Tháng 8/2026, trong các cuộc tranh luận về vụ hiếp dâm ở Phú Thọ, người ta nhắc đi nhắc lại 1 con số: 100.000 USD. Lúc mình viết bài này, đó vẫn là 1 con số xuất hiện trên mạng xã hội, chưa phải chi tiết đã được xác nhận trong hồ sơ vụ án.

Nhưng cứ giả sử thôi, nếu cô ấy nhận 100.000 USD, cách bạn nhìn cô ấy có thay đổi không? Sẽ có 1 bộ phận người lập tức nghĩ khác. Bởi trong đầu nhiều người, 1 người bị tổn thương và 1 người nhận 1 khoản tiền lớn dường như thuộc về 2 câu chuyện khác nhau. Một bên gắn với đau đớn, công bằng. Một bên lại rất dễ bị nhìn thành tính toán, vụ lợi.

Đời thực hiếm khi đơn giản như vậy. 1 người có thể vừa muốn sự việc được làm rõ, vừa cần tiền để điều trị tâm lý, thuê luật sư, nghỉ việc, chuyển nơi ở hoặc bắt đầu lại cuộc sống sau 1 biến cố. 2 điều đó không loại trừ nhau. 1 người nhận tiền không có nghĩa họ đang bán câu chuyện của mình, cũng giống như 1 người từ chối tiền không tự động chứng minh rằng họ chỉ đang theo đuổi công lý.

Dĩ nhiên trong vụ việc cụ thể này, gia đình Quỳnh Tâm cho biết cô ấy đã từ chối khoản tiền được nhắc tới. Mình vẫn muốn hỏi câu trên, bởi trong rất nhiều vụ việc khác, chỉ cần tiền xuất hiện trong câu chuyện là cách xã hội nhìn người bị hại đã thay đổi, trước cả khi biết toàn bộ sự thật.

Luật pháp nhìn khoản tiền này khác với dư luận. Bồi thường là quan hệ dân sự giữa các bên, 2 bên có thể thỏa thuận mức hỗ trợ. Nếu không thỏa thuận được, pháp luật Việt Nam có cách tính riêng. Theo Điều 592 Bộ luật Dân sự, khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, mức bù đắp tổn thất tinh thần tối đa là 10 lần mức lương cơ sở.

Với mức lương cơ sở lúc mình viết bài là 2,53 triệu đồng/tháng, con số này khoảng 25,3 triệu đồng. Trong khi đó, 100.000 USD tương đương hơn 2,5 tỷ đồng, lớn hơn rất nhiều lần so với mức bồi thường tổn thất tinh thần mà tòa án thường xem xét trong các vụ việc tương tự.

Trong thực tế xét xử, nhiều vụ án liên quan đến xâm phạm danh dự, nhân phẩm cũng chỉ được tuyên ở mức gần giới hạn này. Trong 1 vụ án hiếp dâm tại Sơn La, bị hại yêu cầu bồi thường 200 triệu đồng nhưng tòa tuyên 18 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần. 1 vụ khác tại Hà Nội, phía bị hại đề nghị 100 triệu đồng nhưng tòa không chấp nhận toàn bộ yêu cầu mà chỉ tuyên mức phù hợp với quy định pháp luật.

Vì vậy, nếu giả sử con số 100.000 USD là có thật, đây sẽ là 1 khoản tiền rất lớn so với mức bồi thường mà tòa thường xác định. Nó chỉ có thể là 1 thỏa thuận riêng giữa các bên, và pháp luật cho phép điều đó. Nhưng nhận tiền không đồng nghĩa vụ án đúng hay sai. 1 vụ án hình sự vẫn phải dựa trên chứng cứ, lời khai, kết quả điều tra và phán quyết của cơ quan tố tụng.

Cách xã hội nhìn những vụ việc như vậy cũng lạ. Khi người bị buộc tội chủ động bồi thường, nhiều người xem đó là dấu hiệu của việc nhận trách nhiệm, sửa chữa hậu quả. Nhưng khi người bị hại nhận khoản tiền ấy, 1 bộ phận dư luận lại bắt đầu đặt câu hỏi về động cơ.

Tâm lý này không chỉ có ngoài đời mà từng được nghiên cứu trong môi trường tư pháp. Trong 1 số thí nghiệm, người tham gia được cho đọc những tình huống giả định về vụ án hiếp dâm. Khi thêm thông tin rằng người bị hại đang yêu cầu 1 khoản tiền lớn trong vụ kiện dân sự, đánh giá của người đọc thay đổi rõ rệt. Họ dễ cho rằng người bị hại kém đáng tin hơn, dù thông tin về việc hành vi có xảy ra hay không vẫn y nguyên.

Khoản tiền trong những trường hợp như vậy rất dễ khiến người ngoài nhìn lại toàn bộ câu chuyện bằng 1 ánh mắt khác. Nhưng tiền không phải bằng chứng. Nó không chứng minh 1 người nói thật hay nói dối, cũng không tự quyết định được 1 vụ án đúng hay sai.

Mà tiền cũng chỉ là 1 trong rất nhiều thứ người ta đem ra để phán xét người bị hại. Khóc nhiều quá thì có người cho rằng đang kích động, tâm lý không ổn định, lời khai vì thế không đáng tin. Bình tĩnh quá lại bị nói là chẳng giống 1 người vừa trải qua tổn thương, thậm chí bị suy diễn thành đồng thuận. 1 phân tích gộp từ nhiều thí nghiệm tâm lý cho thấy người thể hiện cảm xúc mạnh thường được đánh giá đáng tin hơn người bình tĩnh, nhưng cách 1 người biểu lộ cảm xúc không chứng minh được lời họ nói là thật hay giả.

Cùng 1 tình huống, người bị hại rất dễ rơi vào thế nào cũng bị nghi ngờ. Muốn vụ việc được xử lý đến cùng thì có người nói đang cay cú, đang mượn pháp luật để trả thù. Muốn hòa giải thì lại bị xem như bằng chứng cho thấy chuyện đó không nghiêm trọng. Trình báo chậm thì bị hỏi tại sao không nói ngay. Trình báo ngay nhưng vẫn còn liên lạc với người kia thì lại bị suy diễn thành chưa chắc đã bị ép buộc.

Nhận tiền thì bị cho là tính toán. Không nhận tiền, theo đuổi vụ việc đến cùng thì lại có người nói đang cố làm lớn chuyện dù phía bên kia đã có thiện chí bồi thường. Trong rất nhiều trường hợp, người ngoài luôn muốn tìm 1 chi tiết để ghép vào câu chuyện họ đã có sẵn trong đầu, thay vì nhìn cả quá trình và toàn bộ chứng cứ.

1 nghiên cứu theo dõi hơn 3.500 vụ trình báo tại Anh và xứ Wales cho thấy nhiều vụ việc không đi tiếp được vì chính người bị hại rút khỏi quá trình tố tụng. Nhưng lý do họ rút không đơn giản là vì câu chuyện ban đầu không có thật. Có người sợ bị luật sư bào chữa khai thác đời tư, lịch sử tình cảm, những chi tiết riêng tư trước tòa. Có người sợ bị trả thù. Có người kiệt sức vì vụ án kéo dài nhiều năm, mỗi lần làm việc với cơ quan tố tụng là 1 lần phải kể lại khoảnh khắc đau đớn đó.

Có người cần tiền để điều trị tâm lý, trang trải cuộc sống sau biến cố. Với họ, rời khỏi 1 vụ kiện không phải lúc nào cũng là bỏ cuộc. Đôi khi đó chỉ là 1 người đang cố tìm cách sống tiếp sau 1 chuyện mà họ không muốn nhớ lại thêm lần nào nữa.

Trong 1 vụ việc ở Mỹ liên quan đến 1 cầu thủ nổi tiếng, gia đình bị hại sau khi nhận khoản dàn xếp dân sự từng nói cảm giác của họ không giống người vừa thắng cuộc. Họ ví nó giống như 1 con vật bị xe cán trên đường. Họ không ăn mừng khoản tiền đó, chỉ muốn lên xe và rời khỏi thành phố ấy càng nhanh càng tốt.

Trong nhiều trường hợp, khoản tiền đến sau tổn thương chỉ là 1 phần trong quá trình 1 người cố giải quyết hậu quả, mà hậu quả đó đôi khi không bao giờ hết hẳn.