I - CA SINH NĂM 1968

Năm 1968 ở Bệnh viện Từ Dũ, 1 cô bác sĩ nội trú 24 tuổi đỡ 1 ca sinh mà cô không hiểu nổi. Đứa bé không có sọ. Mấy chục năm sau cô kể lại rằng đôi tay cô run, toàn thân mướt mồ hôi vì sợ. Người mẹ nhìn thấy con thì gào lên, và câu bà thốt ra được ghi lại nguyên văn: Trời ơi, sao tôi sinh ra con khỉ thế này. Cô bác sĩ ấy tên Nguyễn Thị Ngọc Phượng. Cô kể tiếp, sau đó cứ cách vài lần trực cô lại gặp 1 ca như thế, chuyện mà trước năm 1965 rất hiếm. Rồi bà chia sẻ: suốt nhiều năm, tôi đã không biết điều gì gây ra những chuyện đó.

Bà là bác sĩ. Bà có bệnh viện, có hồ sơ, có cả 1 nền y học sau lưng mà bà còn không biết. Vậy người mẹ vừa gào lên trong phòng sinh kia thì lấy gì mà biết?

II - HÀNG XÓM GIẢI THÍCH

Con người không sống được với 1 tai họa không có lời giải. Y học chưa đưa ra được lời giải nào thỏa đáng thì làng xóm láng giềng sẽ nghĩ ra 1 cái gì đó xuôi tai.

Năm 2017, 1 nhóm nghiên cứu người Nhật do Hajime Kitamura dẫn đầu về Thanh Hóa làm điều tra thực địa với các gia đình nạn nhân. Họ ghi lại nguyên văn những câu mà hàng xóm đã nói với các gia đình ấy. Câu thứ 1: cha mẹ anh chị đã làm điều gì đó sai trái nên con cái phải gánh nghiệp. Câu thứ 2: chuyện xảy ra vì cha mẹ, vì gia đình anh chị ngu si nên tứ chi không phát triển…

1 người lính đi B, uống nước suối trong rừng vì không có nước nào khác, không được ai cảnh báo trước điều gì. 30 năm sau con anh nằm liệt, và cả làng kết luận rằng anh ăn ở thất đức hoặc anh dốt nát, ăn quả báo…

Báo cáo của Viện Hòa bình Hoa Kỳ năm 2023 viết rằng ở nông thôn và trong cộng đồng dân tộc thiểu số, khuyết tật thường bị coi là số phận của cá nhân hoặc là 1 hình thức trừng phạt của thần linh vì tội lỗi trong quá khứ. Chị Võ Thị Kim Tuyến, 1 nạn nhân, nói về chính mình: đó là số phận của tôi nên tôi phải chấp nhận, chấp nhận rằng ông trời đã định như vậy. Chị kể thêm hồi đi học chị bị bạn bè bắt nạt và đã có lúc chị nghĩ đến cái chết.

III - NGƯỜI MẸ CHỊU TỘI

Người ta bao giờ cũng đổ tội cho thứ ở gần nhất và nhìn thấy được. Thủ phạm thật là 1 chất được rải xuống 1 cánh rừng cách đó mấy trăm cây số, 12 tới 20 năm về trước, bởi những người mà dân làng chưa từng gặp mặt. Còn người vợ thì sừng sững đây. Bà là người mang thai, bà là người sinh đứa bé cơ mà.

Nghiên cứu của Vũ Lê Thảo Chi xuất bản năm 2020 ghi rõ, xã hội ta đặt nặng chuyện người phụ nữ phải sinh được con khỏe mạnh, nên người mẹ hay bị đổ oan là nguồn gốc khuyết tật của con, nhất là ở nông thôn, nơi phụ nữ vẫn còn chịu nhiều định kiến. Kèm theo đó là 1 hành vi lặp lại nhiều tới mức thành 1 mẫu hình trong tài liệu nghiên cứu: người chồng bỏ vợ và đứa con khuyết tật để lập gia đình mới, hy vọng lần này có được đứa con lành lặn. Chị Phạm Thị Dứt là 1 trường hợp có tên. Chồng chị bị nhiễm, anh bỏ đi khi con chị mới 3 tháng tuổi.

Bà Ngọc Phượng cũng kể lại 1 ca ở Từ Dũ. Sản phụ sinh ra đứa bé dị dạng, người mẹ sốc tới mức dở điên dở dại, và từ bệnh viện trở về thì nhà chồng 1 mực bắt con trai bỏ vợ. Đứa bé mất, người mẹ mất trí, rồi người mẹ mất luôn cả gia đình. 3 mất mát từ 1 nguyên nhân mà không ai trong câu chuyện đó biết là gì.

IV - CĂN PHÒNG KHO Ở TỪ DŨ

Năm 1976, mấy người cựu binh Mỹ quay lại thăm Bệnh viện Từ Dũ. Họ nhìn thấy những đứa trẻ dị tật và họ hỏi vì sao lại thế này. Bà Phượng được phân công trả lời. Bà nói bà không biết.

Bà bắt đầu đi tìm từ hôm đó. Bà lục hồ sơ Từ Dũ và luận án Đại học Y từ năm 1952 tới 1975, thấy số trẻ dị tật năm 1952 rất thấp, bắt đầu nhích lên vào 1960 với 1961, rồi vọt hẳn trong khoảng 1965 tới 1967. 1 bác sĩ ở Chợ Rẫy mách bà 1 tài liệu ở thư viện thành phố nói về các chất hóa học được rải xuống miền Nam từ năm 1960, nhiều nhất vào năm 1965. 2 đường cong trên đồ thị ấy trùng nhau.

Bà xin bệnh viện cho giữ lại các thai dị tật để nghiên cứu, và căn phòng kho cứ ngày 1 đầy thêm. Ở đó bây giờ có gần 100 cơ thể sơ sinh ngâm trong formol. Phần lớn không có tên tuổi gì hết, trên hũ chỉ ghi tên người mẹ và quê quán. Những đứa bé đó không kịp được đặt tên. Thứ duy nhất còn lại của chúng trên đời là tên người đã sinh ra chúng và cái làng người mẹ ấy từng sống.

Năm 1982 bà cùng sinh viên xuống xã Thạnh Phong ở Bến Tre rồi đi Cà Mau, hỏi từng nhà. Ở Từ Dũ bà so 2 nhóm sản phụ với nhau. Trong nhóm sinh con dị tật thì 64% từng sống ở vùng bị rải. Nhóm không có con dị tật thì con số đó là 12%.

V - CHƯA ĐỦ BẰNG CHỨNG

Bà kể là ở mỗi hội nghị quốc tế, Dow với Monsanto đều cử luật sư và nhà khoa học tới, họ đặt câu hỏi để phủ nhận nguyên nhân, và bà cãi lại. 1 nhà khoa học Nhật đến xem, ông nghi mấy thứ trong hũ là mô hình nhựa nên yêu cầu mở từng cái ra kiểm tra. Người ta mở. Ông ấy bật khóc.

Sự hoài nghi hồi đó không hoàn toàn là ác ý, nó có phần đúng về mặt phương pháp. Muốn đi từ chỗ 2 thứ xảy ra cùng nhau tới chỗ khẳng định thứ này gây ra thứ kia, dịch tễ học đòi hỏi phải có nhóm đối chứng tương đương, phải đo được lượng dioxin trong máu từng người, phải loại trừ được suy dinh dưỡng và chăm sóc thai nghén kém thời chiến, phải tránh được chuyện người ta nhớ sai khi bị hỏi lại sau 2 chục năm. Việt Nam thời hậu chiến không có thứ nào trong số đó. Giáo sư Lê Cao Đài từng định đo định lượng dioxin nhưng phải bỏ, vì mỗi mẫu phân tích tốn 800 tới 1.000 đô la.

Năm 2006 nhóm Ngo và cộng sự gộp 22 nghiên cứu lại, công bố trên International Journal of Epidemiology, cho ra nguy cơ dị tật bẩm sinh tăng gần gấp đôi. Nhưng khi tách riêng thì nghiên cứu của Việt Nam cho tỷ số 3,00, còn nghiên cứu nước ngoài chỉ 1,29. Phía ta đọc chênh lệch đó là do ở ta bị nặng hơn. Phía phản biện đọc nó là dấu hiệu nghiên cứu có sai lệch. Cả 2 cách đọc đều không vô lý, và bế tắc nằm ở đó. Năm 2014 hội đồng khoa học Mỹ rà lại, hạ tật nứt đốt sống, dị tật duy nhất từng được xếp mức gợi ý, xuống mức không đủ bằng chứng. Hạ chứ không phải nâng. Có điều không đủ bằng chứng để kết luận thì cũng không có nghĩa là đã chứng minh được vô hại. Nó chỉ có nghĩa là dữ liệu chưa đủ, mà dữ liệu chưa đủ vì chưa ai bỏ tiền ra làm cho đủ.

VI - CÁI TỘI ĐỔI CHỖ

Rồi lời giải thích cũng tới. Tháng 2 năm 2000, Quyết định 26 lần đầu quy định chế độ cho người kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của họ. Năm 2004 Hội Nạn nhân chất độc da cam ra mắt và ngày 10/8 thành 1 ngày trong lịch. Năm 2008 Bộ Y tế ban hành danh mục 17 bệnh. Từ đó trên đài trên báo người ta nói mãi về da cam, về đột biến gen.

Ông Đỗ Đức Địu ở Quảng Bình, người đã chôn 12 đứa con và đánh số 12 nấm mộ từ 1 đến 12, mãi sau này đi bệnh viện khám mới biết đó là di chứng chất độc da cam. Từ đó trở đi, vợ ông thôi không còn là người đàn bà không biết đẻ. Cái tội rời khỏi bà, chuyển sang ông, rồi từ ông nó chuyển tiếp lên 1 quốc gia đã rải thứ đó xuống rừng Trường Sơn năm 1972. 4 chữ “chất độc da cam” không chữa được bệnh cho ai cả. Nó chỉ đưa 1 gánh nặng, 1 định kiến suốt 20, 30 năm về đúng chỗ của nó.

VII - NHÀ CÓ “GEN HỎNG”

Takeshi Uesugi, 1 nhà nhân học, sống 13 tháng ở huyện A Lưới để làm luận án tiến sĩ. Ông ghi lại lời 1 bác sĩ ở Đại học Y Huế cảnh báo về mặt trái của việc được công nhận. Khi 1 gia đình được xác nhận có người nhiễm thì trong mắt hàng xóm, cả nhà đó thành nhà có “gen hỏng”. Và những đứa con lành lặn trong nhà, những đứa hoàn toàn khỏe mạnh, bắt đầu không lấy được vợ, lấy được chồng. Vị bác sĩ tả phản ứng của nhà gái nhà trai khi nghe tin bằng đúng mấy tiếng lặp lại: bye bye, bye bye bye bye. That’s the way.

Cho nên nhiều gia đình chọn cách im lặng, không nói ra. Báo cáo của Viện Hòa bình Hoa Kỳ ghi nhận có những nhà giấu chuyện mình bị ảnh hưởng càng lâu càng tốt để tránh bị làng xóm dị nghị, phán xét. Trước năm 2000 họ giấu vì sợ bị coi là ăn ở thất đức. Sau năm 2000 họ giấu vì sợ bị coi là có “gen hỏng”.

VIII - DỪNG Ở ĐỜI CON

Pháp lệnh Ưu đãi người có công năm 2020 quy định chế độ cho người hoạt động kháng chiến bị nhiễm, và cho con đẻ bị dị dạng dị tật có tỷ lệ tổn thương từ 61% trở lên. Hết, dừng ở đời con. Đời cháu không được công nhận là nạn nhân chất độc da cam. Các cháu chỉ được hưởng trợ cấp người khuyết tật, hơn 700.000 đồng 1 tháng, và chỉ khi khuyết tật ở mức nặng hoặc đặc biệt nặng. Theo thống kê chưa đầy đủ của Hội, cả nước có gần 35.000 người thuộc đời cháu và gần 5.000 người thuộc đời chắt.

Lý do không đưa họ vào Pháp lệnh được 1 lãnh đạo Hội nói thẳng, rằng không thể coi đó là người có công. Về mặt hành chính thì câu đó đúng, và chính vì đúng nên mình thấy nó để lộ ra 1 chỗ yếu rất đau lòng. Cả hệ thống của ta xây trên chuyện đền công, ai có công thì được đền. Mà công lao thì càng xa gốc gác càng loãng, trong khi tổn hại sinh học, nếu nó có thật, lại đi ngược chiều, nó truyền xuống. Đứa cháu sinh ra nằm liệt không có công gì hết nên nó rơi ra ngoài. Không phải vì ai nhẫn tâm. Hệ thống ấy lập ra là để trả ơn, mà đứa cháu thì có ơn gì để mà trả?

Tỉnh Nghệ An đã tự ban hành nghị quyết riêng, hỗ trợ đời cháu từ 500.000 đồng 1 tháng, hiệu lực từ tháng 11 năm 2025. Mình hoàn toàn ủng hộ quyết định này.

IX - HƯỞNG SAI CHẾ ĐỘ

Khi lời giải thích gắn với 1 khoản trợ cấp, mà bằng chứng để xác nhận thì về bản chất là không thể có được, thì việc xác nhận thành ra 1 canh bạc.

2 đợt thanh tra đã rà khoảng 320.000 hồ sơ chất độc hóa học. Tính đến hết năm 2023, phát hiện 24.590 trường hợp hưởng sai chế độ trên toàn quốc, trong đó 5.397 trường hợp khai man hoặc giả mạo giấy tờ. Số tiền yêu cầu nộp trả ngân sách là hơn 2.400 tỷ đồng, đã thu được hơn 163 tỷ, tức 6,79%. Trong 24.590 người bị yêu cầu trả lại tiền, có 3.501 người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, dân tộc thiểu số, hoặc đang mắc bệnh hiểm nghèo.

Mình không bênh vực những người hay gia đình khai man, 5.397 trường hợp giả mạo giấy tờ là sai trái. Nhưng phần lớn số còn lại rơi vào 1 vùng xám không ai thoát ra được. Hồ sơ lập từ khoảng 2006 tới 2009 theo quy định lúc bấy giờ, giám định lại theo tiêu chuẩn về sau thì không đạt, mà hồ sơ thì đâu phải do người dân tự làm ra. Mấy chục năm trước họ bị hàng xóm bảo là ăn ở thất đức. Bây giờ họ bị gọi là hưởng sai, là thủ đoạn…

X - 65 NĂM

Ngày 10/8/1961 là chuyến bay rải đầu tiên, tới năm 2026 là tròn 65 năm. Cả nước mình hiện có hơn 252.000 người đang hưởng trợ cấp hằng tháng, còn con số nạn nhân mà Hội ước tính là hơn 3 triệu.

Năm 2026 bà Ngọc Phượng đã ngoài 80. Cuối năm 2024 bà được trao giải Ramon Magsaysay và bà đem toàn bộ 50.000 đô la tiền thưởng tặng lại cho nạn nhân. Bà đã đi gần 50 năm kể từ cái ngày bà đứng trước mấy người cựu binh Mỹ và nói bà không biết. Bà tìm ra nguyên nhân, mang nó ra tòa, ra Hạ viện Mỹ, ra các hội nghị quốc tế, cãi tay đôi với luật sư của Dow và Monsanto.

Nhưng nó đến quá muộn với người mẹ đã gào lên trong phòng sinh năm 1968, người bị nhà chồng bắt bỏ, người đã dở điên dở dại và không bao giờ được ai nói cho biết vì sao. Và đáng buồn là nó dừng lại đúng ở đời con, trước khi kịp chạm tới gần 35.000 đứa cháu.