“Cái gì không giết được ta sẽ làm ta mạnh hơn”. “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. “Mục đích biện minh cho phương tiện”. 3 câu này mình gặp gần như mỗi ngày, trên mạng và trong lời sếp dặn nhân viên. Mình đã đọc lại chính những cuốn sách có 3 câu ấy, đọc cả đoạn đứng trước và đoạn đứng sau. Câu thì bị cắt mất 1 vế, câu bị đổi 1 chữ, câu không hề có trong sách. Mình chép lại nguyên văn kèm chương đoạn, rồi thử đoán vì sao mình sửa chúng theo đúng hướng ấy.
I - CÂU CỦA NIETZSCHE
Câu đầu là của Nietzsche. Nó nằm trong cuốn Twilight of the Idols (Hoàng hôn của các thần tượng), phần Châm ngôn và mũi tên, câu số 8. Nguyên câu, theo bản dịch của Thomas Common: “Từ trường quân sự của cuộc đời. Cái gì không giết được tôi làm tôi mạnh lên” [1]. Cả phần ấy là mấy chục câu ngắn, câu nào cũng 1, 2 dòng. Ngay lời tựa, ông viết rằng chiến tranh xưa nay là kế lớn của những đầu óc đã chìm quá sâu vào mình, rằng ngay trong việc bị thương cũng có sức chữa lành. Ông ký lời tựa ở Turin ngày 30/9/1888 [1].
Cũng mùa thu ấy ông viết Ecce Homo và dùng lại câu này, ở chương Vì sao tôi khôn ngoan đến thế, mục 2. Lần này ông kể bệnh. Năm 36 tuổi, đúng tuổi bố ông mất, ông xuống tới đáy, mắt không nhìn rõ quá 3 bước chân, có cơn đau đầu kéo 3 ngày liền kèm nôn mửa. Ông bỏ ghế giáo sư ở Basel năm 1879. Rồi ông kể mình tự chữa: ép mình sống 1 mình, cắt hết nếp sống cũ, không cho ai nuông chiều, không cho ai chăm sóc. Ông viết, theo bản dịch của Ludovici: “Điều kiện đầu tiên để làm được việc ấy, nhà sinh lý học nào cũng nhận, là tận gốc người ta phải lành. Một bản chất vốn bệnh hoạn thì không thể khỏe lại được” [2]. Sau đó ông mới tả 1 loại người sinh ra đã được trời cho. Người ấy đoán ra thuốc cho vết thương của mình, biết xoay tai nạn nặng thành cái lợi, “cái gì không giết được anh ta làm anh ta mạnh lên” [2].
Đọc đủ thì câu này là lời tả 1 loại người, tả sau khi chuyện đã xảy ra. Nó không hứa trước với ai cả. Trong sổ ghi chép năm 1887, ông còn đặt nó trong 1 câu hỏi: người ta nên chống lại đau khổ và bệnh tật tới mức nào, khi mà lúc nào cũng còn ngỏ chuyện mình có thắng nổi chúng hay không [3]. Chính ông cũng coi đó là ván cược. Lời giới thiệu trong bộ toàn tập ghi rằng ông suy sụp hoàn toàn vào những ngày đầu năm 1889, tức chỉ hơn 3 tháng sau khi ký lời tựa kia.
Bây giờ mình dùng câu ấy thì bỏ mấy chữ “từ trường quân sự của cuộc đời”, nên 1 câu của lính thành câu của mọi nhà. Mình bỏ luôn cả điều kiện tận gốc phải lành, nên câu tả người khỏe thành lời hứa cho người đang gục.
Mình đoán người ta cắt đi vì có lợi. Người đang đau cần tin rằng cái đau này rồi sẽ sinh lãi, khổ mà biết trước là có lời thì đỡ khổ hơn nhiều. Người đứng ngoài cũng được lợi, mà cái lợi này kín hơn. Ông bố đánh con hay ông sếp vắt nhân viên đều có sẵn 1 câu để nói. Câu ấy còn chuyển món nợ sang người bị đau: anh không mạnh lên được thì tại anh. Trong khi ngoài đời ai cũng từng thấy có những cú đánh không giết mình mà làm mình yếu đi cả đời.
II - CÂU CỦA TÔN TỬ
Câu thứ 2 ở cuối thiên 3 Binh pháp Tôn Tử, thiên Mưu công. Nguyên văn là “bách chiến bất đãi”. Đãi là nguy. Biết người biết ta thì đánh trăm trận không lâm nguy, Lionel Giles dịch sang tiếng Anh là khỏi phải lo về kết quả của trăm trận [4]. Câu còn 2 vế sau: biết ta mà không biết người thì cứ 1 trận thắng lại 1 trận thua, không biết người cũng không biết ta thì đánh trận nào nguy trận ấy.
Cả thiên này bàn chuyện thắng mà khỏi phải đánh. Ngay câu thứ 2 của thiên, Tôn Tử viết “bách chiến bách thắng, phi thiện chi thiện giả dã”, trăm trận đánh trăm trận thắng chưa phải là giỏi nhất, không đánh mà khuất phục được quân địch mới là giỏi nhất. Ông tả luôn ông tướng nóng ruột xua quân trèo thành như kiến, chết mất 1 phần 3 mà thành vẫn không hạ được. Trước câu “biết người biết ta” là 5 điều biết trước được thắng, điều đầu tiên: ai biết lúc nào nên đánh, lúc nào không nên đánh thì thắng [4].
Sang đầu thiên 4, ông nói rõ vì sao chỉ dám hứa không nguy. Người giỏi đánh trận thời xưa trước hết làm cho mình không thể bị thua, rồi chờ lúc địch có thể bị thắng. Không thể bị thua là ở mình, có thể thắng được là ở địch. Rồi ông chốt: “thắng khả tri nhi bất khả vi”, thắng thì biết trước được chứ không cố làm ra được [4]. Tức là hiểu mình hiểu người chỉ giữ cho mình khỏi chết. Còn thắng hay không thì phải chờ bên kia sơ hở.
Vậy dùng cho đúng thì câu này dạy người ta biết để mà tránh. Biết mình yếu chỗ nào để đừng bước vào trận ấy. Chữ thắng trong sách Tôn Tử lúc nào cũng đi kèm chữ chờ.
Mình sửa có 1 chữ, từ không nguy sang thắng. 4 chữ “trăm trận trăm thắng” có thật trong sách, có điều Tôn Tử đem nó ra để chê, mình thì lấy đúng cái ông chê ghép vào câu ông dạy. Mà sửa như vậy thì bán được. Lớp dạy cách thắng thì đông, lớp dạy cách khỏi chết thì chẳng ai mở. Câu đã sửa hứa rằng cứ chịu khó tìm hiểu là nắm chắc kết quả. Ai cũng thích nghe thế, vì nó cho mình cảm giác mọi thứ nằm trong tay mình. Câu gốc thì nói thẳng là 1 nửa ván cờ nằm trong tay người khác, nghe mất hứng.
III - CÂU KHÔNG CÓ TRONG SÁCH CỦA MACHIAVELLI
Câu thứ 3 mình tìm trong Quân vương của Machiavelli không thấy. Peter Bondanella, người dịch bản in của Oxford, chú hẳn 1 dòng ở chương 18 rằng Machiavelli chưa bao giờ nói mục đích biện minh cho phương tiện [6].
Machiavelli viết cuốn này năm 1513. Năm trước đó nền cộng hòa Florence sụp đổ, nhà Medici quay lại. Ông bị cách chức, bị tra tấn, rồi về quê ngồi viết. Ở chương 15 ông nói rõ mình định viết gì: người ta sống ra sao khác xa với người ta nên sống ra sao, nên ông chọn viết cái thật [5].
Chương 18 bàn chuyện vua có nên giữ lời hứa không. Ông viết rằng ông vua đừng rời điều thiện nếu còn tránh được, tới khi bị buộc thì phải biết bước vào điều ác. Tiếp đó ông chuyển sang tả thiên hạ. Người ta xét bằng mắt nhiều hơn bằng tay, ai cũng thấy anh tỏ ra thế nào, ít người sờ được anh thật ra là gì. Rồi mới tới câu hay bị trích, tiếng Ý là “si guarda al fine”: trong hành động của mọi người, nhất là của các quân vương, chỗ không có tòa nào để kêu, người ta nhìn vào kết cục. Ông vua cứ thắng và giữ được nước thì phương tiện của ông ta sẽ được xét là vẻ vang, ai cũng khen, vì đám đông bao giờ cũng bị vẻ ngoài và kết quả cuốn đi [5].
Đọc kỹ thì chủ ngữ của câu ấy là đám đông. Machiavelli đang tả cách chúng ta chấm điểm kẻ thắng. Câu ấy chẳng cho ai phép gì.
Chỗ ông nói mạnh nhất nằm ở cuốn khác, Luận về Livy, quyển 1 chương 9, đoạn bàn chuyện Romulus giết người anh em ruột lúc lập thành Roma. Ông viết khi việc làm buộc tội anh ta thì kết quả tha cho anh ta. Chữ ông dùng là tha. Ông còn kèm 2 điều kiện. Người ấy phải làm vì cái chung chứ không vì mình. Người ấy cũng không được để lại quyền ấy cho con cháu. Ông viết thêm rằng kẻ đáng trách là kẻ dùng bạo lực để phá, còn người dùng nó để sửa chữa thì không [7].
Bây giờ câu “mục đích biện minh cho phương tiện” được dùng cho chuyện quay cóp, chuyện chơi xấu đồng nghiệp. Toàn là việc riêng, đúng cái trường hợp Machiavelli loại ra đầu tiên.
Câu bịa này sống dai vì nó có lợi cho cả 2 phía. Người sắp làm việc khó coi có 1 ông triết gia đứng tên giùm. Người muốn mắng thì có sẵn 1 bị cáo, khỏi phải đọc sách. Lúc đem câu ấy ra dùng, người ta thường đã chọn xong phương tiện rồi. Câu trích tới sau, để cho yên bụng.
Và điều Machiavelli tả thì đến giờ vẫn đúng với chính chúng ta. Ai làm bậy mà thắng thì thiên hạ vẫn khen là giỏi.
Sửa xong thì cả 3 câu đều dễ nghe hơn bản gốc. Cái điều kiện của Nietzsche, phần may rủi của Tôn Tử với đám đông của Machiavelli đều là thứ mình không muốn bị nhắc.
Mình rà lại mấy câu chính mình hay trích. Câu nào mình thích trích cũng là câu mình đang cần nó đúng.
P/S: các câu trích mình đã đối chiếu với sách. Lời dịch tiếng Việt là của mình, dịch từ các bản tiếng Anh ghi trong mục Nguồn.
Nguồn:
[1] - Twilight of the Idols - Nietzsche, Thomas Common dịch, lời tựa và phần Châm ngôn và mũi tên, câu số 8. [2] - Ecce Homo - Nietzsche, Anthony Ludovici dịch, chương Vì sao tôi khôn ngoan đến thế, mục 2. [3] - The Will to Power - Nietzsche, Anthony Ludovici dịch, đoạn 934. [4] - The Art of War - Tôn Tử, Lionel Giles dịch, bản song ngữ Hán Anh, thiên 3 và thiên 4. [5] - Il Principe - Machiavelli, bản dịch W. K. Marriott, chương 15 và 18. [6] - The Prince - Machiavelli, Peter Bondanella dịch, Oxford, 2005, chương 18. [7] - Discourses on Livy - Machiavelli, quyển 1 chương 9.