Có người tự đào mộ cho mình vì cháu với người hầu khiêng không nổi. Chuyện này nằm trong sổ giáo xứ Malpas, hạt Cheshire bên Anh, năm 1625. Richard Dawson biết mình mắc dịch hạch, biết mình không qua khỏi, bèn ngồi dậy khỏi giường, ra khoảnh đất cách nhà không xa mà tự đào lấy cái huyệt. Đào xong, ông bảo thằng cháu rải rơm xuống lót, rồi tự bước xuống nằm, bảo người ta đắp quần áo lên người rồi cứ thế nằm đó mà chết.
Người ghi sổ còn ghi thêm lý do, rằng ông Dawson to khỏe, nặng quá sức thằng cháu với 1 cô hầu gái có thể khiêng đi chôn. Theo ghi chú của Ian Mortimer, thằng cháu với cô hầu gái ấy sau đó cũng chết, được chôn gần căn nhà [1].
Săn phù thủy với quân Mông Cổ, 2 chuyện tưởng chẳng dính dáng gì tới nhau, mình nghĩ lại nối với nhau khá nhiều, qua con vi khuẩn dịch hạch. Bài này mình không kể nhiều về những vụ chết mà đi sâu vào chuyện người thời ấy sợ gì, nghĩ gì, làm gì khi người quanh mình chết dần, từ người bệnh nằm trên giường tới ông vua, ông giáo hoàng, đám lính. Chỗ nào các sách ghi khác nhau thì mình ghi luôn để bạn tiện đối chiếu.
I - XÁC NGƯỜI BAY QUA TƯỜNG THÀNH
Chuyện mở đầu do Gabriele de Mussi, 1 công chứng viên ở Piacenza bên Ý, ghi lại. Năm 1346, quân Kim Trướng Hãn quốc, 1 nhánh của đế quốc Mông Cổ, vây người Genoa ở thành Caffa trên bán đảo Krym. Dịch bệnh giết lính Mông Cổ hàng ngàn người, trước khi rút họ lấy máy bắn đá ném xác đồng đội qua tường thành [2]. Các sử gia bây giờ không tin lắm chuyện này, Byrne cho biết Mussi không hề có mặt ở Caffa [3].
Người mắc bệnh nổi những cục hạch to bằng quả trứng ở nách, ở bẹn, rỉ máu rỉ mủ, rồi mọc nhọt, da thâm đen từng mảng. Mọi thứ từ người bệnh tiết ra, hơi thở, mồ hôi, máu, nước tiểu, đều bốc mùi hôi. Theo Tuchman, người thời ấy tả rằng đi kèm cơn đau là nỗi chán chường tuyệt vọng, tới cuối thì cái chết hiện ra ngay trên mặt người bệnh. Có người đi ngủ còn khỏe, chưa kịp thức dậy đã chết, có bác sĩ tới khám rồi chết trước cả người bệnh. Không ai biết cách phòng, cũng không ai biết cách chữa [4].
Aberth dựa trên sổ sách các giáo phận bên Anh, ước tính khoảng 1 nửa dân châu Âu đã chết [5].
II - NGƯỜI THÂN BỎ NHAU
Chuyện đầu tiên các biên niên gia ghi lại là người thân bỏ nhau. Agnolo di Tura ở Siena viết rằng cha bỏ con, vợ bỏ chồng, anh em bỏ nhau, vì người ta tin bệnh lây qua hơi thở và qua ánh mắt. Bác sĩ riêng của giáo hoàng là Guy de Chauliac cũng ghi, cha không tới thăm con, con không tới thăm cha, lòng thương người đã chết [6]. Có ý kiến cho rằng các biên niên gia chỉ chép lại cảnh ấy từ sách cổ. Aberth thì đếm được ít nhất 9 cuốn biên niên sử khác ở Ý cũng ghi cảnh người thân bỏ nhau như thế, ông cũng thấy khó tin 1 bác sĩ như Chauliac lại đi chép theo văn chương [7].
Gabriele de Mussi tả người bệnh nằm gọi người nhà. “Lại đây, tôi khát, cho tôi ngụm nước, tôi còn sống mà, đừng sợ, có khi tôi không chết đâu, ôm lấy tôi đi”. Người nhà thì đứng xa, thỉnh thoảng có ai động lòng thì đặt 1 ngọn nến cháy ở đầu giường rồi bỏ chạy. Horrox cũng lưu ý mấy lời ấy là de Mussi viết theo lối văn răn dạy người đời, chứ ông không nghe tận tai [8].
Chuyện sợ ánh mắt người bệnh không chỉ có trong biên niên sử. Năm 1349 ở Montpellier, 1 luận văn y học khuyên ai tới thăm người bệnh thì bảo họ nhắm mắt lại rồi lấy khăn bịt mắt họ, vì tin người đang hấp hối nhìn ai thì truyền bệnh cho người ấy [9]. Ở Venice năm 1348, Marino Sanudo ghi rằng nhiều người chết mà không được xưng tội, không có ai nhìn thấy, còn người sống thì ai cũng trốn trong nhà vì sợ lẫn nhau [10].
Với người Công giáo thời ấy, chết không được xưng tội còn đáng lo hơn cả cái chết. Byrne viết, Giáo hội đã dạy người ta sợ tội chưa được tha và lửa hỏa ngục hơn mọi thứ khác [11]. Linh mục thì chết nhiều, nên tháng 1/1349 giám mục Bath và Wells bên Anh phải dặn con chiên rằng lúc nguy cấp có thể xưng tội với bất cứ người thường nào, không có đàn ông thì xưng với đàn bà cũng được [12]. Giáo hoàng Clement VI ban ơn tha tội cho mọi người chết vì dịch, dù không có linh mục bên cạnh [13].
Lệnh tha tội ấy cũng có mặt trái. Bác sĩ John xứ Saxony kể rằng trong 1 trận dịch ở Montpellier, nhiều người chọn cái chết, không đi chữa, vì giáo hoàng đã tha tội cho người chết vì dịch. Aberth dè dặt ghi thêm, nếu chuyện ấy là thật [14].
Ở Siena, 1 biên niên gia viết rằng chuông không còn ai kéo, ai mất người thân cũng không khóc, vì gần như ai cũng chờ tới lượt mình. Người ta nói với nhau rồi tin thật rằng đây là ngày tận thế [15].
III - TRONG TU VIỆN VÀ CUNG GIÁO HOÀNG
Trong các tu viện, nơi người ta sống chung, ăn chung, ngủ chung, 1 người mắc là cả nhà mắc. Tu sĩ Henry Knighton bên Anh ghi rằng ở Avignon, 66 tu sĩ dòng Carmel đã chết mà dân trong thành vẫn chưa hiểu vì sao, họ tưởng các thầy giết lẫn nhau. Ở Marseille, 140 tu sĩ dòng Phanxicô chết không còn 1 ai đi báo tin. Knighton, vốn không ưa các dòng khất sĩ, còn viết thêm 1 câu, vậy cũng tốt [16].
Gherardo, em trai nhà thơ Petrarch, sống trong 1 tu viện dòng Carthusian. Ông chôn cha bề trên với 34 tu sĩ khác, từng người 1, có ngày chôn 3 người, cho tới khi cả tu viện chỉ còn lại ông với con chó. Ông bỏ đi tìm nơi nào nhận mình [17].
Ở Ý có 1 hội tự đánh roi sám hối, mỗi năm thường nhận thêm 6, 7 người. Năm 1348 hội nhận 106 người, cũng năm ấy 109 hội viên chết, có người chết ngay trong ngày được nhận vào hội. Cuốn bách khoa của Byrne ghi hội này ở Florence, cuốn sách khác của chính ông lại ghi là ở Orvieto [18]. Khi những đoàn người tự đánh roi đi qua, các bà già với những người chất phác lấy khăn chấm vào máu chảy trên lưng họ rồi đem lên mắt như chấm thánh tích [19].
Người đứng đầu Giáo hội thì được giữ kỹ. Bác sĩ Guy de Chauliac bắt Giáo hoàng Clement VI ngồi giữa 2 đống lửa lớn giữa mùa hè Avignon, lại không cho ngài ra khỏi phòng [20]. Tháng 4/1348, 1 nhạc công phục vụ hồng y Giovanni Colonna viết thư kể rằng quan tòa, luật sư ở Avignon người thì đi, người thì chết, số còn lại đang sửa soạn đi. Nghe nói hồng y của ông sẽ theo giáo hoàng về 1 nơi nhìn sang núi Ventoux, chỗ dịch chưa tới, ông viết, đó là chỗ tốt nhất, hay ít ra người ta nói thế. Tháng 7 năm ấy hồng y Colonna chết vì dịch [21].
IV - VUA CHÚA VÀ ĐÁM LÍNH
Vua chúa cũng hoảng như dân. Năm 1348 ở Sicily, công tước Giovanni sợ chết, sợ khí độc, không dám tới gần thành thị hay làng mạc, cứ lang thang trong rừng, chỗ hoang vắng, hết chỗ này tới chỗ khác như 1 kẻ trốn chạy. Ông vẫn mắc bệnh và chết [22]. Alfonso XI, vua xứ Castile, chết vì dịch khi đang vây Gibraltar, ông là ông vua duy nhất đang trị vì chết trong đại dịch [23].
Byrne tả quân đội thời dịch, lính đói, mệt, chai sạn, nên nhiều khi bất chấp dấu hiệu dịch mà lục lọi đồ ăn, quần áo, đàn bà khắp vùng bị tàn phá. Khi dịch vào doanh trại thì cả đạo quân tan rã, lính bỏ chạy về nhà, mang dịch theo. Đại dịch buộc Anh với Pháp phải hưu chiến 7 năm trong cuộc Chiến tranh Trăm năm [24].
Người Scotland thấy dịch hoành hành bên Anh thì mừng, tin rằng Chúa đứng về phe mình, để người Anh chết cái chết bẩn thỉu. Quân Scotland kéo từ rừng Selkirk xuống đánh vùng biên, rồi mang dịch về nhà. John Fordun, 1 giáo sĩ ở Aberdeen, ghi rằng dịch gieo nỗi kinh hoàng tới mức con không dám tới thăm cha mẹ sắp chết, cha mẹ không dám tới thăm con, cứ thế bỏ chạy như chạy khỏi người hủi, khỏi rắn độc [25].
Ở Messina năm 1347, theo tu sĩ Michele da Piazza, dân chúng tê dại vì sợ, không ai dám ra khỏi nhà. Tổng giám mục cho rước kiệu quanh thành. Đoàn rước vừa vào thành thì 1 con chó đen ngậm thanh gươm trần lao vào nhà thờ, đập nát đồ thờ bằng bạc, đèn, chân nến trên bàn thờ. Dân Messina chạy sang Catania thì không ai cho ở nhờ, không ai muốn nói chuyện, dân Catania đùa chua chát với nhau rằng người Messina thì đừng có nói chuyện với tôi [26].
V - ĐI TÌM KẺ ĐẦU ĐỘC
Không ai biết bệnh từ đâu ra, nên người ta đi tìm kẻ đầu độc. Theo Guy de Chauliac, năm 1348 các thành phố đặt lính gác, người lạ không cho vào, hễ khám thấy ai mang theo bột hay thuốc mỡ thì bắt người ấy nuốt ngay tại chỗ [27].
Mũi dùi sớm chĩa vào người Do Thái. Tháng 9 và tháng 10/1348, ở lâu đài Chillon bên hồ Geneva, 11 người Do Thái bị tra tấn bằng bánh xe cho tới khi khai đã bỏ thuốc độc xuống giếng. Biên bản ấy vẫn được gửi đi các thành phố khác làm bằng chứng [28].
Ngày 14/2/1349 ở Strasbourg, người Do Thái bị lùa vào 1 căn nhà gỗ dựng ngay trong nghĩa trang của họ rồi bị đốt, khoảng 2.000 người theo biên niên gia Fritsche Closener, khoảng 1.500 người theo sách khác. Các món nợ vay người Do Thái được coi như đã trả xong. Ở Basel khoảng 600 người bị thiêu, trong khi dịch còn chưa về tới vùng này. Barzilay cho rằng ở nhiều nơi, chỉ nỗi sợ thôi đã đủ để người ta ra tay [29].
Ngày 20/12/1348 ở Horw, người Do Thái bị đẩy xuống 1 cái hố chất đầy củi với rơm rồi châm lửa. Củi rơm cháy hết mà vẫn còn người già người trẻ sống dở. Theo bản dịch của Horrox thì những người Do Thái khỏe hơn nhặt gậy, nhặt đá đập vỡ đầu những người đang bò ra khỏi lửa, còn bản Byrne dẫn lại thì hiểu là những người đứng xem làm việc ấy. Chỗ này các nguồn có khác nhau [30].
Có nơi lại chọn cách khác. Năm 1348 ở Pháp, 2 tu sĩ đi qua 1 thị trấn thấy dân đang nhảy múa theo tiếng trống, tiếng kèn. Hỏi thì họ bảo đã thấy hàng xóm chết ngày này qua ngày khác, nhưng dịch chưa vào thị trấn mình, nên họ mong không khí vui vẻ sẽ giữ cho dịch khỏi tới [31]. Ở Áo, biên niên gia tu viện Neuberg ghi rằng người ta rủ nhau mở tiệc, làm đám cưới cho vui, để nhen lại được chút vui, dù chỉ là nửa vời, mà khỏi rơi vào tuyệt vọng [32].
VI - CHUYỆN XÁC CHẾT
Rồi tới chuyện xác chết. Ở Avignon, xác ném xuống sông Rhône nhiều tới mức giáo hoàng phải làm phép cho cả dòng sông, hàng trăm cái xác ném xuống rồi lại nổi lên ở phía hạ lưu [33].
Ở Avignon năm 1348, lớp phu đào huyệt đầu tiên chết. Người ta thuê dân miền núi xuống thay, vì tin người miền núi không nhiễm khí độc ở thung lũng, rồi lớp ấy cũng chết. Sau cùng người ta hứa trả tự do cho tù tử hình nào nhận đi đào huyệt [34].
Ở Lyon năm 1628, bệnh viện hết chỗ, có người bệnh chồng xác chết lên làm vách chắn gió thu [35]. Trong các nhà dịch, người mẹ sắp chết mang con nhỏ theo vào, mẹ chết thì đứa bé được thuê vú nuôi, vú nuôi chết thì mấy bữa cuối cùng của nó là sữa dê [36].
VII - MOSCOW NĂM 1771
Tới thế kỷ 18, nỗi sợ vẫn y như cũ. Tháng 9/1771 ở Moscow, giữa lúc dịch đang hoành hành, người ta đồn nhau về bức tượng thánh Đức Mẹ treo trên cổng Varvarskie. 1 người thợ kể Đức Mẹ hiện về trong mơ, nói rằng Chúa Kitô định trừng phạt dân Moscow bằng 1 trận mưa toàn đá, bà đã xin Ngài giảm xuống thành 3 tháng dịch bệnh. Dân kéo tới cầu nguyện chật cả cổng [37].
Tổng giám mục Amvrosii sợ đám đông làm dịch lây thêm, bị đồn là định đem bức tượng đi. Ngày 16/9, đám đông lùng ông tới tu viện Donskoi, lôi ông từ chỗ nấp sau vách tượng thánh ra ngoài, hơn 500 người đứng đó. Họ đánh ông bằng gậy, bằng thanh sắt gần 2 tiếng đồng hồ, 1 nhân chứng viết rằng thân thể ông chỉ còn là 1 vết thương. Thấy tay phải ông còn cử động, họ quay lại đánh tiếp [38].
VIII - TỪ HONG KONG VỀ NHA TRANG
Hơn 5 thế kỷ sau Cái chết Đen người ta mới tìm ra con vi khuẩn gây bệnh. Năm 1894 dịch hạch bùng ở Hong Kong, 2 nhà khoa học cùng tới săn vi khuẩn. Kitasato Shibasaburō được chính quyền Anh lo đủ mọi thứ, nhất là xác người chết để mổ. Alexandre Yersin, học trò của Pasteur, thì sống trong 1 túp lều, phải nhờ 1 nhà truyền giáo kiếm xác cho mình. Kitasato công bố trước. Có điều theo Byrne thì chính Yersin mới tìm đúng thủ phạm, về sau con vi khuẩn mang tên ông, Yersinia pestis [39].
Yersin về sau lập 1 trạm nghiên cứu của Viện Pasteur ở Nha Trang. Năm 1898, ca dịch hạch đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam lại ở ngay cảng Nha Trang. Năm 1911, dịch hạch thể phổi ở miền Tây làm 1.018 người mắc, 886 người chết [40].
Đợt nặng nhất tới vào thời chiến tranh. Thập niên 1960, Việt Nam chiếm 90% số ca dịch hạch được báo cáo trên toàn thế giới, riêng miền Nam hơn 25.000 ca. Bom đạn và việc rải hóa chất xuống rừng, ruộng đã dồn cả chuột lẫn người vào những trại tị nạn chật chội quanh các thành phố. Ở Cam Ranh đầu năm 1966 có 44 người mắc, 80% trong số đó chết.
George Kohn viết: “Most American personnel were vaccinated; not so the Vietnamese”, tức là phần lớn lính Mỹ được tiêm vắc xin, người Việt thì không [41].
Nguồn:
[1] - The Time Traveller’s Guide to Elizabethan England - Ian Mortimer, chương 10 Hygiene, Illness, and Medicine. [2] - From the Brink of the Apocalypse: Confronting Famine, War, Plague and Death in the Later Middle Ages - John Aberth, chương War. [3] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Caffa và mục Black Death: Origins and Early Spread. [4], [6], [15], [17] - A Distant Mirror: The Calamitous 14th Century - Barbara W. Tuchman, chương 5 “This Is the End of the World”: The Black Death. [5], [7], [14], [27] - From the Brink of the Apocalypse - John Aberth, chương Plague. [8] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 1 The arrival of the plague. [9] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 61 The transmission of plague. [10], [11] - The Black Death - Joseph P. Byrne, chương 5 Psychosocial Reactions to the Black Death. [12] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 87 A shortage of priests to hear confession. [13] - A Distant Mirror - Barbara W. Tuchman, chương 5; The Black Death - Joseph P. Byrne, chương 5. [16] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 21 The plague according to Henry Knighton. [18] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Flagellants; The Black Death - Joseph P. Byrne, chương 5. [19] - From the Brink of the Apocalypse - John Aberth, chương Plague. [20] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Chauliac, Guy de; A Distant Mirror - Barbara W. Tuchman, chương 5. [21] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 5 The plague in Avignon. [22], [26] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 4 The plague in Sicily. [23], [24] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Armies; A Distant Mirror - Barbara W. Tuchman, chương 5. [25] - The Scourging Angel: The Black Death in the British Isles - Benedict Gummer, chương 11 Barbarians. [28] - From the Brink of the Apocalypse - John Aberth, chương Plague. [29] - From the Brink of the Apocalypse - John Aberth, chương Plague; Poisoned Wells: Accusations, Persecution, and Minorities in Medieval Europe, 1321 to 1422 - Tzafrir Barzilay, chương 5 Crisis, Political Leverage, and the Jews. [30] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 69 The persecution of the Jews; The Black Death - Joseph P. Byrne, chương 5. [31] - From the Brink of the Apocalypse - John Aberth, chương Death. [32] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 9 The plague in Central Europe. [33] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Corpses. [34] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Gravediggers. [35] - Encyclopedia of Plague and Pestilence - George C. Kohn, mục Lyon Plague of 1628–29. [36] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Lazarettos and Pest Houses. [37], [38] - Bubonic Plague in Early Modern Russia: Public Health and Urban Disaster - John T. Alexander, chương 7 The Plague Riot. [39] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Kitasato, Shibasaburo và mục Yersin, Alexandre. [40] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Yersin, Alexandre; Encyclopedia of Plague and Pestilence - George C. Kohn, mục Vietnamese Plagues of the Early 1900s. [41] - Encyclopedia of Plague and Pestilence - George C. Kohn, mục Vietnamese Plagues of the 1960s.