồi đó bà chừng 20, ông kém bà 2 tuổi. Bà đi dân công, vá áo tiếp tế cho tiểu đội của ông, rồi thương nhau. Khoảng 1967 đơn vị ông nhận lệnh chuyển vào Sài Gòn chuẩn bị cho Mậu Thân, trước giờ đi ông mới ngỏ lời, đánh thắng trận này về ra mắt ba má rồi cưới. Trận đó là trận đánh khu cầu Chữ Y đầu 1968, thư từ chiến trường của ông bặt hẳn sau Tết, tới 1977 gia đình mới nhận giấy báo tử.

Bà không lấy ai. Bà tự tìm tới nhà mẹ ông xin được nhận làm con dâu, thay ông giữ phần hiếu nghĩa. Mẹ ông cảm động nhận bà, trao cho đôi bông tai ngọc với chiếc nhẫn vàng làm quà cưới muộn, bà đeo ở ngón áp út từ đó. Bà nhận 1 đứa con nuôi, theo lời chị con nuôi thì là để người ta biết mẹ đã có chồng có con. Bà có 1 câu mà báo nào cũng dẫn: “tôi hứa với ai là chỉ 1 người, dù chết hay sống cũng 1 người”.

Đầu tháng 7/2026, khi đào quy tập ở Công viên Lê Thị Riêng giữa Sài Gòn, chỗ trước kia là nghĩa trang Đô Thành từng chôn tập thể nhiều liệt sĩ và đồng bào sau Mậu Thân, người ta tìm được 1 bộ hài cốt kèm mẩu giấy còn đọc được tên Huỳnh Văn Quên. Nhưng tới giữa tháng 7/2026, lúc mình viết bài này, vẫn chưa chắc đó có đúng là ông hay không. Còn phải chờ kết quả ADN đối chiếu với 2 người em trai ông ở Tây Ninh, dự kiến cuối tháng 7 mới có, giấy tờ lại có chỗ ghi Quên chỗ ghi Quyên nên càng phải chờ cho chắc.

Nghĩa là sau 58 năm, bà vẫn đang chờ. Bà mặc sẵn áo đẹp, dặn mấy người em có kết quả là bà lên đón ông về liền. Ngày 13/7 bà nhờ người dìu từng bước vào công viên thắp cho các liệt sĩ ở đó nén nhang, lần đầu đặt chân tới nơi được cho là đã chôn người mình chờ cả đời. Cái chờ 58 năm chưa xong, giờ lại thêm 1 cái chờ nữa, chờ xem có đúng là ông không.

II - CÁI MẤT MÀ KHÔNG CHẮC LÀ MẤT

1 người thân hy sinh, có xác, có mộ, thì ai cũng hiểu là đau thối ruột nhưng nỗi đau đó có hình hài: mình khóc được, chôn được, làm giỗ được, rồi năm tháng nó cũng nguôi dần. Còn 1 người mất mà chưa thấy xác, chưa biết chắc nằm đâu, thậm chí chưa dám chắc là đã mất, thì nỗi đau đó không khép lại được, nó cứ mơ hồ, treo lơ lửng.

Nhà tâm lý học Pauline Boss nghiên cứu kiểu mất này và dùng chữ mất mơ hồ (ambiguous loss). Bà cho rằng đây là kiểu mất khó chịu đựng vào bậc nhất, vì nó thiếu đúng cái rõ ràng mà lòng người cần để khép lại 1 nỗi đau. Đầu óc con người muốn xếp mọi thứ vào chỗ của nó, còn hay mất, về hay không về, nhưng ở đây thì không xếp vào đâu được, nên nó cứ dập dềnh giữa hy vọng và tuyệt vọng, hết năm này qua năm khác, cái đau như bị đóng băng lại. Những người rơi vào cảnh này không phải bị bệnh gì, cái trục trặc nằm ở hoàn cảnh chứ không nằm ở họ, đặt ai vào đó cũng vậy thôi.

Mình đọc được 1 trường hợp ở ngoài Bắc. Ông Bảy có anh trai là liệt sĩ, mấy chục năm không biết anh nằm đâu. Lúc vào nghĩa trang, đứng trước dãy mộ khắc chữ “liệt sĩ chưa xác định được thông tin”, ông không biết anh mình là mộ nào, chỉ biết thắp nén hương khấn cho anh linh thiêng phù hộ để tìm ra. Suốt mấy năm trời ông giữ khư khư cái điện thoại bên người, chỉ sợ có cuộc gọi báo tin mà mình lỡ mất. Cái cảnh giữ điện thoại, đứng giữa nghĩa trang mà không biết khấn vào đâu ấy, chính là nỗi đau treo lơ lửng mà không đặt xuống được.

III - Ở VIỆT NAM, MẤT XÁC CÒN LÀ MẤT CHỖ VỀ

Trong quan niệm dân gian mình, 1 cái chết chỉ coi là trọn khi có đủ 3 thứ: xác được chôn tử tế, có mộ để hương khói và có con cháu giỗ chạp. Thiếu 1 trong 3 là linh hồn bị coi như chưa được yên.

Tín ngưỡng mình phân biệt rất rõ. Chết già, chết ở nhà có con cháu vây quanh thì gọi là chết lành, hồn thành ông bà tổ tiên, được thờ ngay trên bàn thờ trong nhà. Còn chết trẻ, chết xa nhà, chết mất xác, chết không toàn thây, chết đường chết chợ thì bị coi là chết xấu, hồn dễ thành cô hồn, thành ma lang thang không nơi nương tựa, phải thờ ở cái am nhỏ ngoài ngõ chứ không được vào nhà. Cụ Nguyễn Du có hẳn bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh khấn cho đủ loại vong chết xấu đó, trong đó nhiều nhất chính là lính trận, người chết vì đạn lạc tên rơi, hồn không ai hương khói thì thành hồn mồ côi, lang thang bao nhiêu năm.

Nên với gia đình liệt sĩ, hài cốt chưa về không đơn thuần là thiếu 1 người, mà là nỗi sợ hồn người thân mình đang bơ vơ đâu đó ngoài kia, đói khát, không có chỗ về. Mồ yên mả đẹp vì thế không phải chuyện hình thức, nó là điều kiện để người đã khuất được yên. Mấy chỗ có tục cải táng bốc mộ, khi nhặt cốt người ta dặn nhau xương phải nhặt cho đủ, thiếu 1 mảnh cũng chưa được, đủ thấy cái thân xác nặng tới mức nào trong lòng người mình. Chỗ nào không có xác thật, như dân đảo Lý Sơn có người đi biển mất tích, thì người ta còn nặn hình nhân bằng đất sét làm lễ chiêu hồn cho hồn nhập vào rồi chôn như người thật, cốt để hồn có 1 chỗ mà về, thay cho cái xác đã mất.

Trên hết là chữ hiếu. Đưa được người thân về là bổn phận, nghĩa tử là nghĩa tận, làm không được thì người sống mang trong lòng 1 món nợ chưa trả, day dứt tới lúc chết. Nói thêm, mấy chuyện hồn với vía này là niềm tin dân gian, không phải chuyện khoa học chứng minh được, nhưng nó chi phối rất mạnh cảm xúc và việc làm của người còn sống, mà bài này nói về người còn sống.

IV - VẬY CÁI NGÀY ĐÓ LÀ CHO AI

Vì sao người sống cần cái ngày đó tới vậy?

Ngày xưa người ta hay tưởng thương tiếc cho lành mạnh là buông ra, là quên đi mà sống tiếp. Nghiên cứu tâm lý mấy chục năm nay nói khác hẳn: người sống không hề cắt đứt với người đã khuất, họ vẫn giữ mối quan hệ đó, vẫn thắp hương báo tin vui buồn, vẫn thấy như người đó còn dõi theo mình, và mối quan hệ đó là bình thường, thậm chí là chỗ dựa. Nhưng nó cần 1 cái neo, cần 1 ngôi mộ để tới lui chăm nom, cần biết chắc đúng là người của mình. Không có cái neo đó thì mối quan hệ cũng treo lơ lửng y như nỗi đau ở trên.

Mất cái neo đó, bao nhiêu việc thờ cúng đành chịu dở dang: có bàn thờ mà không có mộ để ra thắp hương, không biết ngày mất để làm giỗ cho đúng, không có xương cốt để đưa về nằm cạnh ông bà. Mà việc thắp được nén hương, làm được mâm cơm, đưa được người về chôn cất đàng hoàng, nghe thì đơn giản nhưng nó trả lại cho người sống cảm giác mình còn làm được gì đó, còn nắm được chút gì trong tay, vẫn giữ trọn chữ hiếu. Nỗi đau nhờ vậy có bờ có bến, có chỗ mà đặt xuống. Đau thì vẫn đau, buồn thì vẫn buồn nhưng là cái đau ôm được vào lòng mà mang theo, chứ không còn treo lơ lửng mãi.

Cho nên cái ngày biết chắc và đón được người về, với người đã nằm xuống thì đúng là chả thêm bớt được gì nhưng với người sống nó là món quà vô giá. Họ được thương tiếc cho tới nơi, được làm tròn cái bổn phận đè nặng cả đời, được bước ra khỏi cái mơ hồ treo lơ lửng mấy chục năm.

V - KHI CÁI CHỜ ĐƯỢC ĐẶT XUỐNG

Có 1 trường hợp đã có kết quả. Cụ Phạm Thị Lài ở Nghệ An, 104 tuổi, có con trai là liệt sĩ hy sinh năm 1973. Những năm chưa tìm được, cụ hay khấn trước bàn thờ, cho mẹ tìm thấy mộ con, tuổi nhiều rồi mẹ không thể yên lòng nhắm mắt khi con chưa về. Đầu 2025 giám định ADN khớp, hài cốt được đưa về tới làng, cụ gọi “Hòa ơi con ơi, mấy chục năm rồi”, rồi sau đó gặp ai cụ cũng khoe tìm được thằng Hòa rồi, hắn đi lâu quá. Con dâu cụ bảo mỗi năm mẹ 1 yếu, cả nhà ai cũng sợ mẹ đi trước khi kịp biết bác Hòa nằm ở đâu.

Nỗi sợ đó lặp đi lặp lại trong gần như mọi câu chuyện mình đọc. Nỗi lo lớn nhất của các gia đình là sợ chính người chờ mong nhất, người mẹ, người cha đã gần đất xa trời, ra đi trước khi kịp biết tin. Đây cũng là lý do năm 2026 việc giám định ADN được làm gấp, chỉ có điều nhìn từ phía gia đình thì nó là cuộc chạy đua rất riêng tư, chạy đua với chính hơi thở của người thân mình.

Tìm được hài cốt liệt sĩ cũng chưa phải là hết buồn. Có nhà nhận lại mới ngã ngửa ra bao năm nay mình thờ nhầm mộ người khác. Có cụ bà 90 tuổi đi lấy mẫu ADN tìm em, nói 1 câu mình nhớ mãi, mừng vì còn sống để lấy được mẫu, mà xót vì vẫn chưa tìm được em về. Cái ngày biết chắc không làm nỗi đau biến mất, nó chỉ đổi cái đau từ dạng mông lung, chưa mang được hài cốt về, sang dạng có thể ôm vào lòng mà thương mà nhớ cho trọn nghĩa tình, và đó mới đúng là thứ người sống cần.

Còn bà Lệ, tới lúc mình viết bài này, vẫn đang chờ cái kết quả kia. Áo đẹp đã mặc sẵn, mâm cúng đã lo xong, chỉ còn chờ người ta báo có đúng là ông không.

Bà vẫn chờ, vẫn hy vọng.