Hồi đi học, có lẽ ai cũng từng thuộc lòng mấy cái mốc, rằng năm 1858 Pháp nổ súng ở Đà Nẵng, năm 1862 mất 3 tỉnh miền Đông, năm 1867 mất 3 tỉnh miền Tây, đến năm 1883, 1884 thì cả nước thành đất bảo hộ. Thuộc thì thuộc mà mình vẫn cứ thắc mắc mãi. Đã đem tàu, đem súng sang đánh, sao không nói toạc ra là xâm lược, mà lại bảo là sang bảo hộ? Bảo hộ thì bảo hộ cái gì, lấy quyền gì mà bảo hộ? Mà đã bảo hộ, sao lại bắt dân ta đóng sưu, đóng thuế, coi người Việt chẳng ra gì? Và sao ông cha ta đánh mãi tới năm 1954 mới đuổi được?
Tháng 6 năm 1884 (tức tháng 5 năm Giáp Thân), ở Huế, triều đình đem chiếc ấn nhà Thanh phong cho vua ta tới sứ quán Pháp, phá ra, đúc thành 1 khối bạc. Theo Thực lục, trước đó sứ Pháp là Patenôtre bảo các quan rằng, cái ấn ấy chỉ khi nào gửi quốc thư sang nhà Thanh mới dùng, “nay nước Đại Nam đã nhận nước Pháp bảo trợ, không làm phiên phục nước Thanh nữa”, thì nên đem trả lại nước ấy. Nguyễn Văn Tường bàn rằng, trả không thôi thì phá đi đúc cái khác. Sứ Pháp bằng lòng nhưng đòi phải làm ngay, không thì Pháp dừng việc ký điều ước [1]. Súng đã đặt ở cửa Thuận An, lính Pháp đã đóng trong kinh thành, vậy mà người Pháp vẫn còn bận tâm tới 1 cái ấn của nhà Thanh!
Cái điều ước mà sứ Pháp dọa dừng ấy chính là hòa ước Giáp Thân, ký ngày 6/6/1884. Khoản thứ nhất viết: “nước Đại Nam tự nhận nước Đại Pháp giúp đỡ” [1]. Từ phát súng đầu tiên ở Đà Nẵng năm 1858 tới đấy là 26 năm, Pháp lấy nước ta qua 4 bản hòa ước, mà chưa bản nào có chữ chiếm. Bản đầu dùng chữ nhượng, bản cuối dùng chữ giúp đỡ, người Pháp gọi là protectorat, ta dịch là bảo hộ. Đọc lại 4 bản hòa ước ấy trong Đại Nam thực lục, cùng mấy lời sứ Pháp, tướng Pháp để lại, mình thấy câu hỏi nào rồi cũng dính tới ông vua ngồi ở Huế.
I - CHỮ BẢO HỘ CÓ TRƯỚC PHÁT SÚNG ĐẦU TIÊN
Như ta biết, Pháp lấy cớ nhà Nguyễn giết giáo sĩ mà đem quân sang. Mùa hè năm 1857, giám mục người Tây Ban Nha là Diaz (ta gọi là Cố An) bị bắt ở Bắc Kỳ, 2 tháng sau thì bị xử tử. Ngặt cái là tin ấy phải tới tháng 10 mới về tới Paris, mà Hoàng đế Napoléon III thì đã phê chuẩn việc đánh nước ta từ tháng 7 kia [2]. Nghĩa là cái cớ đến sau cái quyết định!
Mà trước đó nữa, tháng 5 năm 1857, ở Paris đã có 1 ủy ban, gọi là Ủy ban Nam Kỳ, ngồi bàn chuyện nước ta. Họ cân nhắc địa vị của vua Nguyễn, tính xem nếu lật triều Huế thì dân có nổi dậy không, đánh xong thì cai trị ra sao, rồi đi đến kết luận rằng 1 chế độ bảo hộ là hợp với nước Pháp hơn cả, vì như thế Pháp ít phải ràng buộc mình, mà cái lợi thì chẳng kém gì chiếm thẳng. Đến khi đô đốc Rigault de Genouilly đem tàu sang, ông ta được dặn là nếu thuận lợi thì cứ lập ngay chế độ bảo hộ nhưng không được hy sinh quá mức, còn Napoléon III thì tính, nếu tình hình không như lời người ta báo về thì chỉ chiếm Đà Nẵng thôi [2].
Nói nôm na, chưa bắn phát nào, người Pháp đã tính xong cả rồi. Lật vua thì phải đánh với cả 1 nước dân nổi dậy, phải nuôi quân giữ từng làng, còn để vua ngồi đấy thì vua cai trị dân hộ cho, mà cái lợi vẫn về tay Pháp. Theo mình, Pháp không nói toạc ra là xâm lược, trước hết là vì nói toạc ra thì tốn kém hơn.
Vả lại, Paris cũng chưa bao giờ quyết đánh tới cùng, lúc nào cũng để ngỏ 1 đường lui. Cho nên lần nào Pháp cũng chỉ lấy 1 mảnh vừa với số tàu, số lính đang có trong tay, bắt triều Huế ký giấy, rồi đợi thời lấy mảnh khác. Mình đoán Pháp cứ mỗi lần lấy 3 tỉnh cũng là vì thế.
II - ĐÁNH ĐÀ NẴNG MÀ LẠI LẤY GIA ĐỊNH
Ngày 1/9/1858, tàu Pháp và Tây Ban Nha đưa tối hậu thư cho quan trấn thủ Quảng Nam, hẹn trong 2 giờ phải trả lời, chưa hết hạn đã nổ súng, hôm sau thì đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. Kế của họ là lấy Đà Nẵng làm bàn đạp, vượt đèo Hải Vân đánh thẳng vào Huế, buộc triều đình phải hàng. Họ còn trông vào lời các giáo sĩ báo về, rằng giáo dân sẽ nổi lên làm nội ứng [2].
Nhưng giáo dân không nổi lên. Nguyễn Tri Phương vào đắp lũy, đóng đồn, cầm chân giặc suốt 5 tháng trời. Quân Pháp không tiến được, lại ốm đau, chết dần vì không hợp thủy thổ, thiếu thuốc, thiếu lương. Ngày 4/1/1859, chính Rigault phải viết về nước: “chúng ta đang xuống dốc đến kiệt quệ ở Đà Nẵng” [2].
Tháng 2/1859, ông ta để lại chừng 1/3 quân giữ Đà Nẵng, còn bao nhiêu thì theo gió bấc kéo vào Gia Định, giữa tháng thì lấy được thành. Vì sao lại là Gia Định? Xin thưa, Gia Định là kho lúa, gạo Nam Kỳ chở ra nuôi kinh đô, lấy được Gia Định là cắt được đường gạo của Huế. Gia Định lại ở xa Huế, quân triều đình tiếp viện khó. Rồi từ Sài Gòn mà ngược sông Cửu Long thì lên được Cao Miên [2].
Bạn thử hình dung mình là vua Tự Đức lúc ấy. Giặc ở Đà Nẵng thì chỉ cách kinh thành 1 con đèo, cả triều đình lo giữ cửa ngõ kinh đô. Giặc vào Gia Định thì kinh đô chưa việc gì, khổ nỗi thuyền gạo từ Nam ra thì hết đường.
III - MỖI LẦN 3 TỈNH
Năm 1861 đại đồn Chí Hòa vỡ, Pháp lấy liền Định Tường, Biên Hòa, rồi Vĩnh Long. Ngày 5/6/1862 (tức năm Nhâm Tuất), Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ký hòa ước ở Sài Gòn, nhường trọn 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cùng đảo Côn Lôn cho Pháp, bồi 4 triệu đồng trong 10 năm, mở 3 cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho người Pháp, người Tây Ban Nha vào buôn bán, cho đạo Gia Tô được tự do [3].
Khoản 11 còn ghi rằng thành Vĩnh Long tạm để lính Pháp giữ, bao giờ vua “đình chỉ cuộc chiến loạn do lệnh Ngài tại các tỉnh Gia Định và Định Tường”, tức là dẹp xong nghĩa quân ở 2 tỉnh ấy, thì Pháp trả thành [3]. Đất thì Pháp lấy, còn việc dẹp những người Việt đánh Pháp trên đất ấy thì giao cho vua Việt làm. Thật kỳ dị!
Và triều đình làm thật. Thực lục ghi, từ khi hòa ước thành, triều đình “thông dụ cho Nam Kỳ nghỉ quân”, đòi Trương Định về nhận chức lãnh binh ở An Giang, rồi Phú Yên. Phan Thanh Giản viết thư bảo ông bãi binh, tướng Pháp là Bonard cũng nhiều lần cho người đưa thư dụ hàng. Trương Định thì “thề không cùng giặc cùng sống”, binh dân nổi lên ở 6 tỉnh đều theo ông cả [3]. Ông không về, đóng đại bản doanh ở Gò Công mà đánh tiếp, tới năm 1864 bị kẻ phản dẫn Pháp tới vây, ông tự sát. Tức là, kể từ năm 1862, người Việt nào cầm giáo đánh Pháp ở Nam Kỳ thì cũng đồng thời là kẻ trái lệnh vua.
Tháng 4/1866, sứ Pháp tới cửa Thuận An đưa thư, bảo rằng ở Hà Tiên, An Giang, Vĩnh Long có nhiều kẻ gian tặc gây khó cho họ, nên xin cai quản các nơi ấy [4]. Ta vẫn hay mỉa mai là Pháp xin đất, ai ngờ Thực lục ghi đúng chữ xin thật! Còn lý do thật thì nằm trong 1 bản báo cáo gửi Bộ Ngoại giao Pháp tháng 3/1866, rằng người ở Sài Gòn đều cho là 3 tỉnh miền Tây giàu chẳng kém 3 tỉnh đã chiếm, “và nếu chiếm nốt thì trong phút chốc, nó sẽ giúp tăng gấp đôi ngân sách thu nhập của chúng ta” [2].
Tháng 6/1867, đô đốc Lagrandière đem quân tới Vĩnh Long, mời Phan Thanh Giản xuống tàu bàn việc. Ông xuống tàu, tranh biện không được, chỉ xin đừng nhiễu hại dân, thế mà “một lát trở về thì quân Pháp liền bốn mặt vào thành” [4]. Ông viết thư bảo quan An Giang, Hà Tiên nộp thành cho khỏi đổ máu. Không tốn 1 viên đạn, thêm 3 tỉnh nữa mất. Phan Thanh Giản nhịn ăn 17 ngày rồi uống thuốc độc mà chết. Còn triều đình thì xin đổi 3 tỉnh vừa mất để lấy lại Biên Hòa, Pháp không trả lời [2].
Năm 1874, sau vụ Garnier đánh thành Hà Nội, triều đình ký hòa ước Giáp Tuất, nhận rằng cả 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc quyền nước Pháp. Khoản II của bản này viết, vua nước Đại Pháp “biết rõ vua nước Đại Nam là giữ quyền tự chủ, không theo phục nước nào”, nên hứa giúp, hễ nước Nam có giặc trong hay giặc ngoài mà vua xin thì Pháp giúp ngay, “các phí tổn đều do nước Đại Pháp tự chịu và không đòi trả lại”. Khoản IV, Pháp cho vua thêm 5 chiếc tàu chiến, 100 cỗ súng lớn, 1.000 cây súng tay “mà không đòi tiền”. Đổi lại, khoản III ghi vua phải đền đáp tấm lòng hứa giúp ấy, có giao thiệp với nước ngoài nào thì phải theo ý Pháp [5].
Ô hay, kẻ vừa lấy 6 tỉnh lại đem tàu súng cho không người mất đất, còn hứa đánh giặc giúp mà không lấy tiền! Tử tế đến thế là cùng. Nhưng nghĩ kỹ thì chẳng lạ. Ông vua đủ sức dẹp giặc trong nước thì Pháp đỡ phải đem quân đi dẹp, mà giặc trong nước lúc ấy, phải chăng có cả những người như Trương Định? Bộ Lịch sử Việt Nam của Viện Sử học cũng cho rằng, từ hòa ước này, trong thực tế nước ta đã thành đất bảo hộ của Pháp, dù trên giấy chưa ghi chữ ấy [2].
IV - PHÁP LẤY QUYỀN GÌ MÀ BẢO HỘ?
Năm 1882, Rivière đánh thành Hà Nội lần nữa, Hoàng Diệu thắt cổ chết ở Võ Miếu. Năm 1883, Rivière chết ở Cầu Giấy. Tháng 7 năm ấy vua Tự Đức mất, không có con nối dõi. Tháng 8, đô đốc Courbet đem tàu vào cửa Thuận An, cửa biển ngay trước kinh thành Huế, đưa tối hậu thư đòi giao các pháo đài trong 2 giờ, rồi bắn liền mấy ngày, đến tối 20/8 thì lấy hết Thuận An, các quan trấn thủ đều chết trận [6], [2].
Triều đình sai Nguyễn Trọng Hợp ra xin đình chiến. Cao ủy Pháp là Harmand lên Huế, bảo các quan rằng Pháp không muốn chinh phục nước Nam, chỉ cần nước Nam nhận cho Pháp bảo hộ, rồi cho 48 giờ để chọn hòa hay chiến [7]. Ngày 25/8/1883, Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp ký [6].
Không muốn chinh phục, mà súng vừa bắn tan các đồn ở cửa biển trước kinh đô! Quả là 1 kiểu lịch sự hiếm thấy. Tháng 6/1884 thì ký nốt bản Giáp Thân như mình đã nhắc ở đầu bài.
Khoản 16 của bản ấy ghi, vua “cai trị trong nước, trừ ra những điều đã định ở trong hòa ước ngoài, còn đều theo như cũ”. Nhưng khoản 5 thì cho quan Khâm sứ Pháp ở ngay trong kinh thành, có quân Pháp theo hầu, được thẳng vào tâu vua. Khoản 7 ghi ở Bắc Kỳ, quan Pháp “có kiểm được quan Nam nào nên thay đổi, có xin thay đổi ấy, sẽ thay đổi”. Khoản 15 cho Pháp đóng quân ở bất cứ chỗ nào cần, để giúp vua cho trong nước “khỏi phải giặc cướp trong ngoài”. Khoản 17 thì cấm nước Nam vay tiền nước ngoài nếu Pháp không đồng ý [1]. Tức là vua vẫn cai trị như cũ, chỉ ngặt nỗi quan thì Pháp thay, quân thì Pháp đóng, vay tiền thì phải hỏi Pháp, v.v. và v.v.
Vậy Pháp lấy quyền gì mà bảo hộ? Trên giấy tờ, ấy là chữ ký của vua. Lần nào cũng súng nổ trước rồi mới ký giấy, mà lần nào Pháp cũng đòi cho bằng được tờ giấy ấy.
Pháp cần cái chữ ký ấy, theo mình, trước hết là để nói với các nước ngoài, nhất là nước Anh và nhà Thanh, rằng đất là vua Nam tự nhượng, bảo hộ là vua Nam tự nhận, chẳng nước nào có cớ xen vào. Chiếc ấn nhà Thanh bị đúc thành khối bạc cũng là vì thế. Còn với dân ta, có chữ ký của vua rồi thì ai đánh Pháp cũng thành kẻ trái lệnh vua.
V - BẢO HỘ LÀ BẢO HỘ CÁI GÌ?
Đọc kỹ thì thấy, cái được giữ “như cũ” là ngai vua, lăng miếu, triều phục, phẩm hàm. Còn việc thật thì Pháp nắm dần. Năm 1885 kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở phát dụ Cần Vương, Pháp lập ngay anh của vua là Đồng Khánh lên thay. Từ đấy, ông vua nào lên ngôi cũng phải được Pháp ưng, từ Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân tới Khải Định, Bảo Đại. Ông nào chống thì bị đày, Hàm Nghi sang Algérie, Thành Thái với Duy Tân sang đảo Réunion.
Năm 1897, toàn quyền Doumer bỏ viện Cơ mật ở Huế, thay bằng Hội đồng Nội các do Khâm sứ Pháp chủ tọa, bắt quan lại hàng tỉnh ở Bắc Kỳ phụ thuộc thẳng vào Thống sứ Pháp [8]. Năm 1925 Khải Định mất, vua Bảo Đại mới 12 tuổi còn đang đi học bên Pháp, triều đình ký với Khâm sứ 1 bản thỏa ước, từ đó việc cai trị ở Trung Kỳ về tay người Pháp gần hết, vua chỉ còn lo tế lễ, ban phẩm hàm, xét ân xá.
Vậy vua triều Nguyễn thời ấy còn quyền gì? Vua được ngồi ngai, tế Nam Giao, phong sắc cho thần làng, ban phẩm hàm cho quan. Ngoài mấy việc ấy thì vua không có quân, không tự thu thuế, không được giao thiệp với nước nào, không bổ được ông quan nào mà Pháp không ưng, cũng không được chống Pháp, chống thì mất ngai.
So với các đời Lý, Trần, Lê thì khác hẳn. Toàn thư ghi, cuối năm 1284, giặc Nguyên sắp sang, Thượng hoàng Trần Thánh Tông triệu các bô lão trong nước tới thềm điện Diên Hồng, ban yến, hỏi kế. Các bô lão “đều nói Đánh” [9]. Thời ấy, vua mất nước thì mất luôn ngai, nên giữ nước với giữ ngai là 1 việc. Đến thời bảo hộ, Pháp tách 2 việc ấy ra làm 2. Ông vua nào muốn giữ ngai thì phải ngồi im cho Pháp cai trị, ông nào muốn giữ nước thì phải bỏ ngai mà chạy, như Hàm Nghi năm 1885, Duy Tân năm 1916.
Quan cũng thế. Thời Lê, người đỗ đạt ra làm quan, giữ chức hay mất chức là ở vua. Thời bảo hộ, quan Pháp thấy quan Nam nào “nên thay đổi” thì thay, nên ông quan nào muốn giữ ghế thì phải vừa lòng quan Pháp trước đã. (Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, những người đem quân đi đánh Phan Đình Phùng ở Hương Khê, cũng đều là quan triều Nguyễn cả.) Nói tóm gọn lại thì Pháp bảo hộ cái ngai, để người ngồi trên ngai trông nom dân hộ Pháp.
VI - CÒN DÂN THÌ AI BẢO HỘ?
Trong cả 4 bản hòa ước, dân ta chỉ hiện ra ở mấy khoản về đạo, về buôn bán, về bắt giặc giao cho Pháp. Ở Nam Kỳ, người Việt thành dân thuộc Pháp mà không được làm công dân Pháp. Từ năm 1881, Pháp áp ở Nam Kỳ chế độ dân bản xứ, quan cai trị người Pháp được tự ý phạt người Việt mà không cần đưa ra tòa. Ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ, người Việt là dân được bảo hộ, tức là dân của 1 ông vua mà chính ông ấy cũng phải nghe lời Khâm sứ. Thế thì còn quyền công dân nào mà tước, khi người Việt có bao giờ được tính là công dân đâu?
Tuyên ngôn độc lập năm 1945 kể tội Pháp, rằng “Chúng tuyệt đối không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào”, “Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta”, “Chúng dùng thuốc phiện, rượu, cồn, để làm cho nòi giống ta suy nhược”, “Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý” [10]. Mà 3 chế độ ấy chính là từ 4 bản hòa ước mà ra. Nam Kỳ thành thuộc địa nhờ 2 bản năm 1862 và 1874, Trung Kỳ, Bắc Kỳ thành đất bảo hộ nhờ 2 bản năm 1883 và 1884, trong đó Trung Kỳ còn để vua cai trị trên giấy, Bắc Kỳ thì gần như Pháp cai trị thẳng. Cùng 1 nước, người Sài Gòn, người Huế, người Hà Nội ra 3 hạng dân.
Mùa xuân năm 1908, dân Quảng Nam kéo lên tòa sứ xin giảm sưu thuế, rồi lan ra khắp Trung Kỳ. Pháp nổ súng vào đám đông, bắt rất nhiều người, Trần Quý Cáp bị chém ở Khánh Hòa, Phan Châu Trinh bị đày ra Côn Đảo. Dân đi xin giảm thuế thì bị bắn, mà kẻ bắn lại là kẻ đang bảo hộ họ!
Pháp coi khinh người Việt, mình nghĩ, cũng từ cái chữ bảo hộ mà ra. Người được bảo hộ, theo lời các hòa ước, là người tự nhận mình không giữ nổi nhà mình, phải nhờ người ngoài trông hộ. Đã là người phải nhờ trông hộ thì ý kiến của họ chẳng ai cần hỏi đến.
VII - SAO TỚI NĂM 1954 MỚI ĐUỔI ĐƯỢC PHÁP?
Ông cha ta có đánh, đánh suốt. Năm 1861 Nguyễn Trung Trực đốt tàu Espérance trên sông Nhật Tảo, rồi Trương Định ở Gò Công, Cần Vương từ năm 1885, Phan Đình Phùng ở Hương Khê tới năm 1896, Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế tới năm 1913, vua Duy Tân năm 1916, Yên Bái năm 1930, Nam Kỳ năm 1940, v.v. và v.v.
Còn vì sao thua, thì 1 phần là nước ta lúc ấy rối ren thật. Đời Tự Đức nổi lên hết vụ này tới vụ khác, năm 1854 có Cao Bá Quát ở Mỹ Lương, năm 1866 có giặc Chày Vôi nổi ngay ở kinh thành Huế, ngoài Bắc thì Tạ Văn Phụng xưng là con cháu nhà Lê, rồi giặc khách bên Tàu tràn sang. Quân triều đình vừa phải đánh Pháp ở Nam, vừa phải dẹp loạn ở Bắc, mà súng thì vẫn là súng hỏa mai. Tự Đức ký hòa ước năm 1862 cũng là để rảnh tay mà dẹp loạn ngoài Bắc.
Nhưng theo mình, lẽ lớn hơn vẫn nằm ở ông vua. Hơn 30 năm đầu, người Việt đánh Pháp đều đánh dưới danh nghĩa vua, Cần Vương nghĩa là giúp vua. Mà vua thì Pháp giữ. Hàm Nghi chạy ra rừng thì Pháp lập Đồng Khánh ngồi ở Huế, ra dụ bảo dân về làm ăn, quan Nam triều dẫn lính đi dẹp Cần Vương. Năm 1888 Hàm Nghi bị bắt, phong trào tàn dần, đến năm 1896 Phan Đình Phùng mất thì coi như hết. Năm 1916 Duy Tân bỏ cung đi khởi nghĩa, việc bị lộ, ông bị bắt rồi bị đày. Đấy là lần cuối 1 ông vua nhà Nguyễn đánh Pháp.
Từ đấy về sau người ta thôi đợi vua. Những người như Nguyễn Thái Học, rồi Việt Minh, đánh Pháp mà không cần lệnh của ai trong cung. Mùa thu năm 1940 Nhật vào Đông Dương, Pháp “quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật”. Ngày 9/3/1945 Nhật đánh úp, quân Pháp “hoặc bỏ chạy, hoặc đầu hàng”. Tuyên ngôn độc lập viết: “thế là chẳng những chúng không bảo hộ được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật” [10]. Bảo hộ đến thế thì thôi!
Ngày 30/8/1945, ở Ngọ Môn, Bảo Đại trao ấn kiếm cho chính phủ mới, để lại 1 câu nhiều người còn nhớ: “trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”. 3 hôm sau, Tuyên ngôn độc lập tuyên bố “xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam” [10].
Pháp quay lại, lại đánh, lại đi tìm ông vua cũ. Năm 1949 họ ký với Bảo Đại hiệp định Élysée, lập ra Quốc gia Việt Nam. Nhưng lần này Bảo Đại có ký thì dân cũng chẳng theo, vì người đánh Pháp đã thôi đánh vì vua từ lâu. Pháp phải đánh thật, đánh 9 năm, tới ngày 7/5/1954 thì thua ở Điện Biên Phủ. Từ ngày chiếc ấn nhà Thanh bị đúc thành khối bạc ở sứ quán Pháp tới đấy là 70 năm.
Nguồn:
[1] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, phần chép năm Kiến Phúc thứ 1 (1884), các mục ký hòa ước Giáp Thân và phá ấn nhà Thanh. [2] - Lịch sử Việt Nam, tập 6 (từ năm 1858 đến năm 1896) - Viện Sử học, Võ Kim Cương chủ biên, chương I, II và III. [3] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ tứ kỷ, năm Tự Đức thứ 15 (1862), các mục hòa ước Nhâm Tuất và Trương Định. [4] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ tứ kỷ, các năm Tự Đức thứ 19 (1866) và 20 (1867). [5] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, Chính biên Đệ tứ kỷ, năm Tự Đức thứ 27 (1874), mục hòa ước Giáp Tuất. [6] - Đại Nam thực lục - Quốc sử quán triều Nguyễn, phần chép năm Quý Mùi (1883), các mục mất Thuận An và hòa ước Quý Mùi. [7] - Tối hậu thư của Jules Harmand gửi triều đình Huế, tháng 8 năm 1883. [8] - Việt Nam thời Pháp đô hộ - Nguyễn Thế Anh. [9] - Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển V, năm Giáp Thân (1284). [10] - Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 - Hồ Chí Minh, in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4.