Có người tự đào huyệt cho mình vì cháu với người hầu khiêng không nổi. Chuyện này nằm trong sổ giáo xứ Malpas, hạt Cheshire bên Anh, năm 1625. Richard Dawson biết mình mắc dịch hạch, biết mình không qua khỏi, bèn ngồi dậy khỏi giường, ra khoảnh đất cách nhà không xa mà tự đào lấy cái huyệt. Đào xong, ông bảo thằng cháu là John Dawson rải rơm xuống lót, rồi tự bước xuống nằm, bảo người ta đắp quần áo lên người rồi cứ thế nằm đó mà chết.
Người ghi sổ còn ghi thêm lý do, rằng ông Dawson to khỏe, nặng quá sức thằng cháu với 1 cô hầu gái có thể khiêng đi chôn. Theo ghi chú của Ian Mortimer, thằng cháu với cô hầu gái ấy sau đó cũng chết, được chôn gần căn nhà [1].
Săn phù thủy ở châu Âu với quân Mông Cổ nghe chẳng dính gì tới nhau, vậy mà có dính, qua con vi khuẩn dịch hạch. Mình lật lại hơn chục cuốn sách về Cái chết Đen và các đợt dịch hạch sau đó, trong đó có tập ghi chép gốc do Rosemary Horrox dịch và biên soạn, cùng sách của Joseph Byrne, John Aberth, Benedict Gummer, George Kohn.
Theo lời kể quen thuộc, đại dịch bắt đầu từ 1 trận vây thành của quân Mông Cổ bên Biển Đen năm 1346, giết khoảng 1 nửa dân châu Âu, kéo theo những giàn thiêu người Do Thái, rồi hơn 5 thế kỷ sau lại dính tới tận Nha Trang. Mình chỉ lấy những chuyện có tên người, có năm tháng rõ ràng, chỗ nào các sách ghi khác nhau hay sử gia tỏ ý nghi ngờ thì ghi luôn để bạn tự so.
I - TỪ CAFFA TỚI MESSINA
Chuyện mở đầu do Gabriele de Mussi, 1 viên chưởng khế (người soạn và chứng thực giấy tờ) ở Piacenza bên Ý, ghi lại. Năm 1346, quân Kim Trướng Hãn quốc, 1 nhánh của đế quốc Mông Cổ, vây người Genoa ở thành Caffa trên bán đảo Krym. Dịch bệnh giết lính Mông Cổ hàng ngàn người, trước khi rút họ lấy máy bắn đá ném xác đồng đội qua tường thành, xác chất lên thành núi. Nếu chuyện này có thật thì đây là lần đầu tiên dịch hạch bị đem ra làm vũ khí sinh học [2].
Các sử gia bây giờ thì không tin lắm. Aberth cho rằng bọ chét rời xác lạnh rất nhanh, nhiều khả năng bệnh vào thành theo chuột, theo mấy kiện da lông thú, món hàng chính của vùng này [3]. Byrne thì cho biết Mussi không hề có mặt ở Caffa, còn cái cảnh 12 chiếc thuyền Genoa chở dịch từ Caffa về thẳng Messina ở đảo Sicily thì khớp quá, kịch tính quá nên khó mà đúng như thế [4].
Ngày dịch cập bến Messina các sách cũng ghi khác nhau, có sách ghi khoảng giữa tháng 8/1347, có sách ghi mùa thu năm ấy. Từ đó dịch lan ra Marseille, Genoa, Venice, tới năm 1348 thì tràn khắp Ý, Pháp, Tây Ban Nha và miền nam nước Anh.
Chết bao nhiêu thì tới giờ vẫn còn cãi nhau. Biên niên sử thời đó toàn đưa ra những con số khó tin, Agnolo di Tura ghi Siena chết 52.000 người trên tổng số khoảng 60.000, 1 người ở Avignon ghi thành phố chết 62.000 người trong 3 tháng. Aberth dựa trên sổ sách của các giáo phận bên Anh, ước tính khoảng 1 nửa dân châu Âu đã chết, ông bác con số 1/3 mà sách phổ thông hay nhắc [5]. Byrne thì đưa ra nhiều mức khác nhau, có chỗ ghi khoảng 40%, có chỗ ghi 50 tới 60%, cỡ 45 tới 50 triệu người [6].
II - NHỮNG NGƯỜI CHẾT CÓ TÊN
Cũng de Mussi ấy có tả cảnh người bệnh nằm gọi người nhà: “lại đây, tôi khát, cho tôi ngụm nước, tôi còn sống mà, đừng sợ, có khi tôi không chết đâu, ôm lấy tôi đi”. Người nhà thì đứng xa, thỉnh thoảng có ai động lòng thì đặt 1 ngọn nến cháy ở đầu giường rồi bỏ chạy. Horrox có lưu ý, mấy lời ấy là de Mussi viết theo lối văn răn đời thời bấy giờ, chứ ông không nghe tận tai.
Theo de Mussi, 1 người tên Oberto de Sasso muốn làm di chúc nên cho gọi công chứng viên với hàng xóm tới làm chứng. Hơn 60 người có mặt hôm ấy, ông ghi, chết cả ngay sau đó. Lại có 4 người lính đi qua làng Rivarolo, nơi dân đã chết sạch, phá cửa 1 căn nhà lấy trộm tấm lông cừu trải trên giường. Đêm sau cả 4 đắp chung tấm lông ấy mà ngủ, sáng ra không ai dậy nữa [7]. Về sau, ở nhiều nơi công chứng viên phải đứng ngoài đường, ghi di chúc do người bệnh đọc vọng ra qua cửa sổ [8].
Ở Siena, theo Agnolo di Tura, người ta đào hố lớn, chết tới đâu vứt xuống tới đó, lấp đất mỏng tới mức chó moi xác lên ăn, rồi ông viết rằng chính tay ông đã chôn 5 đứa con của mình [9]. Thầy dòng John Clyn ở Kilkenny bên Ireland thì ghi chép từng ngày, để lại giấy trắng cho ai còn sống thì viết tiếp. Dòng cuối trên cuộn da của ông là nét chữ của 1 người khác, ghi rằng hình như tác giả đã chết [10].
Tu viện nữ ở Malling bên Anh mất bà viện trưởng vào đầu tháng 5/1349. Ngày 7/5 các nữ tu bầu Benedicta de Grey lên thay, lúc ấy bà đang nằm ốm trong phòng bệnh. Theo lệ, người mới được bầu phải được dẫn hay khiêng lên bàn thờ chính. Bà ốm quá không đi nổi, ông tuyên úy của giám mục có mặt ở đó bèn cất bài thánh ca Te Deum ngay tại chỗ, các nữ tu đứng dậy hát theo. Ngay đêm ấy Benedicta chết, tới lần bầu sau thì cả tu viện chỉ còn 10 người đủ tư cách bỏ phiếu, mà 8 trong số đó đang nằm ốm [11].
Dịch hạch còn quay lại châu Âu nhiều lần. Luca Landucci, 1 người bán thuốc ở Florence, ghi nhật ký suốt đợt dịch năm 1497. Ngày 28/10 ông ghi chuyện 1 người đàn ông ngồi trên ghế ở chợ Mercato Nuovo, tay chống cằm như muốn chợp mắt, rồi chết lúc nào những người đứng quanh không ai hay. Ông ngồi chết như thế mấy tiếng đồng hồ, mặt vẫn tựa lên tay, chẳng ai dám lại gần vì nghĩ ông chết vì dịch [12].
III - CÁC THẦY THUỐC NÓI GÌ
Các giáo sư khoa y Đại học Paris được vua Pháp hỏi thì trả lời rằng thủ phạm là 1 lần sao Thổ, sao Mộc và sao Hỏa thẳng hàng năm 1345, làm không khí thối rữa. Ở Avignon, bác sĩ riêng của Giáo hoàng Clement VI là Guy de Chauliac bắt ngài ngồi giữa 2 đống lửa lớn cho sạch không khí [13].
Năm 1349 ở Montpellier, 1 luận văn y học cho rằng dịch lây qua ánh mắt, người đang hấp hối nhìn ai thì truyền bệnh cho người ấy. Vậy nên ai đến thăm, bác sĩ, linh mục hay bạn bè, thì bảo người bệnh nhắm mắt lại rồi lấy khăn bịt mắt họ [14].
Raimondo Chalmel de Vinario, 1 bác sĩ ở Avignon, thì thật thà đến lạ. Năm 1382 ông viết rằng ca dịch hạch thật nào cũng vô phương cứu chữa, vì chính ông chưa chữa khỏi được ca nào! Ông thấy ai được trích máu cũng chết, nên bớt trích máu đi. Riêng người của giáo triều thì ông trích cho bằng được, Byrne cho rằng chỗ này lộ ra cái tính ghét giới tu sĩ của ông [15].
Theo Guy de Chauliac, năm 1348 các thành phố đặt lính gác cổng, người lạ không cho vào. Hễ khám thấy ai mang theo bột hay thuốc mỡ, lính bắt người ấy nuốt ngay tại chỗ, vì sợ đó là thuốc độc. Ở Prague khoảng năm 1406, bác sĩ Sigmund Albich viết rằng ông từng thấy người bệnh đã được dúi cây nến cháy vào tay, đám tang đã sửa soạn xong xuôi, vậy mà người ấy vẫn sống [16].
Ông bác sĩ đeo mặt nạ mỏ chim mà phim ảnh hay gắn với đại dịch này là thứ người Pháp nghĩ ra vào đầu thế kỷ 17, gần 300 năm sau [17].
IV - LUẬT CỦA CÁC THÀNH PHỐ
Chính quyền các nơi thì ra luật. Tháng 1/1374, lãnh chúa Milan là Bernabò Visconti ra lệnh ai nổi hạch phải lập tức rời thành ra đồng, ở trong lều hay trong rừng, cho tới khi chết hoặc khỏi. Linh mục các xứ phải khám người ốm rồi báo ngay cho người đi soát bệnh, không báo thì bị thiêu sống [18].
Tháng 5/1498, Landucci ghi rằng các quan phụ trách dịch ở Florence lôi người bệnh ra khỏi giường bệnh viện, gặp ai ốm trong thành là đuổi ra ngoài. Họ còn treo 1 sợi dây gai có ròng rọc ngay trước hội quán thợ làm áo giáp, để tra tấn những ai dám quay về [19].
Nhiều thành phố bắt người nhà người bệnh hay người từng vào thăm họ phải cầm gậy khi ra đường, cho người khác biết mà tránh. Ở Leiden bên Hà Lan năm 1515, ai quên cầm gậy thì phải chọn: nộp 2.000 viên gạch để xây tường thành hay để bị chặt tay rồi đuổi khỏi thành [20].
Ở Edinburgh khoảng năm 1530, 1 ông thợ may giấu chuyện vợ mắc dịch, lại còn để bà đi lễ nhà thờ trong lúc đang ốm. Ông bị đem treo cổ ngay trước cửa nhà mình, dây thừng đứt nên được giảm án xuống thành đuổi khỏi thành phố. 2 người đàn bà thì không được may như thế, 1 người bị cho là mang dịch từ Leith vào, 1 người mang bệnh mà vẫn đi nhà thờ, cả 2 bị dìm chết [21].
Ở Paris đợt dịch 1348 tới 1349, người ta sợ Chúa còn giận nên ra luật trị tội báng bổ. Lần đầu bị cắt 1 môi, lần thứ 2 bị cắt nốt môi kia với 1/3 cái lưỡi [22]. Năm 1438 ở Cairo, sultan tin dịch là do gian dâm với mại dâm, bèn cấm mọi phụ nữ ra đường, trừ bà già với nô lệ, ai trái lệnh thì tội chết. Sử gia Ibn Taghri Birdi chê luật ấy vừa vô ích vừa trái đạo, rồi ghi thêm rằng ít lâu sau chính ông sultan chết [23].
V - ĐI TÌM KẺ ĐẦU ĐỘC
Không ai biết bệnh từ đâu ra, nên người ta đi tìm kẻ đầu độc. Mùa xuân năm 1348, những người bị nghi đầu tiên là dân nghèo, ăn mày, người lang thang, rồi quan chức vùng Dauphiné và Savoy mới chuyển mũi dùi sang người Do Thái [24].
Tháng 9 và tháng 10/1348, ở lâu đài Chillon bên hồ Geneva, 11 người Do Thái bị tra tấn bằng bánh xe cho tới khi khai đã bỏ thuốc độc xuống giếng. Lời khai vênh nhau đủ chỗ, người bảo thuốc màu đỏ, người bảo màu đen, người bảo màu xanh, màu trắng, có người còn khai thuốc làm từ rắn thần basilisk. Biên bản ấy vẫn được gửi đi các thành phố khác làm bằng chứng [25].
Ngày 14/2/1349 ở Strasbourg, người Do Thái bị lùa vào 1 căn nhà gỗ dựng ngay trong nghĩa trang của họ rồi bị đốt. Biên niên gia Fritsche Closener ghi khoảng 2.000 người bị kết án, có sách khác ghi khoảng 1.500 người bị giết. Closener ghi thêm 1 chi tiết: các món nợ vay người Do Thái được coi như đã trả xong, tiền mặt thì đem chia cho các phường hội [26].
Tháng 1 năm ấy ở Basel, khoảng 600 người Do Thái bị thiêu trong 1 căn nhà làm riêng cho việc này trên 1 hòn đảo giữa sông Rhine, trong khi dịch phải tới tháng 5 mới về tới vùng này. Ở nhiều nơi, chỉ nỗi sợ thôi đã đủ để người ta ra tay [27].
Ngày 20/12/1348 ở Horw, người Do Thái bị đẩy xuống 1 cái hố chất đầy củi với rơm rồi châm lửa. Củi rơm cháy hết mà vẫn còn người già người trẻ sống dở. Theo bản dịch của Horrox thì chính những người Do Thái khỏe hơn nhặt gậy, nhặt đá đập vỡ đầu những người đang bò ra khỏi lửa, còn bản Byrne dẫn lại thì hiểu là những người đứng xem làm việc ấy. Chỗ này các nguồn có khác nhau [28].
Ở Constance ngày 2/4/1349, 1 tháng sau khi 330 người Do Thái trong thành bị thiêu, 1 người Do Thái đã rửa tội, đổi tên là Ulrich, khóa mình với các con trai trong nhà rồi châm lửa. Nhà cháy, người ta nghe ông gào qua cửa sổ rằng ông đốt nhà mình để ông cùng các con được chết là người Do Thái, không phải người Kitô giáo [29].
Giáo hoàng Clement VI ra mấy sắc lệnh trong năm 1348, lý lẽ của ông là người Do Thái cũng chết vì dịch như mọi người, vậy họ đầu độc ai. Sắc lệnh ấy gần như chả ai nghe [30].
Cùng lúc ấy xuất hiện những đoàn người tự đánh roi, đi từ thành này sang thành khác, cởi trần, quất roi có gắn đinh vào lưng cho tới chảy máu để chuộc tội thay cho cả thiên hạ. Riêng ở thành Tournai, từ tháng 8 tới tháng 10/1349 người ta đếm được 5.242 người thuộc 28 đoàn. Muốn gia nhập phải không nợ nần ai và tự lo 4 xu mỗi ngày. Tháng 10/1349 chính giáo hoàng ra sắc lệnh cấm họ [31].
Còn chuyện dịch hạch dính gì tới các cuộc săn phù thủy thì giới sử học nhìn chung đồng ý đại dịch đã góp phần tạo ra những căng thẳng xã hội sinh ra các vật tế thần ấy, dù phù thủy hiếm khi bị buộc tội gieo dịch [32].
VI - CHUYỆN CHÔN NGƯỜI CHẾT
Khoảng năm 1387, 1 ông già 72 tuổi tên John Palfryman kể lại cho sổ của giám mục ở Devon chuyện ông nhớ từ 57 năm trước. Hồi ấy ông làm người giúp việc cho cha xứ, được sai đánh xe tới Templeton chở xác người chết về Witheridge chôn vào ban đêm. Tới Belbyford thì xe đầy quá, 1 cái xác rơi xuống đường. Hôm sau người ta trả 1 xu cho William atte Henne ra nhặt về [33].
Năm 1349, làng Middlewich ở Cheshire vốn quen đem người chết lên nhà thờ mẹ ở Sandbach chôn. Mùa ấy không còn ai muốn đi 1 ngày đường cả đi lẫn về, xác bị vứt bên vệ đường, để thối dưới nắng đầu hè [34].
Ở Winchester giữa tháng 1/1349, 1 đám đông xông vào đánh thầy tu Ralph Staunton khi ông đang chôn 1 người chết, giằng lấy cái xác đem vứt ra bãi rác của thị trấn. Ít lâu sau, dân thị trấn dựng sạp chợ ngay trên nghĩa địa mới, đào lên những cái xác đang rữa dở rồi quăng ra ngoài. Các thầy tu phản đối thì họ dọa đốt nhà thờ lớn [35].
Ở Avignon năm 1348, lớp phu đào huyệt đầu tiên chết. Người ta thuê dân miền núi xuống thay, vì tin họ không nhiễm khí độc ở thung lũng, rồi lớp ấy cũng chết. Sau cùng người ta hứa trả tự do cho tù tử hình nào nhận đi đào huyệt.
Năm 1631 ở Montelupo bên Ý, 2 ông phu đào huyệt đòi trả hết lương còn nợ rồi mới làm, vì quan chức biết phu đào huyệt chết nhiều nên hay giữ lương lại. Bị dọa đày đi chèo thuyền galley (thuyền chèo tay, người chèo thường là tù), 2 ông dọa lại là sẽ ném xác trước cửa nhà ông thị trưởng, rồi chôn xác sát nhà 1 ông quý tộc thật. Bị tra tấn dữ dội, 2 ông vẫn nhất định không làm, cho tới khi chính ông thị trưởng chết vì dịch. Byrne ghi rằng ông thị trưởng thì 2 người chôn rất vui vẻ [36].
Ở Cairo năm 1429 tới 1430, sử gia Ibn Taghri Birdi ghi chuyện 18 người đánh cá ở chung 1 chỗ, trong 1 ngày chết 14 người. 4 người còn lại khiêng họ ra mộ, đang đi thì 3 người chết. Người cuối cùng 1 mình lo chôn hết số ấy, rồi cũng chết [37].
Tháng 10/1709, 1 lá thư từ Danzig viết rằng người chết được chôn 12, 20, 30, có khi 50 người chung 1 hố, xếp chồng lên nhau. Người viết thư nói ông nghe kể nhiều lần rằng có người chưa chết hẳn đã bị đám phu đào huyệt sốt ruột khiêng đi như khiêng xác súc vật [38].
Ở Lyon năm 1628 tới 1629, nhiều nhà tự chôn người chết trong vườn hay trong hang, để tránh đám phu nhặt xác vẫn quen lột sạch đồ trong nhà lẫn trên xác. Ở bệnh viện Saint-Laurent hết chỗ, có người bệnh chồng xác chết lên làm vách chắn gió thu. Người nghèo chạy về quê thì bị nông dân ném đá đuổi đi, có người chết đói, có người bị sói ăn trong rừng [39].
Byrne viết khá kỹ về những nhà dịch, nơi người ta dồn người bệnh vào. Năm 1630 ở Florence, nhà dịch San Miniato có 82 cái giường cho 412 người bệnh nữ, cứ 5 người 1 giường. Người mẹ sắp chết mang con nhỏ theo vào, mẹ chết thì đứa bé được thuê vú nuôi, vú nuôi chết thì mấy bữa cuối cùng của nó là sữa dê. Byrne còn ghi chuyện 2 người bệnh ở Đức trốn khỏi nhà dịch, chui vào 1 cái kho thóc, chính quyền đốt luôn cái kho với 2 người ở trong [40].
Năm 1665 ở Poole bên Anh, không còn ai làm y tá, người ta thuyết phục 1 cô gái đang chờ thi hành án tử hình trong nhà giam đi chăm sóc người bệnh, hứa sẽ ân xá, rồi sau đó cũng không ân xá cho cô [41]. Năm 1720 ở Marseille, phu nhặt xác chết hết, người ta đem tù khổ sai chèo thuyền ra làm thay. Trong 696 người, 70% chết [42].
VII - TỪ HONG KONG VỀ NHA TRANG
Hơn 5 thế kỷ sau Cái chết Đen người ta mới tìm ra con vi khuẩn gây bệnh. Tháng 6/1894 dịch hạch bùng ở Hong Kong, 2 nhà khoa học cùng tới săn vi khuẩn. Kitasato Shibasaburō, học trò của Robert Koch, được chính quyền Anh lo đủ mọi thứ, nhất là xác người chết để mổ. Alexandre Yersin, học trò của Pasteur, sinh ở Thụy Sĩ rồi nhập quốc tịch Pháp, thì sống trong 1 túp lều, phải nhờ 1 nhà truyền giáo người Ý kiếm xác cho mình.
Byrne còn viết Kitasato đút lót chính quyền thuộc địa để Yersin không được tiếp cận xác chết. Kitasato công bố trước. Có điều theo Byrne thì Kitasato đã nhầm, còn Yersin mổ mủ ở hạch sưng và tìm đúng thủ phạm. Con vi khuẩn ban đầu mang tên thầy Pasteur, tới năm 1971 mới đổi thành Yersinia pestis theo tên Yersin [43].
Yersin về sau lập 1 trạm nghiên cứu của Viện Pasteur ở Nha Trang, rồi bỏ hẳn nghề y để chuyển sang nuôi bò và trồng cao su. Năm 1898, Paul-Louis Simond, người từng làm việc ở Đông Dương từ 1890 tới 1896, chứng minh được bọ chét chuột là thứ truyền bệnh. Ông bị nhiều người chế giễu, tới năm 1903 mới có người làm lại và xác nhận [44].
Cũng năm 1898, ca dịch hạch đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam lại ở ngay cảng Nha Trang. Năm 1906 dịch vào Sài Gòn theo những chuyến hàng có chuột từ Quảng Châu và Hong Kong, tập trung quanh chợ lớn nhất thành phố. Năm 1911, dịch hạch thể phổi ở miền Tây làm 1.018 người mắc, 886 người chết ở Gia Định, Châu Đốc, Thủ Dầu Một, Sóc Trăng. Năm 1941 ở Châu Đốc, 1 người lây cho 6 gia đình, tất cả người mắc đều chết trong vòng 48 giờ [45].
Đợt nặng nhất tới vào thời chiến tranh. Thập niên 1960, Việt Nam chiếm 90% số ca dịch hạch được báo cáo trên toàn thế giới. Ở miền Nam, từ khoảng 15 ca mỗi năm giai đoạn 1956 tới 1960 vọt lên hơn 4.000 ca mỗi năm giai đoạn 1965 tới 1970, tổng cộng hơn 25.000 ca, con số thật chắc chắn còn cao hơn. Bom đạn và việc rải hóa chất xuống rừng, ruộng đã dồn cả chuột lẫn người vào những trại tị nạn chật chội quanh các thành phố. Ở Cam Ranh đầu năm 1966 có 44 người mắc, 80% trong số đó chết.
George Kohn viết: “most American personnel were vaccinated; not so the Vietnamese”, nghĩa là phần lớn lính Mỹ được tiêm vắc xin, người Việt thì không [46].
Nguồn:
[1] - The Time Traveller’s Guide to Elizabethan England - Ian Mortimer, chương 10 Hygiene, Illness, and Medicine. [2] - From the Brink of the Apocalypse: Confronting Famine, War, Plague and Death in the Later Middle Ages - John Aberth, chương War. [3], [5], [9], [16], [25], [29] - From the Brink of the Apocalypse - John Aberth, chương Plague. [4] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Caffa và mục Black Death: Origins and Early Spread. [6] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, phần Timeline và mục Economic Effects of Plague in Europe. [7] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 1 The arrival of the plague. [8] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Wills and Testaments và mục Notaries. [10] - The Scourging Angel: The Black Death in the British Isles - Benedict Gummer, chương 4 Colonial Ireland. [11] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 80 Deaths among the nuns of Malling. [12], [19] - The Black Death - Joseph P. Byrne, Primary Document 12 A Florentine Diary. [13] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Astrology và mục Chauliac, Guy de. [14] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 61 The transmission of plague. [15] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Vinario, Raimondo Chalmel de. [17] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Clothing và mục Physicians. [18] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 65 Plague regulations of Bernabò Visconti, lord of Milan, 1374. [20] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Wands. [21] - Encyclopedia of Plague and Pestilence - George C. Kohn, mục Edinburgh Plague of 1530. [22] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Paris, France. [23] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Moral Legislation. [24] - Poisoned Wells: Accusations, Persecution, and Minorities in Medieval Europe, 1321 to 1422 - Tzafrir Barzilay, chương 4 Plague, Accusation, and Persecution in Southern Europe. [26], [27] - From the Brink of the Apocalypse - John Aberth, chương Plague; Poisoned Wells - Tzafrir Barzilay, chương 5 Crisis, Political Leverage, and the Jews. [28] - The Black Death - Rosemary Horrox, tài liệu số 69 The persecution of the Jews; The Black Death - Joseph P. Byrne, chương 5 Psychosocial Reactions to the Black Death. [30] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Clement VI, Pope. [31] - From the Brink of the Apocalypse - John Aberth, chương Plague; Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Flagellants. [32] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Witches and Witchcraft. [33] - The Black Death - Joseph P. Byrne, chương 5 Psychosocial Reactions to the Black Death. [34] - The Scourging Angel - Benedict Gummer, chương 8 Cadwallader’s Curse, Plantagenet Pride. [35] - The Scourging Angel - Benedict Gummer, chương 6 Winter Crawl. [36] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Gravediggers. [37] - The Black Death - Joseph P. Byrne, chương 7 Individual and Civic Responses in Cairo and Florence. [38] - Encyclopedia of Plague and Pestilence - George C. Kohn, mục Danzig Plague of 1709. [39] - Encyclopedia of Plague and Pestilence - George C. Kohn, mục Lyon Plague of 1628–29. [40] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Lazarettos and Pest Houses. [41] - 1666: Plague, War and Hellfire - Rebecca Rideal, chương 3 The Turning Tide. [42] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Prisoners. [43] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Kitasato, Shibasaburo và mục Yersin, Alexandre. [44] - Encyclopedia of the Black Death - Joseph P. Byrne, mục Yersin, Alexandre và mục Simond, Paul-Louis. [45] - Encyclopedia of Plague and Pestilence - George C. Kohn, mục Vietnamese Plagues of the Early 1900s. [46] - Encyclopedia of Plague and Pestilence - George C. Kohn, mục Vietnamese Plagues of the 1960s.